Nhà cầm quyền Hà Nội mất dạy!

Ảnh: Bé Bình   Phạm Minh Vũ|   Trong đợt dịch này, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện rất rõ là một chính phủ yếu kém và thất bại thảm hại. Trên nhiều khía cạnh, vấn đề có thể xử lý đơn giản là phân phối mặt hàng nông sản cho Bà con gặp trở ngại ngay tâm dịch, đem đi tiêu thụ mà cả hệ thống chính phủ không thể làm được.   Trong lúc đó, Nhân dân lại đùm bọc lẫn nhau, tự giúp nhau bằng các chuyến xe giải cứu hay bán giúp cho bà con vùng dịch.   Vừa qua, nông sản của bà con vùng dịch được Nhân dân kêu gọi và phân phối đi các tỉnh thành khác cũng vớt vát được một chút cho bà con nông dân.   Trong khi Nhân dân tự giúp nhau không thấy bóng dáng của chính quyền nào hỗ trợ. Mà ngược lại, Chính quyền phường Mai Dịch đưa công an đến tịch thu hàng nông sản, xé băng rôn tại điểm bán rau cải bẹ trong chương trình kêu gọi giải cứu nông sản giúp bà con xã Liên Mạc, Thanh Hà, Hải Dương, trên đường Trần Vỹ phường Mai Dịch- Hà Nội do nhóm lái xe chị Bé Bình đứng ra nhận bán rau giúp.   Các thành viên trong nhóm tự lập của chị Bé Bình ở Hà Nội đã chuyển nông sản dưới Hải Dương lên 4,5 tấn rau nhận bán giúp, thậm chí anh em chị tỉa từng cây, gọt từng tàu lá cho hết phần thối nhũn. Rồi xếp lại ngay ngắn để mời khách mua giúp.   2,5 tấn chuyển đi nơi khác, và 2 tấn rau chuyển tới đường Trần Vỹ được đóng vào các túi, mỗi túi 10kg. Chúng tôi đã bán hộ theo đúng giá bà con mong muốn là 30k/1 túi.   Trong khi bán hàng, anh chị em không quên việc đảm bảo đúng quy định phòng dịch của Chính phủ.   Vậy mà đoàn cán bộ phường Mai Dịch mắc dịch đã đến bắt cuộn bạt lại, công an giật xé băng rôn, tịch thu các túi rau chất lên xe tải. Cả đoàn kéo nhau đi, bỏ lại một đống rau tan nát, vương vãi trên vỉa hè. Ai chụp hình đều bị công an đập và tịch thu điện thoại.   Chưa bao giờ thấy một chính phủ nào tồi bại tới mức đã không giúp gì cho Dân nghèo lại còn cướp bóc, phá rối của người nghèo như chính phủ Việt Nam hiện nay.   Chính phủ Quản lý yếu kém, thất bại, gây cho dịch bệnh thêm nghiêm trọng, lãnh đạo toàn hứa xuông là 10 ngày hết dịch, dịch không hề thấy bớt mà lại thêm nghiêm trọng.   Nông dân đang mong chờ gỡ được chút nào hay chút đó, vậy mà chính quyền hành xử không khác bọn côn đồ đi cướp bóc, hành dân một cách đê tiện.   Bọn chính quyền Hà Nội là một bọn côn đồ mắc dịch.   Tôi lại nhớ câu nói của ông trọng: “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được như thế này không?”    
......

Dấu ấn Nguyễn Phú Trọng

Phạm Minh Vũ   Theo thông tin từ Luật sư biện hộ cho các nạn nhân Đồng Tâm thông báo, ngày tám tháng ba tới đây, Toà phúc thẩm Hà Nội sẽ đem 6 người kháng cáo ra xét xử.   Hai án tử hình, một chung thân là những bản án được dư luận đánh giá là tru di cả 3 đời nhà Cụ Kình.   Việc lùa quân về Đồng Tâm nổ súng giết hại cụ Kình, một lão thành cách mạng 58 tuổi đảng, bắt sống hàng chục người dân Đồng Tâm trong một vụ tranh chấp đất đai, được cụ Kình nói thẳng là hơn 1 tỷ đô la cho miếng đất Đồng Sênh đều có dấu ấn rất đậm của Nguyễn Phú Trọng. Hành vi đó đã sai cả về Pháp luật cũng như nhân tâm.   Trọng được Tô Lâm báo cáo là dân Đồng Tâm là quân phản loạn, vì sự nghiệp bảo vệ đảng, ông Trọng chấp thuận cho sĩ quan nổ súng sát hại Cụ Kình hòng răn đe những thế lực khác trong đảng đang có ý đồ ly khai. Tô Lâm, Xuân Phúc sẽ phân lô Đồng Sênh ra mà chia chác. Ngày hôm đó, Nguyễn Phú Trọng đem vụ Đồng Tâm ra xét xử, cũng là lúc đem cả cặp đôi Trịnh Xuân Thanh - Đinh La Thăng ra xét xử trong một vụ án sai phạm khác. Cặp đôi Thanh-Thăng được dư luận đánh giá như những con chó bị thằng trộm chó (anh cả 10b) lôi đi xoành xoạch, hết vụ án này sang vụ án khác, âu cũng nặng tính thanh trừng nội bộ đảng.   Có thể ông Trọng sắp xếp cho Thanh-Thăng xử cùng ngày với vụ Đồng Tâm để tản đi sự chú ý của dư luận quan tâm tới Đồng Tâm.   Nhưng, việc ông ta ngồi thêm một nhiệm kỳ bất chấp vi phạm điều lệ cũng như tạo tiền lệ xấu, cùng với việc đưa Nguyễn Hoà Bình, một tay sắt máu với dân vào Bộ chính trị. Đã cho thấy, ông Trọng quyết tâm tắm máu dân Đồng Tâm cho bằng được.   Trong khi đó, Trung cộng đang lăm le xâm chiếm Biển đông quấy phá các lô khai thác dầu khí của VN ông Trọng lại chỉ đạo bộ ngoại giao im tiếng. Vì trước đó Tập đã điện đàm dạy Trọng cách chống lại Mỹ trên biển đông, Trọng đã vâng lời.   Tắm máu đồng bào để xây dựng ngôi vị cho mình, mà lại hèn với giặc thì ông Trọng sống chỉ mang tiếng là hậu duệ Lê Chiêu Thống.   Sống vậy, nhục chứ sống làm chi?   Nên trả tự do cho người dân Đồng Tâm vô tội đi ông Trọng!   Đời người ai cũng sai, biết sửa sai là điều nên làm. Sửa sai, đó là điều tối thiểu của một con người có tư duy phải biết./    
......

Phiên tòa khó

  Đỗ Ngà     Dự kiến từ ngày 8 đến ngày 10/3 phiên tòa phúc thẩm vụ án Đồng Tâm sẽ được đưa ra xét xử. Ở Phiên sơ thẩm thì nhóm bị cáo đến 29 người, còn phiên phúc thẩm thì chỉ có 6 người. Vì sao vậy? Vì đơn giản kết thúc phiên sơ thẩm nếu bị cáo không kháng án thì sẽ không có phiên phúc thẩm. Chỉ có 6 bị cáo có án nặng nhất là kháng án còn lại thì có lẽ họ hài lòng với bản án sơ thẩm.   29 người mà 6 người có bản án nặng khác thường, điều đó cho thấy dường như chính quyền CS đã phân 29 bị cáo ra thành 2 nhóm đối tượng: nhóm thứ nhất, đối tượng bị cho là cầm đầu; nhóm thứ nhì là đối tượng làm theo. Theo nguyên tắc “đánh rắn phải đánh cho dập đầu” thì chính quyền CS họ sẽ xử rất nặng những người mà họ cho là “cầm đầu”. Thường thì kẻ tấn công mới bị liệt vào loại cầm đầu nhưng ở vụ án Đồng Tâm này thì kẻ tấn công lại là giám đốc công an thành phố Hà Nội - Nguyễn Hải Trung, ông ta là lưỡi kiếm sắt bén của đảng nên không thể liệt ông ta vào tội cầm đầu được mà tội đó chính quyền đổ lên đầu những người dân bị họ tấn công. Kẻ cầm đầu Nguyễn Hải Trung đã được ông Nguyễn Phú Trọng phong từ thiếu tướng lên trung tướng sau vụ thảm sát Đồng Tâm này. Quy tắc “tao là luật” nó như vậy. Ai bảo làm thường dân chi? Ráng chịu!   Tại các nước pháp quyền, khi nhân viên điều tra bắt bị can họ có nhiệm vụ thông báo “quyền im lặng” cho bị can để đảm bảo quyền lợi cho bị can, đồng thời luật ở xứ đó là cho bị can có quyền có luật sư ngay từ đầu để luật sư đại diện cho thân chủ đối phó với cơ quan điều tra trên cơ sở tôn trọng luật pháp và tránh thiệt thòi cho thân chủ. Đấy là các nước dân chủ, tuy nhiên ở Việt Nam thì khác, luật pháp quy định “quyền im lặng” nhưng không bao giờ cảnh sát điều tra tôn trọng nó. Nếu ai “ngoan cố” mà im lặng thì công an sẽ đem vào phòng kín đánh cho mở miệng khai ra. Tuy nhiên đôi khi họ đánh quá ác nên nạn nhân không những không mở miệng mà còn nhắm mắt vĩnh viễn. Nạn bị can bị giết trong khi bị tạm giam diễn ra rất phổ biến ở cái xứ có cái tên dài lê thê CHXHCNVN này.   Ở tại các nước dân chủ, quyền có luật sư ngay từ đầu là quyền cơ bản để trao cho bị can công cụ đối phó với những trò ép cung nhục hình của cơ quan điều tra. Tuy nhiên ở CHXHCNVN này thì chính quyền CS tước mất quyền đó của bị can. Họ trao cho cảnh sát điều tra cái quyền “cấp giấy phép bào chữa”, và khi nào có giấy phép thì luật sư mới được phép bảo vệ thân chủ. Chính cái trò làm luật gian trá này nó đã tạo ra khoảng trống thiếu vắng luật sư trong quá trình tố tụng theo ý muốn của cơ quan điều tra, chính lúc thiếu luật sư ấy, cảnh sát điều tra ra tay bức cung nhục hình để tạo ra một bản án sai lệch nhưng lại có thành tích phá án nhanh để lập thành tích. Vì vậy ở Việt Nam một khi ai bị công an bắt thì xem như người đó “ốm đòn” với họ. Phải nói với thứ quy định quái đản như thế, rất khó để có án “đúng người đúng tội” được. Đó là lý do tại sao án oan rất phổ biến ở Việt Nam.   Quay trở lại vụ án Đồng Tâm. Đây vốn là vụ án điểm, chính quyền CS muốn xử thật nặng để đè bẹp ý chí dân oan trên toàn quốc như: Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Vườn Rau Lộc Hưng vv... thì họ khó mà chịu lùi bước trước các luật sư bào chữa. Ngay như kẻ chủ mưu gây tội ác giết người mang xác về phanh thây như Nguyễn Hải Trung mà được thăng quân hàm lên trung tướng thì điều đó cũng có nghĩa cơ hội cho 6 bị cáo kia là rất hẹp. Còn nước còn tát, mong rằng 12 luật sư làm được điều thần kỳ để cứu họ. Mong rằng họ cãi sao cho tòa tuyên hủy án sơ thẩm điều tra lại. Như thế đã là kỳ tích. Mong các luật sư làm nên kỳ tích.   -Đỗ Ngà-   Tham khảo: https://vnexpress.net/sap-xet-xu-phuc-tham-vu-an-giet... https://www.nguoi-viet.com/.../dong-nai-lai-co-nguoi-bi.../  
......

Nỗi sợ hãi là xích xiềng của tự do

  Ls Luân Lê   Có nhiều người, bằng cách này hay cách khác, nói với tôi về một nỗi sợ mà họ thường trực đến mức tự đe doạ mình. Nỗi sợ hãi đến từ phía ngoài do sự mường tượng về các trấn áp bằng đủ cách thức khiến họ luôn do dự trước các vấn đề. Tôi đã nói nhiều lần về điều này. Và để ngắn gọn để giải thoát khỏi nỗi sợ ấy là mỗi người phải tự mình trưởng thành. Nỗi sợ hãi khiến những người trưởng thành trở thành bé mọn và mất đi khả năng tự chủ.   Nỗi sợ hại đã khiến cho các nô lệ không chỉ không cải thiện được chế độ nô lệ, nó còn làm cho họ lún sâu hơn vào các bi kịch ngày càng trầm trọng hơn. Nếu nỗi sợ hãi có thể giải quyết được vấn đề thì những nô lệ đã đứng vững với thân phận nô lệ của mình cho đến ngày nay và thế giới chẳng có thay đổi gì về mặt tổ chức xã hội.   Nói thêm về việc xuất bản những cuốn sách. Có những người tiếp nhận và nói một cách vô thức: cuốn này “nặng” lắm khi ngay chỉ mới đọc đến tiêu đề một cuốn sách được gửi tới bản thảo. Ý muốn nói tới mức độ bàn luận của nó là quá lớn (về phạm vi và hàm lượng) so với sự cấm đoán của chính quyền. Những tri thức nâng cao trí tuệ và phẩm chất con người nếu bị nhấn mạnh bằng trạng từ “nặng”, nó sẽ là thứ đè nặng lên số phận một dân tộc và khiến cho dân tộc ấy bị dìm xuống sâu hơn.   Nỗi sợ hãi đến từ bên trong, mặc dù nó được gây tác động từ phía ngoài vào bởi thực thể/đối tượng khác. Nhưng vì thế chỉ khi bản thân họ muốn và dùng khả năng nội tại của mình thì mới có thể thoát ra khỏi nỗi sợ hãi. Không có ai có thể làm cho họ hết sợ hãi ngoài chính bản thân họ thấy cần phải giải phóng mình khỏi xiềng xích của cảm trạng ấy.   Tự do đầu tiên luôn là tự do về mặt tâm lý của chính bản thân mình về nỗi sợ hãi. Tri thức luôn tự nó tìm thấy sức mạnh để khiến họ có thể chiến đấu với bất cứ thứ áp bức hay bất công nào khác. Nội tâm của chính mỗi chúng ta mới là trung tâm của sức mạnh về tự do. Không có thứ tự do nao được ban hát từ phía ngoài, nên chỉ khi trong chính họ thấu thẩm được tự do, tự họ sẽ thấy tự do là một phẩm chất tự thân nó tồn tại.   Mỗi người sẽ luôn đi vào sự nhận thức rằng, mất mát về những thứ hữu hình mới là mất mát quan trọng và thực tế hơn cả. Nhưng mất tự do mới là mất mát lớn nhất của con người. Tự do chính là nền tảng giá trị để quyết định một con người là con người. Nó chính là thứ để phân biệt chúng ta với các loài sinh vật trong tự nhiên, tự do của tinh thần dựa vào chủ động ý thức mới là phẩm chất của loài người, nơi đó lương tri (đạo đức) được nhận diện để định dạng chúng ta trước toàn thể.   Tự do khỏi nỗi sợ hãi đến từ đức tin nội tâm ngay trong bản thân mỗi người, nó sẽ được khơi dậy từ tính tôn giáo về một Đáng bề trên của từng cá thể. Mặc dù một kẻ không có đức tin về tôn giáo thì thường không biết sợ hãi, mà kẻ không biết sợ hãi thì không thể có tương lai.   Nhưng thoát khỏi nỗi sợ hãi là để làm chủ trước các phẩm chất của chính mình một cách có phạm vi, hoàn toàn không đồng nghĩa với kẻ không biết tới sợ hãi. Kẻ không biết sợ hãi là kẻ coi mình là bậc đứng ở vị trí cao nhất và vì thế sẽ không có điểm dừng về mức độ tàn ác khi hành động. Thoát khỏi nỗi sợ hãi là thoát khỏi sự bức áp từ kẻ tạo ra bất công để giành lấy lẽ công bình cho tất cả mà không ai được xâm phạm vào.  
......

Thấy gì từ hai cuộc bầu cử tại Miến Điện và Hoa Kỳ

BS Đặng Vũ Chấn Cả hai cùng xảy ra vào tháng 11/2020. Tại Miến Điện, bên thua cuộc, đảng của giới quân đội đang nắm thực quyền đằng sau Đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi, và muốn được chính danh cầm quyền qua cuộc bầu cử, không chấp nhận kết quả bầu cử, tố cáo đảng NLD gian lận trong bầu cử, và đã đâm đơn kiện khoảng 200 lần theo luật chơi trong Hiến Pháp nhưng không thành. Bên Mỹ, bên thua cuộc, vị tổng thống đương nhiệm, không chấp nhận kết quả bầu cử tại một số tiểu bang, đâm đơn kiện bên thắng gian lận, và tất cả các vụ kiện, trên 60 vụ, đều bị bác bỏ bởi Tòa Án tại các tiểu bang liên hệ cũng như Tối Cao Pháp Viện. Ngày 1 tháng Hai, 20121, rạng sáng trước khi Quốc Hội Miến Điện họp để chính thức xác nhận kết quả bầu cử, quân đội Miến Điện làm cuộc đảo chánh chính phủ dân sự, quản thúc lãnh đạo dân sự của Miến Điện là bà Aung San Suu Kyi và các thành viên trong Quốc Hội và ban hành thiết quân luật, tái lập chế độ quân phiệt. Tại Mỹ, ngày 6 tháng Giêng, nhiều ngàn người kéo về thủ đô Washington, D.C. theo lời kêu gọi của tổng thống đương nhiệm để biểu tình phản đối kết quả bầu cử và áp lực Quốc Hội không chuẩn nhận kết quả. Trong khi Quốc Hội đang tiến hành thủ tục xác nhận kết quả, một đám đông tấn công xâm nhập vào tòa nhà Quốc Hội Mỹ gây bạo loan. Sau khoảng 2 tiếng, Tổng Thống Trump kêu gọi người biểu tình không bạo động và ra về, và ngày hôm sau ông lên án hành vi bạo loạn trên và chấp thuận bảo đảm một cuộc chuyển quyền ôn hòa theo Hiến Pháp mặc dù vẫn quả quyết rằng mình thua vì đối phương gian lận. Bài học gì ta rút ra được từ hai nước trên để áp dụng trong việc canh tân nước Việt? ** Miến Điện chưa hoàn toàn là một chế độ dân chủ. Từ chế độ quân phiệt, dưới áp lực quốc tế và của Hoa Kỳ đánh thẳng vào quyền lợi kinh tế trực tiếp của giới cầm quyền quân đội (Đạo Luật Magnitsky sau này lấy ý từ lối đánh trên), phe quân phiệt đã phải nhượng bộ, chấp nhận một tiến trình dân chủ hóa nhưng vẫn chuẩn thuận một Hiến Pháp dành cho mình quyền tối hậu và tối thiểu 25% phe mình trong Quốc Hội. Bề mặt là một chính quyền dân sự do đảng NLD với bà Aung San Suu Kyi là lãnh đạo tối cao, mặc dù không chính danh làm tổng thống vì Hiến Pháp ngăn chặn người có người phối ngẫu là người ngoại quốc làm vai trò này. Trong kỳ bầu cử vừa qua, đảng NLD thắng lớn và có khả năng tu chính Hiến Pháp để làm giảm bớt quyền lực của phe quân đội. Độc tài thì luôn muốn nắm quyền lực bằng mọi giá, nên dẹp cuộc bầu cử bất lợi cho mình. Cho nên nếu một ngày nào đó, khi CSVN dưới nhiều áp lực phải nhượng bộ và muốn thỏa hiệp, chia cho phe quốc gia một số ghế quyền, phe quốc gia dân chủ phải luôn ghi nhớ kinh nghiệm thỏa hiệp với CS để đánh Pháp trong quá khứ để rồi bị đâm sau lưng, bán đứng, thanh toán tiêu trừ dần; và ghi nhớ bài học Miến Điện, rằng dân chủ không thể thực sự có được khi phe cầm quyền độc tài vẫn còn nắm thế thượng phong với đầy đủ công cụ trấn áp bạo lực là quân đội công an trong tay họ. Trong khi đó nước Mỹ có một nền dân chủ bền vững lâu đời, nên biến cố tấn công tòa nhà Quốc Hội mùng 6 tháng Giêng chỉ là cơn bão thoáng qua không làm suy suyển chế độ. Trước đó khi chỉ mới nghe phong phanh rằng bên Tòa Bạch Ốc trong tiến trình phản đối kết quả bầu cử, đang xem xét việc ban hành thiết quân luật hoặc có thể xử dụng quân đội với một tân quyền bộ trưởng quốc phòng rất thân cận với tổng thống, 10 cựu bộ trưởng quốc phòng đã lên tiếng chặn trước, khẳng định bầu cử đã xong, và là điều nguy hiểm nếu quân đội can thiệp vào chuyện bầu cử. Sau biến động 6 tháng Giêng, dư luận khắp nơi ở Mỹ và đại đa số dân cử hai đảng đều lên án việc tấn công vào tòa nhà biểu tượng của nền dân chủ Mỹ và ngay cả Tổng Thống Trump người đang phản đối kết quả bầu cử cũng phải lên án hành động bạo loạn trên. Các tướng lãnh trong bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff) cũng khẳng định quân đội chỉ trung thành với Hiến Pháp chứ không với cá nhân hay đảng phái nào. Từ trên, ta thấy rằng một cơ chế dân chủ với tam quyền phân lập và tự do báo chí chưa đủ để duy trì một nền dân chủ bền vững. Mà người dân cần phải có một trình độ ý thức và thói quen hành xử dân chủ cao. Từ đó mới có một quân đội như quân đội Mỹ, tuy rất kỷ luật dưới quyền của tổng tư lệnh tối cao là tổng thống nhưng không thể trung thành với tổng thống đương nhiệm hay đảng phái nào để tuân theo những lệnh có thể vi hiến bắt mình quay súng vào dân. Vì thế ở Mỹ, các quân nhân khi còn tại ngũ có truyền thống không tham gia đảng phái chính trị. Ta đã thấy tại các nước từ dân chủ chuyển sang độc tài  như Nga với Putin, Venezuela với Chavez và Maduro, v.v… những lãnh đạo ban đầu được dân tín nhiệm cao cỡ trên 80-90%, do đó dân cũng bầu cho quốc hội tuyệt đối cùng phe lãnh đạo, thì quốc hội sẽ dễ dàng tu chính Hiến Pháp nhằm củng cố quyền lực người lãnh đạo theo chiều hướng độc tài. Trong lúc dân còn mê hay tôn sùng người lãnh đạo thì chuyện mất dần dân chủ chỉ là chuyện nhỏ dễ dàng chấp nhận, cho đến một thời gian sau, khi tỉnh ngộ thì quá muộn, lại phải tranh đấu đòi dân chủ lại từ đầu! Trong khi đó, tại các nước dân chủ bền vững, hiếm có lãnh đạo nào được quá 60% dân ủng hộ. Luôn có một bộ phận lớn người dân bất đồng, sẵn sàng đối lập làm cái thắng chặn mọi xu hướng manh nha độc tài. Vậy làm thế nào để nâng cao trình độ dân chủ của người dân? 1/ Khi ta nghe một ý kiến trái nghịch với ta và ta giận ghét luôn người có ý kiến đó, ta tấn công chửi bới cá nhân người nghịch ý, thì điều này thể hiện một cái thâm tâm, có thể vô thức hay có ý thức, là ta muốn tiêu trừ người đối lập. Mầm mống độc tài nằm trong ta đó, ấy là ta vẫn chưa có quyền lực gì để mà say men. Cho nên để giảm thiểu cái mầm mống độc tài này, và cho chính ta khỏi tổn thọ mang trong mình cảm xúc tiêu cực giận ghét, ta cần nhắc nhau rằng những ý kiến đối chọi nhau là chuyện tự nhiên bình thường trong cuộc sống, thậm chí còn cần thiết, nhiều khi bổ túc cho nhau cho cuộc sống đa diện cân bằng hơn. Cảm nhận được như thế, ta sẽ có được một tầm nhìn đa nguyên và thấm thía hơn câu “quân tử bất đồng nhưng không bất hòa,” hay “đại nhân bàn cãi trên ý tưởng, tiểu nhân tranh cãi về cá nhân nhau khi có tranh luận.” Từ đó ta cùng nhau xây dựng một văn hóa Hoà Đồng tốt hơn. 2/ Các chế độ độc tài thường tuyên truyền sao cho người dân tôn thờ sùng bái lãnh tụ.  Hồ Chí Minh và ông, cha, con nhà họ Kim tại Triều Tiên là những ví dụ. Khi người dân tôn sùng lãnh tụ, người ta dễ nhắm mắt đặt trọn niềm tin của mình vào lãnh đạo và giao cho họ quyền lực tuyệt đối, hơn cả cha mẹ mình. Với một niềm tin gần như tôn giáo ấy, người ta dễ dàng chối bỏ, không muốn nghe hay thấy những điểm tiêu cực của “giáo chủ” mặc cho những bằng chứng hiển nhiên. Như thế độc tài được thêm củng cố. Cho nên ta cùng nhắc nhau không nên vì quá thích một nhân vật lãnh đạo nào mà thần tượng hóa họ quá mức để chỉ nhìn thấy toàn điểm hay, đẹp nơi họ, quên rằng họ chỉ là những con người, dù xuất chúng, nhưng vẫn luôn luôn có những điểm vừa hay và vừa dở tiêu cực về họ và nếu ta ủng hộ và theo họ, là vì những điểm hay của họ hợp với ta nhiều hơn mà thôi. Tại các xứ dân chủ, thần tượng hóa lãnh tụ sẽ khuyến khích họ độc tài, say quyền lực hơn. Và để giảm nguy cơ thần thánh hóa một người, ta nên giữ ngay từ đầu một tư duy phê phán, theo dõi những thông tin trái chiều nhau thay vì chỉ theo một luồng thông tin một chiều từ người lãnh đạo. 3/ Khuynh hướng tôn sùng lãnh tụ dễ xảy ra khi người ta không tự tin rằng mình có thể làm chủ lấy vận mạng của mình, cần phải nhờ một minh quân, đấng phi thường nào đó lo cho mình. Các chế độ độc tài luôn luôn tìm cách làm cho người dân cảm thấy mình bé nhỏ, cần được bao cấp bởi chính quyền như là cha mẹ dân. Một thời gian sau khi các chế độ CS Đông Âu sụp đổ, người dân vốn quen được nhà nước quyết định hết cho mình, đã hụt hẫng lúng túng thất vọng khi phải đứng trước nhiều chọn lựa do chính mình quyết định cho mình. Nên tại nhiều nước Đông Âu, trong cơ chế dân chủ mới, có một thời các đảng cộng sản hay hậu thân của nó đã được dân chọn trở lại một thời gian. Cho nên xây dựng một niềm tin vào chính nội lực của mình, vào khả năng mình có thể tạo thay đổi, làm chủ vận mạng mình phải là một trong những điểm then chốt trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. 4/ Quyền lực dễ làm người ta say ghiền.  Theo các nghiên cứu khoa học về tâm trí thần kinh, Tình, sex, Tiền, Danh Vọng, Quyền lực, các thuốc gây nghiện v.v… cùng tác động lên một trung khu hạt nhân thần kinh trong não bộ làm gia tăng tiết ra những hợp chất dẫn truyền thần kinh làm cho ta cảm thấy hoan lạc dễ ghiền. Cho nên ai mà ở vị trí quyền lực lâu nếu không có gì kềm chế, dễ say ghiền quyền lực không muốn buông bỏ. và sẽ tìm đủ mọi cách để giữ ghế giữ quyền. Các nhà lập quốc Mỹ đã vô cùng sáng suốt khi soạn Hiến Pháp giới hạn nhiệm kỳ tổng thống. Nhiều nhà độc tài vốn trước đó là những người đầy lý tưởng nhân bản, từng là anh hùng dân tộc, nhưng sau khi thành công nắm chính quyền rồi thì từ từ trở thành độc tài ác nhân là vì đã say quyền lực. Ví dụ nhà độc tài Robert Mugabe. Ông từng được coi là anh hùng dân tộc, lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng đất nước giờ có tên là Zimbabwe, Phi Châu, khỏi tay thực dân Anh và sự thống trị của người da trắng; sau khi được bầu lên nắm chính quyền năm 1980, ông đã tìm cách ngồi lì luôn ở đó trong bốn thập niên, bằng nhiều thủ đoạn từ bạo lực đến gian lận bầu cử trước khi bị đảo chính năm 2017. Cho nên những người đi đấu tranh cho dân chủ phải luôn nhắc nhở nhau về nguy cơ biến chất thành độc tài khi thành công nắm chính quyền, hành xử ngược lại với lý tưởng mình từng đeo đuổi. 5/ Khuynh hướng lạm dụng và bám chặt quyền lực nơi những người chiến thắng trong những cuộc đấu tranh cách mạng thường phát xuất từ tâm lý rằng mình đã hy sinh công sức chịu khổ sở nhiều nên bây giờ mình phải được hưởng những đền bù, đối xử đặc biệt hơn ngươi thường. Từ đó dễ có khuynh hướng ngồi trên luật pháp.Đây cũn g là tâm lý của người có quyền lực dễ tin rằng mình hơn người thường nên có những đặc ân đặc quyền mà luật pháp không thể áp dụng cho mình. Cho nên để giảm thiểu sự lạm dụng trên, cần phải có một nền tự do báo chí vững chắc để có thể nhạy bén la làng kịp thời những hiện tượng ngồi trên pháp luật và hành vi sai trái mà không sợ bị trù dập. Và rất cần một nền tư pháp thật sự độc lập với chính quyền, phân xử công minh việc có tội hay không, sau đó mới xét đến công và tội trong việc áp dụng hình phạt. Trên đây là những điểm lý thuyết căn bản để dọn đường cho có một nền dân chủ bền vững. Vậy thực hành ra sao?  Ở đây người viết chỉ muốn chia sẻ những gì mà anh chị em trong Đảng Việt Tân cùng người viết đang cố gắng thực tập để áp dụng những điều trên: – Chúng tôi luôn nhắc nhở nhau về một văn hóa Hoà Đồng của Việt Tân, thực tập tranh luận trong tương kính, tôn trọng những dị biệt của nhau để đồng tâm phục vụ lý tưởng chung. – Chúng tôi không tôn thờ sùng bái thần thánh hóa lãnh tụ. Chúng tôi kính trọng và cảm phục quý chiến hữu lãnh đạo tiên phong, noi theo gương can đảm, dấn thân và hòa mình đồng cam cộng khổ cùng anh em cấp dưới, đi theo truyền thống tốt đẹp mà họ đã đặt nền tảng cho tổ chức, nhưng chúng tôi không ngại khách quan phân tích những điều đã làm họ thất bại. – Chúng tôi đặc biệt chủ trương dựa vào nội lực của dân tộc là chính, không chủ trương chiến đấu đơn độc nhưng không ngại phải chiến đấu đơn độc và luôn nhắc nhở nhau lấy sức mình là chính, xây dựng niềm tin vào chính mình để tạo thay đổi thay vì chờ đợi trông cậy vào người ngoài. – Chúng tôi luôn nhắc nhở nhau rằng mục đích của cuộc đấu tranh không phải là nắm chính quyền bằng mọi giá, mà Việt Tân luôn luôn phục vụ đất nước và dân tộc dù ở trong hay ngoài chính quyền. – Chúng tôi nhắc nhở nhau ta đi vào đấu tranh không phải để hy sinh. Nghĩ mình đang hy sinh tức chịu thiệt, thì khó mà đi đường dài, vì sẽ dễ mỏi mệt và trở nên cay đắng bỏ cuộc hoặc khi thành công thì tự cho mình quyền được đền bù. Đi vào đấu tranh là để tìm hạnh phúc cho người và cho chính mình. Cái hạnh phúc mình có được là tình chiến hữu, là được bao bọc chung quanh với những người cùng lý tưởng, là thấy cuộc sống mình có ý nghĩa hơn, là thấy rằng mình đã càng ngày càng thăng tiến khi làm được những điều mà mình không ngờ mình có thể làm được khi đứng ngoài tổ chức, là một người bình thường như mình khi chung tay cùng nhiều người bình thường khác, những chiến hữu của mình, lại có thể làm điều phi thường, v.v… – Chúng tôi đã quen dần với những chỉ trích, đánh phá từ một số dư luận từ trước đến nay, nên không cảm thấy thôi thúc phải loại trừ những dư luận trái chiều với mình, mà coi đó là cơ hội để mình rà soát lại chính mình xem các dư luận đó có xây dựng gì cho mình hay không. Tóm lại từ những bài học rút tỉa từ hai cuộc bầu cử tại Miến Điện và Hoa Kỳ, ta thấy rằng dân chủ không phải là tự nhiên mà có. Đây là một tiến trình sinh động đòi hỏi nhiều công sức và chuẩn bị, vì ngoài việc gỡ bỏ độc tài, ta cần xây dựng và duy trì một nền dân chủ bền vững. Dân chủ không phải là một chế độ toàn hảo bất biến, nó bền vững vì cho người dân có thể linh động điều chỉnh theo thời thế để vượt qua mọi thăng trầm ngả nghiêng chính sự. Đó là điều kiện cho một tiến trình canh tân miên viễn. BS Đặng Vũ Chấn https://viettan.org/thay-gi-tu-hai-cuoc-bau-cu-tai-mien-dien-va-hoa-ky/  
......

Đụng nhầm thế hệ rồi

  Luân Lê|   Đất nước Myanmar đang diễn ra những ngày cách mạng thực sự, giữa hai thực thể - nhân dân và chính quyền quân đội.   Người dân, có nhiều thành phần và lên tới hàng trăm nghìn, đã xuống đường biểu tình ngày 22/2/2021, đặc biệt là sau cái chết của một cô gái mới chỉ 20 tuổi bị bắn vào đầu.   Làn sóng phẫn nộ tiếp tục dâng cao và nó cho thấy sức mạnh của họ không phải để đàn áp, mà là để trả lại quyền lực cho họ. Càng sử dụng bạo lực, nó càng thách thức sự căm phẫn của người dân.   Một bạn trẻ trong số những thanh niên xuống đường đã viết tấm bảng với dòng chữ: đụng nhầm thế hệ rồi. Trong dòng người khổng lồ cuồn cuộn ấy là đông đảo các thành phần của dân chúng: sinh viên, công nhân, trí thức và những quần chúng khác. Đây là thời điểm đã khó có thể đạt được mục đích chiếm lĩnh chính quyền bằng bạo lực như vào những năm 1980 của thế kỷ trước.   Bà Aung San Suu Kyi vẫn là một lãnh tụ tinh thần quan trọng đối với hầu hết người dân nơi đây. Họ yêu cầu phải thả bà ra ngay lập tức. Một số quốc gia và thiết chế quốc tế khác cũng đã lên án hành động đảo chính của quân đội Myanmar và cũng yêu cầu phải thả bà Aung ra như một đòi hỏi bắt buộc.   Điều quan trọng khác không kém đó là người dân Myanmar tập trung biểu tình trước Lãnh sự quán Trung Quốc để phản đối “sự can thiệp và hậu thuẫn” của chế độ này với quân đội đang nắm quyền sau cuộc đảo chính.   Đụng nhầm thế hệ rồi. Dòng chữ được trưng lên giữa lòng đất nước Myanmar. Nó cho thấy họ quá xứng đáng với vị thế làm chủ của mình và nền dân chủ sẽ sớm quay trở lại với nhân dân xứ này. Và đúng là họ thực sự xứng đáng với những giá trị ấy, vì họ hành động với bổn phận và sự quả cảm quyết liệt của mình trước bạo quyền đang hoành hành.   Nach Militärputsch EU beschließt Sanktionen gegen Myanmar https://www.tagesschau.de/ausland/asien/myanmar-proteste-137.html?fbclid=IwAR3GjLbzTjOgoNg3P1Vz15UnDstrvqhaJW3oZYn0yZ1QBQBRiJZF3RM0ji8
......

Khoảnh khắc "hốt hoảng" duy nhất của bà Merkel

Vu Kim Hanh   Hãng tin Reuters ngày 20-2 đưa lên Twitter một đoạn video ghi lại khoảnh khắc Thủ tướng Đức Angela Merkel "hốt hoảng" khi bà nhận ra đã bỏ quên khẩu trang trên bục phát biểu của Quốc hội.   Sau bài phát biểu dài 22 phút tại đây, bà quay lại ghế ngồi, được một lát thì nhớ ra rằng đã bỏ quên khẩu trang trên bục. Bà Merkel liền giơ hai tay lên cho thấy sự "hốt hoảng" để “xin” quay lại bục phát biểu lấy chiếc khẩu trang.   Bài phát biểu của bà nhằm bảo vệ việc kéo dài lệnh phong tỏa khắt khe tại Đức tới ngày 7-3. Thủ tướng Merkel thừa nhận những khó khăn do lệnh phong tỏa mang lại, nhưng cương quyết kiểm soát dịch: "Chúng ta không được để làn sóng dịch mới thắng thế. Chúng ta phải làm mọi thứ có thể để kiểm soát. Chúng ta phải kiên nhẫn và bền bỉ".   Vì sao bà hoảng hốt? Đơn giản là bà biết sợ dân, biết sợ làm ngược những gì chính phủ buộc dân phải làm.   Bà Merkel không phải là không cứng rắn trong những lúc cần "đối đầu" với những lãnh tụ các nước mạnh. Nhớ lại, bà từng có bài phát biểu cứng rắn tại Quốc hội Đức vào ngày 29/6/2017. Trong bài phát biểu này, bà đã phê phán đối với cách làm “nước Mỹ trước hết” (America First) của ông Donald Trump, cho rằng: “Nếu có ai cho rằng các vấn đề của thế giới này có thể thông qua chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa cô lập để giải quyết thì người đó rõ ràng có một sự hiểu lầm to lớn”.   Dư luận khen ngợi bà về thái độ có trách nhiệm và “thương tôn pháp luật” khi tỏ ra hốt hoảng vì bỏ quên khẩu trang (sẽ không có để sử dụng những phút kế tiếp). Một nghị sĩ Nghị viện châu Âu Sean Kelly viết trên Twitter: "Có thể đây là lần duy nhất bà ấy hốt hoảng trong thời gian làm thủ tướng Đức!".   Phản xạ tự nhiên, biết hoảng sợ khi mình (có thể) vi phạm qui định chung dành cho toàn dân, ví dụ phải đeo khẩu trang, cho thấy nhận thức và hành động có trách nhiệm của lãnh tụ.   Đáng tiếc là vẫn còn có những lãnh đạo coi thường các qui định, luật pháp, hiến pháp, ngay những việc thông thường nhất. Luật pháp không có những "biệt lệ" dành cho người đặc biệt, nhất là các qui định chống dịch Covid. Xem thường các qui định không chỉ làm xấu hình ảnh của riêng mình, mà còn tổn hại uy tín lãnh đạo và đất nước.   #AngelaMerkel #nguyễnphútrọng https://www.facebook.com/ijavn.org/videos/1320450284985052  
......

Đôi lời về Ô Tô Vinfast

  Nhím Xinh   Tôi không rõ anh Vượng định làm gì khi một lúc anh tham gia vào 2 thị trường kinh doanh khủng khiếp nhất thế giới là Điện thoại di động và Ô tô.   Tôi nói luôn, quan điểm của tôi đó là anh Vượng rất giỏi trong việc thâu tóm đất đai, xây lô, bán nền xây chung cư nhờ tài đi đêm của mình. Trong lĩnh vực BĐS VN anh là số 1 bởi đơn giản anh độc quyền. Còn điện thoại hay ô tô là một câu chuyện hoàn toàn khác. Bởi tôi có một niềm tin mạnh mẽ rằng: “Thế giới họ ko làm được, thì VN một đất nước zero về công nghệ và khoa học càng không bao giờ làm được”.   Thị trường ô tô hay điện thoại di động giờ đây đã trở nên quá bão hoà và là sự độc chiếm của những ông lớn trên thế giới chia miếng bánh với nhau. Trong lĩnh vực ô tô từ phân khúc thấp cấp, trung cấp, cao cấp đều đã có sự xuất hiện của Toyota, Huyndai, hay BMW và Mer; điện thoại di động thì Xiaomi, Huawei rồi SamSung, Apple.   Giầu có, vĩ đại như Microsoft ti toe nhảy vào làm điện thoại chết sặc máu. Một anh đại cỡ lớn như Sony cũng vừa tuyên bố không làm điện thoại nữa (vì ko cạnh tranh lại nổi với TQ, HQ). Vậy anh Vượng nghĩ mình nhiều tiền hơn Microsoft và VN có trình độ công nghệ cao hơn Mỹ??   Ngành ô tô còn khủng khiếp hơn, GM là công ty ô tô trong lịch sử đã từng đứng hạng top thế giới của Mỹ; nhưng giờ đây do không chịu cải tiến đã ko thể cạnh tranh nổi với ô tô của Nhật hay Hàn Quốc. Hậu quả chính phủ Mỹ tung hàng chục tỷ USD ra để cứu nhưng đến giờ vẫn không ăn thua, GM vẫn sống ngắc ngoải trông chờ bầu sữa của chính phủ.   Malaysia cách đây mấy chục năm tự hào tuyên bố về thương hiệu ô tô Proton với tỉ lệ nội địa hoá gần 70% (tức Made in Malaysia tới 70%) mà giờ đây chính phủ đang mỗi năm bỏ tới 3,4 tỉ USD để nuôi báo cô. Nên nhớ nền công nghiệp Malaysia phát triển gấp vài chục lần VN thì họ mới có khả năng tự nội địa hoá sản phẩm của mình tới tỉ lệ 70%. Không phải như cái xe của anh Vượng đặt hàng nguyên con của nước ngoài rồi gắn cái mác của mình vào rồi hô hào tự hào Việt Nam.   Nếu sản xuất ô tô chỉ là đi đặt hàng, rồi mua công nghệ thì quá đơn giản chắc ô tô TQ bá chủ thế giới từ lâu rồi (vì ai nhiều tiền bằng TQ???). Nhưng vấn đề đơn giản không chỉ là mua công nghệ, bởi nếu chỉ đặt hàng mua công nghệ thì họ chỉ bán cho anh cái sản phẩm đã hoàn thiện, chứ đâu có bán cho anh cách sản xuất cái công nghệ đó? Giống như bạn bỏ tiền mua phần mềm Windows, chứ có mua được mã nguồn của Windows để viết ra một cái Windows mới đâu?   Nhà sản xuất tư bản nước ngoài nó không ngu để bán công nghệ cho người khác (nếu có bán, chỉ là bán những công nghệ lỗi thời lạc hậu mà thôi). Dĩ nhiên, khi đã không tự sản xuất được mà phải nhập ngoại thì giá thành sản phẩm sẽ bị đẩy cao lên, dẫn đến đắt hơn giá trị thật và không có tính cạnh tranh. Bởi thế, muốn phát triển ô tô các nước như Nhật, Hàn, TQ đều phải phát triển từ cái gốc đi lên ấy là từ công nghệ luyện kim, cơ khí để tạo ra được khung, gầm, ô tô đạt tiêu chuẩn chất lượng. Sau đó dần dần mới tiến đến những thứ xa hơn như thiết kế và chế tạo động cơ.   Chả có quốc gia nào không làm nổi cái xe đạp lại có khả năng chế tạo ra cái ô tô cả? Mọi người liệu có biết rằng trước khi trở thành cường quốc ô tô của thế giới thì Hàn với Nhật Bản là cường quốc luyện kim, chế tạo máy của thế giới không? Có biết rằng trước khi thành công với ô tô họ đã trải qua một thời gian dài làm những vật dụng gia đình như ti vi, máy lạnh, tủ giặt (để có kinh nghiệm và trình độ về công nghiệp chế tạo máy).   Không những chỉ là chế tạo và nội địa hoá mà muốn thành công thì anh phải tối ưu dây chuyền sản xuất của mình làm sao để tạo ra sản phẩm mà giá thành lại phải rẻ hơn hẳn các hãng khác. Đây chính là lí do vì sao mà nhiều nước có nền công nghiệp nặng trình độ cao như Nga mà ngành công nghiệp ô tô của họ chết ngỏm củ tỏi. Người Nga thừa sức tạo ra những miếng thép, cái ốc vít, động cơ để lắp vào phi thuyền, phóng lên trên vũ trụ khiến cả thế giới ngưỡng mộ. Nhưng do không có kinh nghiệm tối ưu hoá cho nên sản phẩm họ làm ra không có tính kinh tế để cạnh tranh với xe Nhật, Hàn.   Anh Vượng nếu tuyên bố mở nhà máy chế tạo luyện kim, gang thép chất lượng cao để cung cấp phụ kiện ô tô đạt chuẩn quốc tế cho Toyota hay BMW thì tôi tin. Chứ anh chém gió bảo sản xuất ô tô để cạnh tranh ngang hàng với Toyota hay BMW thì không bao giờ. Bởi nên nhớ để duy trì được một dây chuyền sản xuất ô tô hoạt động có lãi thì mỗi năm dây chuyền đó phải sản xuất ra khoảng 300.000 chiếc ô tô. Nếu sản xuất thấp hơn con số này thì càng hoạt động càng duy trì sẽ càng lỗ. Anh Vượng liệu có đủ khả năng đá đít Toyota ra khỏi thị trường VN để đạt được con số này không? Anh Vượng nhiều tiền thì cũng chỉ 4,5 tỉ USD nhất Việt Nam này thôi, chứ so với thế giới là cái deck gì?, liệu anh đủ tiền duy trì bù lỗ như chính phủ Mỹ bơm cho GM không?   Tất nhiên, cái mà tôi lo lắng không phải việc anh Vượng có thành công với cái ô tô của mình hay không? Mà vấn đề ở đây đó là có nhiều kẻ bơm thổi cái ô tô đồ chơi của anh Vượng trở thành thương hiệu quốc gia, rồi khi nó làm ăn thua lỗ (như các quốc gia khác) lúc đó chính phủ sẽ phải bỏ tiền thuế của dân ra để duy trì và nuôi báo cô (có thể không phải dưới dạng tiền mặt, mà bằng các hình thức khác như: ưu đãi thuế, rót vốn, thu hồi thêm đất vàng để bán...). À mà quên, kể cả trường hợp dự án ô tô này bết bát, thì anh Vượng vẫn còn trong tay hơn 300 ha đất tại Cát Hải - Hải Phòng, chuyển đổi mục đích sử dụng sẽ là cả một đống của. Nên nhớ, Vinashin diễn ra gần chục năm mới mất 4 tỉ USD, còn mỗi năm để duy trì một cái “thương hiệu quốc gia” như của anh Vượng cũng tốn hàng tỉ USD. Các bạn hô tự hào Việt Nam lúc đó liệu xem có sẵn sàng bỏ tiền túi của mình ra để nuôi cái của nợ ấy không?    
......

Tự bạch của cựu đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang.

Đinh Văn Hải   Đôi điều bộc bạch khi nhận “Quyết định xoá tên”   Đăng bởi: đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang, ngày 3 tháng 2, 2020 trên trang cá nhân.   Thằng con trai 46 tuổi của tôi hồ hởi báo tin: “Nhà mình hôm nay có tin vui. Bố phải thông báo cho tất cả anh chị em nội ngoại và bạn bè thân thiết biết để mọi người mừng cho bố. Có lẽ bố phải mở tiệc chiêu đãi cả nhà để đánh dấu sự kiện này”. Nói đoạn, nó mở bì thư, trịnh trọng đọc quyết định của Quận ủy Cầu Giấy v/v xóa tên tôi khỏi danh sách đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) “do đã vi phạm quy định chuyển sinh hoạt Đảng”.   Tôi quyết định “thoái Đảng” (tức lẳng lặng bỏ Đảng, không chuyển sinh hoạt Đảng) từ giữa năm 2003 ngay sau khi nhận quyết định nghỉ hưu. Ngày 3/2/2020 này, tôi đã “thoái Đảng” được suýt soát 17 năm. Còn trong thực tế, xin tiết lộ điều “bí mật” sau đây:   Ngay khi còn đang phục vụ trong lực lượng vũ trang, tôi đã âm thầm “khai trừ Đảng khỏi lòng tôi” rồi. Tôi đã thực hiện điều này trong lặng lẽ, tức chỉ có tôi biết. Chính xác việc trên là từ khi nào, tôi không nhớ rõ, chỉ biết nó bắt đầu ngay sau khi nhận ra mình đặt lòng tin nhầm chỗ. Mãi sau này, khi chính thức “thoái Đảng”, tôi mới biết là đã có rất nhiều đảng viên ĐCSVN cũng hành động giống tôi, nghĩa là âm thầm “khai trừ Đảng trong lòng” khi còn tại chức, không đợi sau khi nghỉ hưu mới “thoái Đảng”. Công bằng mà nói, lý tưởng cộng sản đã từng một thời là khao khát và ước vọng của biết bao thế hệ trẻ. Trong thập kỷ 1960’s và 1970’s, lý tưởng cộng sản đã thôi thúc hàng triệu thanh niên trai tráng, trong đó có tôi, tự nguyện viết đơn xin đứng trong hàng ngũ ĐCSVN. Hồi tưởng lại, niềm tin vào lý tưởng cộng sản thật là trong sáng, nó đã không chỉ lay động trái tim tôi, mà còn sưởi ấm tâm hồn tôi. Chẳng thế mà Milovan Djilas (1911-1995) cố Chủ tịch Quốc Hội Liên bang Nam Tư, cố Uỷ viên BCT Đảng Cộng sản Liên bang Nam Tư, đã để lại một câu bất hủ cho hậu thế: “20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim. 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”.   Vì thế, lòng tin vào lý tưởng cộng sản trong tôi phai nhạt dần, cho đến đầu thập niên 1990’s thì nguội lạnh và lịm tắt hẳn. Tôi thực sự đã mất hết lòng tin vào ĐCSVN, vào chủ thuyết Marx-Lenine, vào CNXH và CNCS, và cả vào cái gọi là “Đỉnh cao trí tuệ” nữa.   Tôi “thoái Đảng” vào thời điểm hiện tượng trên còn hãn hữu, nhưng đến nay nó đã trở nên phổ biến. Các đảng viên ĐCSVN, khi nhận quyết định nghỉ hưu, thường họ không chuyển giấy sinh hoạt cho các đảng bộ địa phương, mà lặng lẽ cất kỹ dưới đáy tủ như kỷ niệm của “một thời đáng quên”. Họ lặng lẽ, âm thầm thực hiện hành động đó, không ồn ào và công khai với bất cứ ai, trừ khi là bạn rất thân của nhau. Đến nay, đã bao nhiêu đảng viên cộng sản chọn cách này để “tạm biệt” Đảng, không một ai có thể biết chính xác, bởi Đảng giấu rất kỹ. Nhưng theo nhiều người dự đoán, con số này ước khoảng 45%! Số còn lại, mang tiếng là “vẫn yêu Đảng”, nhưng thực tế đa số họ đã “chán Đảng”, họ miễn cưỡng phải tiếp tục ở lại sinh hoạt vì nhiều lý do khác nhau, trong đó phải kể đến lý do hàng đầu là sợ liên lụy đến con cháu, tiếp đến là sợ ảnh hưởng đến “sổ hưu”, tức kế sinh nhai hàng ngày của họ.   Vậy phong trào “thoái Đảng” do đâu mà có? Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi có thể khẳng định nó bắt đầu từ lòng tin (vào ĐCSVN) bị giảm sút, đến chỗ hồ nghi sự lãnh đạo của Đảng, và cuối cùng là mất sạch lòng tin vào Đảng. Thế là bệnh “chán Đảng”, như một hệ lụy tất yếu, nó xuất hiện trong sâu thẳm tâm can rất nhiều đảng viên. Bệnh “chán Đảng” nhanh chóng trở thành phong trào “thoái Đảng”. Căn bệnh này lây lan rất nhanh, song nó không gây nguy hiểm cho đất nước và xã hội, nhưng lại rất nguy hiểm cho đảng cầm quyền. Xét về khía cạnh luật pháp hay đạo đức, nó không vi phạm điều khoản nào trong mọi văn bản quy phạm pháp luật, vì vậy nó không thể bị quy kết là “có tội”. Lượng tích tụ lâu dần, từ ngày này qua tháng khác, sẽ biến thành chất. Đây là một quy luật tất yếu, không một ai có thể ngăn cản nổi.   ***   Đến đây có thể có người đặt câu hỏi: Do đâu mà tôi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách logic và biện chứng như vậy? Vâng, đơn giản từ chỗ giảm sút niềm tin, tới chỗ mất hết lòng tin vào ĐCSVN, rồi sớm vướng phải căn bệnh “chán Đảng” để cuối cùng đi đến quyết định “thoái Đảng”, trong vòng có vài năm! Trước khi trả lời câu hỏi trên, xin khẳng định ngay tôi chưa một lần bị kỷ luật về Đảng hoặc về chính quyền. Hà Nội, ngày 3/2/2020. N.Đ.Q      
......

Ông Trương Vĩnh Trọng và những kẻ… khóc mướn

Ông Trương Vĩnh Trọng phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn xúc tiến đầu tư Tây nguyên. Ảnh: Ca Hảo/ báo Hà Tĩnh Thu Hà | Như thành thông lệ, ở đất nước Việt Nam XHCN này, mỗi khi có một cựu lãnh đạo hay quan chức cấp cao chết, những tay bồi bút sẽ tha hồ đăng đàn thương vay khóc mướn. Báo Đảng, với những cây bút “quốc doanh” sẽ cố tìm ra những tiểu tiết mang biểu hiện một chút tốt của người chết để ngợi ca. Nào là ông nọ là một quan thanh liêm, ông kia là một ông quan hiền lành, sống khép kín, không phô trương, không tham nhũng (hoặc tham nhũng kín đáo), ít để lại điều tiếng thị phi. Rồi nào là “tận trung với đảng, tận hiếu với dân”, “một đời vì dân, vì nước”… Mọi chuyện có thật như thế không? Xin nói ngay là không bao giờ. Trong nhà nước cộng sản, tìm ra một vị quan “yêu nước, thương dân” khác gì hái sao trên trời. Bởi vì thể chế độc tài đảng trị, với guồng máy “tập trung dân chủ”, kiên định với chủ nghĩa Mác Lê, nên không ai dám làm ngược lại, mà làm đúng ý đảng thì làm gì “vì dân, vì nước” cho được? Có thể có quan chức này kia, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, nhưng cũng chỉ dừng lại ở “đổi mới tư duy” trong điều hành kinh tế mà thôi. Còn dám đề xuất thay đổi những trật tự cũ, làm điều gì to tát cho tương lai dân tộc, dám chống lại những thế lực cường quyền, hiếp đáp dân lành (đang hiện hữu hay trong bóng tối) bất kể sự nguy hiểm tính mạng của mình, thì không hề có. Trong chốn quan trường Việt Nam hiện nay, chỉ tồn tại những phe nhóm “dây mơ rễ má”, nhóm lợi ích câu kết với nhau, rút ruột ngân sách, o ép và cưỡng chế dân để vơ vét làm giàu, sống phè phởn như ông hoàng, bà chúa. Họ im lặng trước bất công xã hội hoặc đồng lõa với tội ác, hèn nhát co cụm, hoặc núp trong bóng tối chờ về hưu, chứ chẳng có gì xứng đáng để ngợi ca. Nguyễn Bá Thanh (1953-2015), được xem là “lưu manh chính trị”, kẻ gây ra vụ đàn áp Cồn Dầu đẫm máu, câu kết với Vũ “nhôm” lấp sông, lấp biển, phân lô cả bán đảo Sơn Trà, thu tóm đất đai của dân, bán sạch công sản để làm giàu, đẩy mấy chục “đồ đệ” cán bộ chủ chốt Đà Nẵng vào vòng lao lý… Tội lỗi ngút trời như thế, vậy mà ngày 16/2/2015, Tô Huy Rứa đọc điếu văn truy điệu Nguyễn Bá Thanh, có đoạn: “Đồng chí Nguyễn Bá Thanh tham gia cách mạng từ nhỏ, là một người tài năng, trí tuệ, dám nghĩ dám làm. Đồng chí đã dành trọn cả cuộc đời mình cống hiến cho cách mạng và sự phát triển đất nước…(sic) trên bất kỳ cương vị nào, kể cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, đồng chí cũng luôn thể hiện ý chí kiên trung của người Đảng viên, không ngại khó, không ngại khổ, hết lòng vì dân, vì nước”. Tô Huy Rứa tại tang lễ Nguyễn Bá Thanh (trên) và Nguyễn Phú Trọng tại tang lễ Trần Đại Quang (dưới). Ảnh: Zing/ internet Trần Đại Quang, trùm “bảo kê thượng tầng” khi chết vẫn hưởng quy chế quốc tang. Sáng 27/9/2018, ông Nguyễn Phú Trọng đọc điếu văn tại lễ truy điệu Trần Đại Quang có đoạn: “Đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, gương mẫu và giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, thương yêu đồng chí, đồng bào; thực sự cầu thị, khiêm tốn học hỏi, trân trọng lắng nghe, tiếp thu các ý kiến đóng góp; luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, được đồng chí, đồng bào quý mến, bạn bè quốc tế trân trọng“. Ông Trương Vĩnh Trọng, người mà nắp quan tài vừa đóng lại trưa nay 22/2/2021 cũng không ngoại lệ. Ông Vĩnh Trọng từng kinh qua các chức vụ: Trưởng ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, Trưởng ban Nội chính Trung ương, vào Bộ Chính trị khoá X, được bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ và về hưu năm 2011. Suốt nhiều ngày qua, báo chí “lề đảng” đã hát bài tụng ca, ca ngợi công đức và nhân cách ông lên tận mây xanh. Ông là người trực tiếp theo dõi, chỉ đạo giải quyết những đại án “nổi đình nổi đám” một thời như Eco – Minh Phụng, PMU 18… Dư luận cho rằng, có thể ông còn chút tư cách, thanh liêm và bình dị. Nhưng nếu cho rằng ông là quan chức có “bàn tay sạch”, một ông quan anh minh, sao ông không can thiệp để xem xét đơn kêu cứu của Minh Phụng và anh ta đã phải bị tử hình oan ức vì cơ chế kinh tế mập mờ sinh ra tội danh hư ảo. Trong khi đó, cùng phạm tội như nhau, nhưng “hạt giống đỏ” Lê Văn Kiểm thì được “khoanh nợ” và được giải cứu. Trong vụ án PMU 18, khi báo chí phanh phui, dám đụng đến con rể Nông Đức Mạnh và nhiều quan chức cao cấp, cùng thế lực bảo kê cường quyền, đã phải trả một cái giá rất đắt. Nhiều nhà báo bị khởi tố bắt giam, lãnh án, bị thu hồi thẻ nhà báo, thậm chí những Tổng Biên tập “vua biết mặt, chúa biết tên” như Nguyễn Công Khế, Lê Hoàng… đều bị mất chức. Lúc ấy ông Trương Vĩnh Trọng có đủ dũng khí ra mặt để bảo vệ công bằng và lẽ phải không? Còn một câu chuyện nữa. Năm 2009, dư luận cả nước rầm rộ phản đối dự án bô xít Tây Nguyên. Cựu Uỷ viên BCT, tướng Đồng Sỹ Nguyên cũng phản đối, tướng Võ Nguyên Giáp cũng viết 3 bức thư can gián, gửi Ban Chấp hành Trung ương đảng, Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ Chỉ riêng trang mạng Bauxite Việt Nam, đã thu thập được hàng ngàn chữ ký phản đối của trí thức trong và ngoài nước. Sự phản đối đồng loạt, rầm rộ, cuốn hút, quyết liệt, căng thẳng đến mức buộc Quốc hội và Bộ Chính trị “lắng nghe, tiếp thu”… Vậy mà trong chuyến viếng thăm Ban Mê Thuột, Đắk Lắk vào ngày 5/9/2009, ở một diễn đàn, ông Trương Vĩnh Trọng đã khẳng định rằng việc “Khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là đúng đắn và đang gặp thuận lợi”. Thói đời là vậy. Nếu như Đinh La Thăng hay Nguyễn Bắc Son, Bùi Văn Thành, Nguyễn Văn Hiến, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Văn Bình… “may mắn” từ trần trước khi bị khởi tố, bị kỷ luật, chắc chắn cũng sẽ được hệ thống tuyên truyền khổng lồ của đảng CSVN dành cho những lời ngợi ca có cánh, về tinh thần “tận trung với đảng, yêu nước, thương dân, một đời thanh bạch…” Nhiều trí thức viết trên trang cá nhân của mình, bóng gió cho rằng, báo chí và truyền thông của Đảng đã đánh lừa dân chúng. Những cây bút “nâng bi” đã mài đi, mài lại chi tiết con trai ông Trương Vĩnh Trọng không làm quan, còn cô con gái chỉ có tiệm… bánh xèo! Xin “bật mí” một sự thật: Con trai cả của Trương Vĩnh Trọng là Trương Vĩnh Tùng, sinh năm 1975, từng là công an, hải quan, trước khi nhảy sang Tổng cty Du lịch và Thương mại Saigon với chức danh Hội đồng thành viên. Rồi anh ta giữ chức Tổng giám đốc Tổng công ty bia Saigon, TGĐ cty bia Saigon Sông Tiền và năm 2020 là Phó bí thư đảng uỷ, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn TNHH MTV (Satra). Satra được xem là công ty nhà nước, “con cưng” của thành uỷ thành Hồ, nắm giữ số vốn lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Cô con gái út Trương Thị Thanh Trúc, sinh năm 1979, là bà chủ của các công ty Đăng Trường, công ty Pood-House với các chuỗi nhà hàng mặt tiền, các đại lộ đắt đỏ trải hầu hết các quận ở thành Hồ. Trương Vĩnh Tùng có khác gì Lê Kiên Thành con trai Lê Duẩn, hay Phan Hoàn Ty con trai Phan Văn Khải, Phạm Hoàng Hà con trai Phạm Hùng, Phan Thanh Nam con trai Võ Văn Kiệt, Nguyễn Thanh Phượng con gái Nguyễn Tấn Dũng…? Các thái tử đảng, công chúa đảng không thèm làm quan, chỉ vì họ “rửa tiền” hoặc kiếm ngàn tỷ bên ngoài dễ dàng hơn. Người chết thì cũng đã nằm sâu trong lòng đất, nhưng cách mà Đảng “lên đồng” và hàng trăm “con nhang đệ tử” nhảy múa, khóc than, tựa dàn đồng ca, xem ra thật lố bịch. Thủ bút của Phan Thanh Bình và Nguyễn Thị Kim Ngân trong sổ tang Trương Vĩnh Trọng. Nhìn những đoạn văn viết vào sổ tang, kiểu “đất nước Bến Tre” và “cõi Bác Hồ” của ông PGS-TS Phan Thanh Bình, Chủ nhiệm UBVH-GD của Quốc hội, hay lối viết chữ “hầm chông” của bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân mà thấy buồn cho văn hoá của lãnh đạo cấp cao và nền văn hoá XHCN. Thu Hà https://baotiengdan.com/2021/02/22/ong-truong-vinh-trong-va-nhung-ke-khoc-muon/
......

Khi nào sự độc tài phải chùn bước?

Tuan Ngo   Sau khi chính quyền quân sự của Myanmar đảo chính, giành quyền kiểm soát đất nước, bắt giam nhiều lãnh đạo hợp hiến thông qua bầu cử tự do, rất nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra với quy mô ngày càng lớn hơn. Bất chấp việc cảnh báo sẽ có thương vong khi đối đầu với lực lượng an ninh (mà thực tế đã có một số người đã bị thiệt mạng), số lượng người tham gia biểu tình ngày một đông đảo hơn. Điều này sẽ là một áp lực thực sự với chính quyền quân sự hiện tại vì vốn dĩ, lâu nay họ lấy sức mạnh của súng ống để áp đảo mọi thứ chứ không đi thu phục nhân tâm. Chính quyền non trẻ do bà Aung San Suu Ky cấu trúc nên dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng đã cho người dân Myanmar được sống trong môi trường dân chủ mà lâu nay họ chưa có được - Đó là niềm hạnh phúc, niềm mơ ước cháy bỏng của họ mà không dễ dàng để họ để vuột mất.   Hôm nay, hàng trăm nghìn người gồm lao động ở các ngành nghề khác nhau như nhân viên ngân hàng, nhân viên siêu thị ở nhiều thành phố, thị trấn trên khắp Myanmar đã hưởng ứng lời kêu gọi đình công nhằm phản đối chính quyền quân sự. Hàng loạt doanh nghiệp, nhà hàng thông báo đóng cửa vào ngày hôm nay.   Tại nhiều thành phố như Yangon, Hpa-an, thủ phủ bang Kayin, các cửa hàng tiện lợi, chợ, và các cơ sở kinh doanh thiết yếu khác đều đóng cửa. Người lao động mang theo các biểu ngữ phản đối đảo chính và yêu cầu quân đội trả tự do cho các quan chức của chính quyền dân sự.   Một số địa phương khác người dân địa phương đình công đi biểu tình, các doanh nghiệp cũng đóng cửa hưởng ứng đình công; nhiều ngân hàng cũng đóng cửa...   Như vậy, nếu các cuộc đình công xảy ra nhiều nơi hơn, quy mô lớn hơn nữa thì khả năng chính quyền quân sự sẽ rơi vào tê liệt vì như đã nêu trên, kinh nghiệm của những người lãnh đạo quân đội chỉ giỏi chỉ đạo theo cách áp đặt bằng mệnh lệnh quyền uy chứ không thể gỡ rối bằng cách thương lượng. Hoặc là họ sẽ dùng bạo lực mạnh hơn để áp chế, đe nẹt hoặc là tiến tới họ sẽ phải nhượng bộ mà khả năng thứ 2 dễ xảy ra hơn vì mạnh tay với những người dân đang căm phẫn lúc này không khác nào đổ dầu vào lửa; thậm chí là có thể gây mâu thuẫn trong chính nội bộ quân đội khi lực lượng cấp tiến sẵn sàng quay về phía người dân.   Như vậy, khi đông đảo người dân Myanmar tỉnh thức và cùng tạo thành ngọn lửa đấu tranh thì lực lượng quân đội độc tài đến lúc phải lùi bước, phân hoá. Bà Aung San Suu Ky đã thắp lên cho người dân nước này nhuệ khí đấu tranh và đang được người dân duy trì. Lúc này thậm chí bà chưa được phóng thích cũng một phương pháp tốt để duy trì áp lực lên chính quyền quân đội hiện tại chứ khi áp lực chưa đủ cho lãnh đạo quân đội lung lay ý chí thì bà Aung San Suu Ky được trả tự do với một thỏa thuận nữa vời có thể lại là một bước thụt lùi với phong trào mà mà người dân đang thực hiện khi không có mặt bà.   Hy vọng sẽ có một kết cục tốt đẹp sẽ tới với người dân và đất nước Myanmar. Nếu người dân và đất nước Myanmar thành công thì đó cũng là một tấm gương để một số nước trong khu vực noi theo, trong đó có chúng ta. Dẫu biết rằng để thay đổi một hệ tư tưởng đã bám rễ, ăn sâu vào bao thế hệ là điều không dễ dàng gì; để từ bỏ danh vị, quyền lợi càng không dễ dàng gì nhưng vì sự tồn vong của quốc gia và tương lai của con cháu mai sau, chắc chắn rằng những người lãnh đạo đất nước không thể không suy ngẫm, và chính chúng ta cũng vậy. Cứ tiếp thu, học hỏi, lâu dần rồi tự chúng ta phải thay đổi bản thân, nếu không muốn mình bị bỏ lại sau lưng...  
......

Dương Tự Trọng và câu chuyện nhân quả

Thao Ngoc   Dương Tự Trọng là Đại tá công an, cựu Phó giám đốc công an Hải Phòng bị bắt vào ngày 22/2/2013 sau khi tổ chức cho anh trai mình là Dương Chí Dũng đào thoát khỏi Việt Nam. Sau đó Dương Tự Trọng(DTT) bị xử tù 16 năm về tội “tổ chức đưa người khác trốn đi nước ngoài”.   DTT xuất thân trong gia đình có truyền thống công an. Cha là Dương Khắc Thụ, Đại tá, nguyên Giám đốc CA Hải Phòng. Ngoài DTT ra, ông Thụ có Dương Chí Dũng liên quan đến vụ án Vinalines năm 2014, và người con gái là Thượng tá Băng Tâm, công tác tại PC25 CA Hải Phòng. Chồng Băng Tâm là Nguyễn Bình Khiên, cựu Đại tá, Phó GĐCA Hải Phòng. Sau này Khiên bị cách chức và đuổi về vì tội “dám mò dái ngựa”.   Hồi còn làm công an Hải Phòng, DTT nổi tiếng với hai vụ án đình đám. Đó là vụ Nguyễn Văn Chưởng và vụ Đoàn Văn Vươn.   1/Vụ án Nguyễn Văn Chưởng can tội giết người , xảy ra vào lúc 21h ngày 14/07/2007 tại Cảng Đình Vũ, Phường Đông Hải 2, Quận Hải An, TP Hải Phòng. Nạn nhân là thiếu tá Nguyễn Văn Sinh, cán bộ CAP Đông Hải 2.   Vào tối ngày 01/08/2007, CA TP Hải Phòng đã bắt Nguyễn Văn Chưởng, Vũ Toàn Trung và Nguyễn Văn Hoàng, được cho là hung thủ của vụ án này.   Qua 3 phiên xét xử, sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tòa án đã tuyên Nguyễn Văn Chưởng tử hình, Đỗ Văn Hoàng tù chung thân , Vũ Toàn Trung 23 năm tù giam vì các tội danh giết người và cướp tài sản; Nguyễn Trọng Đoàn (em trai Chưởng) 2 năm tù giam vì che dấu tội phạm; Nguyễn Thị Lan Phương 1 năm tù treo vì không tố giác tội phạm.   Tuy nhiên, bản án có nhiều điều cần đặt nghi vấn:   -Lời khai của các bị cáo trong vụ án có nhiều điều mẫu thuẫn với nhau và không đúng với bản khám nghiệm hiện trường, có rất nhiều bản khai đi khai lại nhiều lần.   Điều đáng nói là nhiều người làm chứng rằng tối hôm xảy ra vụ án, họ thấy Chưởng ở quê, cách địa điểm xảy ra vụ án đến 35km. Những người này được gọi lên và nhận những lời hăm dọa. Công an HP còn dọa sẽ bắt cả làng, nếu cả làng làm chứng. Người dân Bình Dân còn kể rằng, DTT lúc đó là Thượng tá, Phó thủ trưởng cơ quan CSĐT, cầm ve áo và tuyên bố: “Tao, thượng tá Dương Tự Trọng, thề sẽ làm cho thằng chủ tịch xã Bình Dân mất chức!”, vì ông chủ tịch xã lỡ xác nhận rằng những người nhân chứng đó là người thuộc địa phương ông.   Ngày lên tòa nhận bản án tử hình, Chưởng gửi lại một chiếc áo đông xuân cũ cho gia đình. Chiếc áo ấy Chưởng đã rút từng sợ chỉ rồi dùng tăm thêu. Dòng chữ trên chiếc áo kể về nỗi oan khuất của mình:   “Án oan ôm hận nhờ Chính phủ /Giải oan hận này cho dân đen /Tấm lòng trong sạch thiên địa biết /Trả lại công bằng cho dân thường /Sao để quan sai hành hạ dân /Luật pháp Việt Nam là rất đúng /Đừng để oan sai giáng hạ cho dân lành”. Đến nay (2021)vụ án đã qua 14 năm. Nguyễn Văn Chưởng chưa bị từ hình và cũng chưa được tha.   Dư luận cho rằng, Nguyễn Văn Chưởng phải chết vì chức Đại tá, PGĐ CA TP Hải Phòng của Dương Tự Trọng?   Hai là vụ án Đoàn Văn Vươn năm 2012 ở Hải Phòng. Vụ cưỡng chế đất này là “một trận đánh đẹp”, do Đại tá PGĐ Dương Tự Trọng chỉ huy. Kết quả là hai án oan Đoàn Văn Vươn và Đoàn Văn Quý bị kết án mỗi người 5 năm tù. Sau này khi DTT còn trong nhà giam, Đoàn Văn Vươn đã từ Hải Phòng lên trại giam Vinh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc, đem theo 4 con vịt biển được nuôi từ Đầm Vươn thăm Dương Tự Trọng. Hai người ngồi uống rượu với nhau trong chan hòa nước mắt ân hận của DTT.   “Chuyện thế này, mở đầu, ông DTT nhìn thấy ông Vươn thì hơi e sợ. Sau đó cảm nhận chuyến thăm của ông Vươn là rất tử tế, tình cảm. Từ phút đó, DTT ân hận và khóc, hối lỗi và nói với ông Vươn những lời sám hối. Sau thấy Trọng khóc nhiều, ông Vươn dỗ dành, nói rất chân thành: “Anh Trọng ơi, anh không có lỗi anh ạ. Lỗi là lỗi hệ thống thôi. Anh đừng dằn vặt nữa”(Chuyện này được TS Nguyễn Xuân Diện nghe Đoàn Văn Vươn kể lại trong một bữa cơn do gia đình Đoàn Văn Vươn mời).   Giấc mơ máu của Dương Tự Trọng.   Tờ Tâm Sự Gia Đình số báo Xuân 2017, nhà thơ Trần Đăng Khoa trong bài “Những chuyện kỳ bí bây giờ mới kể về Dương Tự Trọng”, kể về giấc mơ máu như sau: “Anh có tin vào tâm linh không, Là vì có những việc em không thể lý giải được. Chỉ có thể khẳng định rằng, có một thế giới vừa hiện thực vừa huyền bí bao phủ quanh mình. Đó là thế giới tâm linh. Đấy là cuộc gặp gỡ với bố em. Ông cụ đến thăm em. Em thấy ông cụ đứng nhìn em trân trân... Em bảo bố nói gì với con đi chứ... Rồi ông khóc, nước mắt lại có máu. Máu nhỏ xuống cả mặt em. Thế là em khóc ầm lên và bừng tỉnh... Lúc ấy là 4giờ 15 phút ngày 25 tháng Giêng năm 2016. Sau này người nhà vào thăm, em biết sự thật. Đúng là lúc ấy bố em đang hấp hối...”.   Nay có tin nói sau 8 năm thụ án, DTT đã được thả về trước tết Nguyên Đán 2021.   Không nên chờ đến lúc phải ngồi sau chấn song sắt nhà tù mới ngộ ra rằng con người chết chưa phải là hết, có thế giới tâm linh như DTT. Đừng gây thêm tội ác thì sẽ chịu sự phán xét của luật nhân quả ngay khi còn sống. Những kẻ tù oan đang chờ ngày chịu chết như Nguyễn Văn Chưởng, Hồ Duy Hải v.v... phải được trả tự do ngay tức.   (https://tuoitre.vn/duong-tu-trong-duoc-giam-an-con-16-nam...)   Thao Ngoc 22/2
......

Trung Quốc có đáng sợ không?

Nguyễn Hải Hoành| Trung Quốc trỗi dậy là sự kiện quan trọng nhất thế giới kể từ cuối thế kỷ 20 và sự kiện đó đang khiến người ta e sợ hoặc ít nhất là e ngại. Tờ Washington Post ngày 14/9/2011 viết: Điều chúng ta thực sự cần lo sợ là Trung Quốc. Lịch sử loài người cho thấy khi một cường quốc toàn cầu ra đời thì tình hình thế giới sẽ khác trước, vì cường quốc đó sẽ đòi hỏi thay đổi trật tự quốc tế hiện hành về phía có lợi cho mình. Khi ấy, các nước lớn và các láng giềng của tân cường quốc cần có cách ứng xử khéo léo để tránh xảy ra xung đột quân sự. Hai cuộc Thế chiến đã qua là minh chứng không ai quên được. Từ ngày trở thành siêu cường, nước Mỹ nhạy cảm hơn hết với bất kỳ cường quốc nào mới xuất hiện và luôn tìm cách “cân bằng” quyền lực của tân cường quốc đó. Sách “Giấc mơ Trung Quốc” của Lưu Minh Phúc cho biết: ngay từ năm 1942, Mỹ đã chủ trương cân bằng [kiềm chế] quyền lực của Trung Hoa Dân quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, dù Tưởng thân Mỹ. Có nhiều cách “cân bằng” tân cường quốc. Nhà báo Mitchell Reiss viết trên trên tạp chí Foreign Policy:  Nhiều năm nay những người Mỹ hiểu Trung Quốc đều hy vọng: Buôn bán với Trung Quốc sẽ đem lại lợi ích cho Mỹ; Sẽ truyền được đạo Ki Tô vào Trung Quốc; Trung Quốc sẽ trở thành một nước phồn vinh. Sang thế kỷ 21 Mỹ lại có thêm hy vọng thứ 4: Trung Quốc trở thành một bên có trách nhiệm trong hệ thống quốc tế. Một đại sứ Mỹ nói: Chúng ta cứ nghĩ rằng Trung Quốc giàu lên sẽ càng dân chủ, nhưng đảng Cộng sản Trung Quốc cho rằng dù nước họ giàu lên thì đảng này vẫn thống trị Trung Quốc. Chỉ có thể xảy ra một trong hai kết quả đó –– dân chủ hoặc chuyên chế; nhưng Mỹ không thể dự đoán kết quả, chỉ có thể trình bày nguyện vọng. Reiss nói Mỹ có 5 nguyện vọng với Trung Quốc: không cố ý ép tỷ giá đồng Nhân dân tệ; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển; cùng Mỹ đề xuất chính sách năng lượng sạch; giải quyết hoà bình tranh chấp biên giới và trên biển; hợp tác trên vấn đề cấm phổ biến vũ khí hạt nhân. Reiss không cho rằng Trung Quốc sẽ thực hiện 5 nguyện vọng này. Mỹ đang đứng trước thách thức lớn: cần phân biệt nỗ lực nào của Trung Quốc là qua bàn bạc để điều chỉnh hợp lý trật tự thế giới hiện có, và nỗ lực nào muốn lật đổ trật tự ấy. Tức phải làm rõ hành vi nào của Trung Quốc mà Mỹ có thể và không thể dung thứ được –– Reiss kết luận. Thái độ cứng rắn của Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông và đảo Senkaku/Điếu Ngư và việc Mỹ tham dự cả hai vấn đề này đang làm tình hình châu Á-Thái Bình Dương nóng lên. Trung Quốc đã không thành công trong việc chống lại xu thế quốc tế hóa giải quyết vấn đề Biển Đông, nay lại phải chịu nhiều sức ép quốc tế mới. Từ chối bàn bạc tay ba vấn đề chủ quyền đảo Senkaku/Điếu Ngư, từ chối yêu cầu nâng tỷ giá đồng Nhân Dân Tệ –– tất cả chỉ làm cộng đồng quốc tế tăng sức ép lên Trung Quốc và họ cảm thấy lời cam kết Trung Quốc lớn mạnh sẽ không xưng bá, sẽ hòa hợp với mọi quốc gia ngày một trở nên vô nghĩa. Giờ đây các nước liên quan e ngại nhất là chẳng thể dự đoán Trung Quốc sẽ hành động ra sao. Nước này luôn khó hiểu, không minh bạch, họ nghĩ rằng hành xử kiểu mưu lược Tôn Tử: “trá 诈” (lừa dối, ngược với minh bạch) là hay nhất; trong khi thế giới đang cần minh bạch hơn bao giờ hết. Rõ ràng, Trung Quốc chỉ càng thiệt thòi khi mọi người, nhất là những người hàng xóm, e sợ mình; vì khi ấy họ sẽ ngả theo một cường quốc khác –– dĩ nhiên là Mỹ. Trung Quốc đã nhận ra gần đây họ bị cô lập, thêm thù bớt bạn. Song thực ra thế giới có cần phải e sợ Trung Quốc đến thế không? Nhiều chuyên gia sừng sỏ đã lên tiếng trấn an mọi người. Gần đây có bài Cái nhãn siêu cường được gán quá sớm cho Trung Quốc của Malcolm Rifkind, đương kim chủ tịch Ủy ban An ninh và Tình báo của Quốc hội Anh. Sớm hơn, có sách 100 năm tới: một dự đoán thế kỷ 21 của George Friedman, Chủ tịch Công ty Dự báo chiến lược Stratfor, một think tank phi chính phủ hàng đầu thế giới từng dự báo chính xác một số sự kiện chiến lược. Ông dự đoán Nhật, chứ không phải Trung Quốc, mới là đối thủ của Mỹ ở châu Á –– điều trùng hợp kỳ lạ là từ năm 2005 tướng Lưu Á Châu chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc cũng nhận định như vậy. Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) hôm 1/11/2010 đưa tin John Howard cựu Thủ tướng Australia dự đoán: Trước cuối thế kỷ 21, Ấn Độ sẽ thay thế Trung Quốc trở thành quốc gia chiếm địa vị chi phối ở châu Á. Đúng là sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc đang vươn lên theo hướng đuổi kịp Mỹ. Song nên nhớ rằng, trong thời đại hạt nhân, chỉ có kẻ điên mới gây ra chiến tranh giữa các cường quốc, vì khi ấy cả hai bên, thậm chí cả thế giới đều bị hủy diệt. Bởi vậy chớ nên đánh giá quá cao sức mạnh cứng, trong khi sức mạnh mềm mới là cái đáng quan tâm hơn. Mà về mặt này thì Trung Quốc còn rất yếu, mặc dù mới đây họ đã vung hàng tỷ Nhân dân tệ để tăng cường hệ thống truyền thông cũng như mua chuộc một số nước Á, Phi, đã mở hàng nghìn Học viện và Lớp học Khổng Tử trên toàn cầu để dạy chữ Hán và truyền bá Khổng học, một học thuyết về chính trị chuyên chế. Đã nhiều lần Bắc Kinh kêu gọi dân nước họ cần có niềm tự hào về văn hóa của mình –– từ đó suy ra văn hóa nước này còn chưa mạnh đến mức đủ để tự hào. Sức mạnh cứng của Trung Quốc cũng chưa theo kịp Mỹ. Hiện nay GDP đầu người của Trung Quốc còn kém xa Mỹ. Họ chưa có nhiều các công ty toàn cầu xuất sắc như Mỹ, chưa có hệ thống sáng tạo mới hùng hậu về kinh tế, khoa học kỹ thuật như Mỹ. Quân đội Mỹ thực sự có tính toàn cầu, đang tiến tới thực hiện trong vòng 120 phút có thể tiêu diệt bất cứ mục tiêu nào trên Trái Đất. Mỹ đã thử thành công máy bay vũ trụ không người lái X-37B: sau 244 ngày bay trên quỹ đạo Trái Đất, hôm 3/12/2010, X-37B đã tự động hạ cánh xuống sân bay xuất phát. Quân đội Trung Quốc thì mới bắt đầu học cách tác chiến tầm xa. Một chuyên gia quân sự Trung Quốc đánh giá sức mạnh quân sự của họ chỉ bằng 1/8-1/5 của Mỹ. Cách thực thi sức mạnh cứng là cưỡng bức và mua chuộc (cây gậy và củ cà-rốt). Cách thực hiện sức mạnh mềm là thu hút. Sức mạnh cứng dựa trên cơ sở vật chất, sức mạnh mềm dựa trên cơ sở tư tưởng, quan niệm về giá trị. Tác giả sách Giấc mơ Trung Quốc nhận xét: Mỹ giỏi chiếm các đỉnh cao đạo đức trên thế giới, họ xuất khẩu các giá trị quan tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng có sức thu hút toàn cầu. Trung Quốc chỉ mới đề xuất giá trị quan “thế giới dân chủ” và “thế giới hài hòa” (nhưng chưa ai biết nó thế nào). Truyền thông Trung Quốc cho biết: mới đây Chủ tịch Tập Cận Bình có đưa ra thuyết “Xây dựng một Cộng đồng chung vận mệnh của nhân loại” 1/- Nhà bình luận chính trị Trung Quốc Trịnh Vĩnh Niên (Giám đốc Viện Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore) nhận định đại ý: Mỹ được thế giới chấp nhận [làm bá chủ thế giới] là do họ có ưu thế chiến lược về nhiều mặt, như chính trị, kinh tế, quân sự và văn hoá. Nhưng Trung Quốc ngày nay ngoài sự trỗi dậy về kinh tế ra thì chưa có ưu thế chiến lược nào có thể được các quốc gia khác chấp nhận. Trong “Bài nói tại cuộc tọa đàm về công tác triết học khoa học xã hội” (Nhà xuất bản Nhân dân, 2016), Chủ tịch Tập Cận Bình nhận xét: “Trên các lĩnh vực mệnh đề học thuật, tư tưởng học thuật, quan điểm học thuật, tiêu chuẩn học thuật và lời lẽ học thuật, năng lực và trình độ của ta còn chưa tương xứng lắm với quốc lực tổng hợp và địa vị quốc tế của ta.” Cuối thập niên 1990, để làm yên lòng những người lo ngại Anh Quốc trả lại Hong Kong cho Trung Quốc thì nước này sẽ mạnh lên và đe dọa thế giới, Thủ tướng Thatcher nói: “Các bạn chẳng cần e ngại Trung Quốc, vì trong vài chục năm tới, thậm chí cả trăm năm, nước này không thể mang lại cho thế giới bất kỳ một tư tưởng mới nào cả.” Tư tưởng, học thuyết là sản phẩm của giới triết gia, học giả. Tướng Lưu Á Châu nói: “Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Hegel nói Trung Quốc không có triết học. Tôi cho rằng mấy nghìn năm nay Trung Quốc chưa sản sinh được nhà tư tưởng nào.” Dưới thể chế chính trị hiện nay nước này lại càng khó sinh ra được những nhà chính trị học như Huntington, Paul Kennedy, Nye … cha đẻ các học thuyết hiện đang làm cả thế giới quan tâm. Thái độ của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông và đảo Senkaku/Điếu Ngư cho thấy họ chưa có được cách tư duy và ứng xử của một cường quốc toàn cầu lão luyện như Mỹ. Đòi hỏi quá đáng và thiếu khôn ngoan coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” ngang với Tây Tạng, Đài Loan khiến Trung Quốc bị rơi vào cái bẫy của Mỹ: càng cứng rắn thì càng đẩy ASEAN về phía Mỹ. Người đầu tiên “mời” Mỹ trở lại Đông Nam Á là chính khách lão luyện Singapore, ông Lý Quang Diệu quê gốc Quảng Đông, vốn rất thân Trung Quốc. Giờ đây Singapore nói họ giữ khoảng cách như nhau với Mỹ và Trung Quốc, tuy rằng từ lâu họ đã cho Mỹ tiếp cận căn cứ quân sự tại Singapore. Ông Lý “mời” Mỹ từ cuối năm 2009, Mỹ chưa trả lời. Nhưng sau vụ Trung Quốc gây gổ ở biển Đông và đảo Senkaku/Điếu Ngư thì tháng 7 năm 2010 tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 17 ở Hà Nội, bà Hillary tuyên bố Mỹ trở lại châu Á. Cú ra đòn bất ngờ này khiến Ngoại trưởng Dương Khiết Trì giận dữ bỏ cuộc họp ra ngoài lau mồ hôi trán, và hơn một giờ sau, khi trở lại phòng họp, ông hướng về phía Ngoại trưởng Singapore lớn tiếng nói một câu gây sốc: “Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là các nước nhỏ, đó là một thực tế”. Xem ra ông ta có ý nhắc nhở ASEAN nên biết sợ Trung Quốc, một nước lớn. Cũng cần lưu ý rằng nỗi e sợ Trung Quốc còn bắt nguồn từ những hiểu nhầm. Ví dụ, thấy Mỹ là con nợ của Trung Quốc, người ta nghĩ rằng Mỹ sẽ phải nghe theo cây gậy chỉ huy của chủ nợ. Thực ra số công trái Mỹ do Trung Quốc sở hữu chỉ chiếm có 7% tổng số công trái Mỹ đã phát hành, chẳng thể gây sức ép với Mỹ được. Chính vì thế Trung Quốc vẫn tiếp tục mua thêm công trái Mỹ chứ chẳng hề bán đi để làm cho đồng USD mất giá, như “hiến kế” của một số tướng tá nước này muốn ép Mỹ bớt cứng rắn với Bắc Kinh. Đô la Mỹ mất giá thì mấy nghìn tỷ USD công trái Mỹ mà Trung Quốc nắm sẽ thành đống giấy vụn.  2 Gần đây Trung Quốc phản đối Fed in tiền mua 600 tỷ USD công trái Mỹ là một ví dụ cho thấy họ đang lo đồng USD mất giá. Một hiểu nhầm nữa là cho rằng mô hình Trung Quốc ưu việt nên kinh tế mới tăng trưởng nhanh lâu dài và vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Tuy nhiên, mô hình dựa trên nhân công rẻ và xuất khẩu đang đi tới hồi kết; sự phát triển kiểu tàn phá môi sinh và cướp bóc tài nguyên cũng không thể tiếp tục. Nên chú ý là trong một tương lai gần, cơ cấu dân số Trung Quốc bắt đầu đảo ngược: già hóa và thiếu nhân công nghiêm trọng, trong khi Mỹ luôn hưởng lợi từ dòng người nhập cư bất tận. Một nhà báo Singapore viết: Có thể ví Trung Quốc như một quần đảo gồm một số hòn đảo hiện đại có 450 triệu dân bị bao bọc bởi một dãy đảo chưa hiện đại có hơn 800 triệu dân [ý nói Trung Quốc vùng ven biển trù phú có 450 triệu dân, vùng phía Tây lạc hậu có 800 triệu dân]. Phần lớn du khách nước ngoài thăm Trung Quốc đều chưa đến “dãy đảo” này. Vì thế họ hiểu nhầm Trung Quốc. Ít nhất nước này cần vài chục năm nữa mới trở thành một nước hoàn toàn phát triển. Nhưng từ nay đến lúc ấy chưa biết sẽ xảy ra điều gì. Nhiều người nói Trung Quốc có quá nhiều biến số: đang biến động về giá trị quan, tình cảm xã hội, các sự kiện cực đoan, vấn đề dân tộc, phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn giai cấp v.v… Chính người Trung Quốc cũng lo về tương lai nước họ. Một blogger viết: Không ai có thể đánh bại Trung Quốc, trừ chính người Trung Quốc chúng ta. Quả thật “Nội tranh” [đấu đá trong nước] là nguyên nhân chủ yếu từng làm các vương triều nước này sụp đổ. Thủ tướng Ôn Gia Bảo từng cảnh báo: Không tiến hành cải cách thế chế chính trị thì Trung Quốc có thể mất những gì đã đạt được trong quá trình tái cơ cấu kinh tế và các mục tiêu hiện đại hóa cũng có thể không thành công. Nếu Trung Quốc cải cách chính trị theo hướng của Thủ tướng Ôn thì thế giới sẽ hoan nghênh. Nhưng xem ra hy vọng đó rất mong manh, và điều ấy sẽ làm giảm sức mạnh của cường quốc này. ■ [1] Trung văn: 构建人类命运共同体; tiếng Anh: Building a Community of Shared Future for Mankind. Do Tập Cận Bình đưa ra ngày 23/3/2013 trong chuyến thăm Nga, đã được viết vào Điều lệ ĐCSTQ và Hiến pháp TQ. [2] Theo báo TQ, năm 2012 TQ đã mua 1244 tỷ USD (hoặc 25%) công trái Mỹ và thường xuyên được trả lãi đúng hạn (hơn 30 tỷ USD/năm), nhưng TQ không có kênh đầu tư ngoại tệ nào an toàn hơn là tiếp tục mua công trái Mỹ.    
......

Tư Bản Đỏ

xe Vinfast bị gãy moay-ơ Phạm Minh Vũ   Liên tiếp 4 vụ xe Vinfast bị gãy moay-ơ, cùng một lỗi nhưng liên tiếp các vụ việc xảy ra mà không một tờ báo nào dám đưa thông tin này ra. xe Vinfast   Vingroup hình thành trên một trục quyền lực tương tự như chế độ độc tài. Vượng Vin một mặt dùng mối quan hệ với các quan tứ trụ triều đình để bịt mồm cả tuyên giáo, bắt báo chí im lặng mỗi khi có sự việc liên quan tới Vin, mặt khác tung lực lượng dư luận viên từ cấp cao tới cấp thấp để tung ra những luận điệu có lợi cho Vin, mục đích dập tắt những vụ gây ồn ào trên truyền thông. xe Vinfast.   Cũng như không một cơ quan nào liên quan đến an toàn giao thông kiểm định về độ an toàn của xe Vinfast.   Chúng ta thấy, mới đây Cục An toàn Giao thông Đường cao tốc Quốc gia Mỹ (NHTSA) cho biết, Ford phải thu hồi 3 triệu xe có trang bị túi khí Takata phía người lái do bị lỗi.   Ngày 18/2/21, hãng xe Ford đã triệu hồi 154.000 xe do lỗi túi khí trong đợt 2.   Người Nhật cho thu hồi ngay lập tức toàn bộ số xe khoảng 4 triệu xe trên toàn thế giới năm 2020 mặc dù đã phân phối hoặc đã bán cho khách hàng khi có sai sót về lỗi kỹ thuật.   Mặc dù chưa có vấn đề gây nguy hiểm đến mất an toàn như Vinfast nhưng các hãng xe uy tín trên thế giới lập tức nhận sai và sửa sai, ít nhất là khắc phục sự cố bằng cách triệu hồi xe lỗi về.   Còn Vượng vin thì lại khác, ngoài dùng quan hệ và tiền bạc để xử lý cái sai nhằm che giấu nó, mặc kệ sự an nguy của tính mạng người sử dụng, không may xảy ra trên cao tốc thì thiệt hại dân vẫn chịu. Đó là biểu hiện của sự lưu manh và nói thẳng là mất dạy của bọn tư bản đỏ, làm ăn bất chính kết hợp với sự bảo kê của tầng lớp cầm quyền.   Vin nổi tiếng là xây dựng đế chế huy hoàng trên xương máu nhân dân. Kinh doanh chính của Vin là đất đai, Vin vươn vòi ra tất cả các ngành nghề khác, nếu thua lỗ thì về cướp đất rồi bán giá cao để bù vào.   Thay vì xin lỗi nhận sai và sửa sai, bản tính Mafia của Vượng chỉ thành công trong chế độ độc tài khi quan chức toàn bọn hủ bại, mê tiền mà phớt lờ những sai trái của Vin. Điều đó đồng nghĩa với tính mạng nhân dân như những con chốt thí, để giúp Vin đạt được sự hào quang gọi là doanh nhân thành đạt.   Tư bản đỏ giàu nhờ thẻ đảng, giàu nhờ cướp đất và đem sinh mạng nhân dân ra để đổi chác, có gì mà tự hào?   Ăn cắp trí tuệ, đầu lắp cái này đuôi lắp cái khác, rồi tự nhận là của mình.   Thế giới có một tỷ phú xuất hiện thì cả nhân loại được thụ hưởng. VN xuất hiện một tỷ phú như Vượng thì đất nước càng cạn kiệt tài nguyên, người dân thêm nghèo mạt, bao cảnh gia đình tan nát bởi mất đất.   Góp ý với Vượng là nên đổi thành xe Vin-phét đi cho đúng bản chất.  
......

Những nghệ sĩ đã chết khi còn đang trong vai diễn trên sân khấu và trong cuộc đời

Nghệ Sĩ  Hoàng Dũng Phạm Đình Trọng   Một ngôi sao vụt tắt, một con người từ giã cuộc sống, ai cũng ngậm ngùi, ngẩn ngơ thương tiếc. Một nghệ sĩ tài năng, một gương mặt sáng giá trên sân khấu, trên màn hình điện ảnh nước ta suốt mấy chục năm qua như diễn viên Hoàng Dũng mất đi cũng mang đến cho tôi nỗi buồn mênh mang. Cái chết của nghệ sĩ tài năng làm tôi buồn một thì tôi buồn mười về thân phận con người nghệ sĩ trong thể chế độc tài cộng sản.   Với tài năng và đóng góp cho nghệ thuật sân khấu và điện ảnh, Hoàng Dũng đã được nhà nước cộng sản tặng danh hiệu Nghệ Sĩ Nhân Dân. Nghệ sĩ của Nhân Dân, đó là một danh hiệu tột cùng vẻ vang, cao qui, là niềm mơ ước và gắng gỏi của mọi người làm nghệ thuật. Nghệ sĩ của Nhân Dân, bằng nghệ thuật nói tiếng nói trung thực của Nhân Dân, của cuộc sống đất nước.   Vẻ đẹp rạng ngời của Nghệ Sĩ Nhân Dân không phải chỉ là vẻ đẹp hình thể của con người nghệ sĩ, không phải chỉ là vẻ đẹp lấp lánh của hình tượng nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo nên mà Nghệ Sĩ Nhân Dân còn mang vẻ đẹp của tâm hồn và khí phách con người Việt Nam. Vẻ đẹp tiêu biểu nhất của tâm hồn con người Việt Nam là lòng yêu nước. Vẻ đẹp sáng chói nhất của khí phách con người Việt Nam là chí khí xả thân giữ nước.   Nhà nước cộng sản Việt Nam thảo luật Đặc khu kinh tế chỉ là nguỵ trang, giấu ý đồ dành những vùng đất hiểm yếu đón giặc Tàu cộng vào làm chủ. Những lớp sóng người dân Việt Nam ào ạt biểu tình khắp từ Bắc chí Nam phản đối luật đặc khu dành đất cho giặc Tàu cộng đặt bàn chân xâm lược trên lãnh thổ Việt Nam. Những lớp sóng của lòng yêu nước trong cuộc biểu tình đó chính là vẻ đẹp say đắm của tâm hồn và vẻ đẹp hùng tráng của khí phách Việt Nam.   Nhà nước cộng sản Việt Nam đối phó, đè bẹp vẻ đẹp của tâm hồn và khí phách người dân Việt Nam bằng dùi cui, roi điện, bằng sức mạnh bạo lực nhà nước, bằng còng sắt công an và nhà tù dã chiến.   Nhà nước cộng sản Việt Nam còn dựng lên những đấu trường đấu tố, vu khống, dằn mặt Nhân Dân, bôi nhọ vẻ đẹp tâm hồn và sỉ nhục khí phách Nhân Dân trên truyền hình, trên báo chí trong hệ thống truyền thông nhà nước. Và Nghệ Sĩ Nhân Dân Hoàng Dũng đã được đưa lên đấu trường VTV để đấu tố lòng yêu nước của Nhân Dân, đấu tố vẻ đẹp tâm hồn và khí phách Việt Nam.   Phong Nghệ Sĩ Nhân Dân cho Hoàng Dũng rồi nhà nước cộng sản đẩy Nghệ Sĩ Nhân Dân Hoàng Dũng lên đấu trường đấu tố lòng yêu nước chính đáng của Nhân Dân.   Đầu thế kỉ 21, trong ánh sáng chan hoà của kỉ nguyên tin học, trong bộ đồ hàng hiệu Gucci đắt tiền, tay chém gió dạy bảo Nhân Dân về sự tỉnh táo đừng để thế lực thù địch lợi dụng, giọng nghiêm khắc đe nẹt, sỉ nhục ý chí giữ nước của Nhân Dân, Nghệ Sĩ Nhân Dân Hoàng Dũng bỗng trở thành bà nông dân mặc váy đụp, chân đất nhảy choi choi, tay xỉa xói vào mặt người đàn ông mặc áo dài the thâm dáng gày guộc khắc khổ của người lao động lam lũ đã bị đội cải cách đôn lên thành phần địa chủ thời tăm tối cải cách ruộng đất giữa thế kỉ 20.   Như người nông dân trong cải cách ruộng đất được đảng chia cho mảnh ruộng của địa chủ đã nhảy thách lên vu tội, đấu tố địa chủ đề đền ơn đảng. Diễn viên Hoàng Dũng được phong tặng Nghệ Sĩ Nhân Dân, diễn viên Lan Hương cũng được nhận Nghệ Sĩ Nhân Dân, diễn viên Xuân Bắc hí hửng với danh hiệu Nghệ Sĩ Ưu Tú đều xông lên đấu tố lòng yêu nước của Nhân Dân trong cuộc biểu tình phản đối luật đặc khu kinh tế dâng đất của tổ tiên cho giặc Tàu cộng.   Thật thảm thương cho thân phận người nghệ sĩ trong nhà nước độc tài cộng sản. Với tôi, những nghệ sĩ được gọi là Nghệ Sĩ Nhân Dân, Nghệ Sĩ Ưu Tú đó đã chết từ tháng sáu, năm 2018 khi họ nhảy lên đấu trường VTV đấu tố lòng yêu nước của Nhân Dân, dù họ vẫn đang có vai diễn mùi mẫn trên sân khấu, trên màn hình và vẫn đang trong những vai diễn ráo hoảnh trong cuộc đời.  
......

Cả đảng lên đồng về “chuyển đổi số”

Phạm Nhật Bình - Web Việt Tân| Một trong những “định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030” trong văn kiện của đại hội XIII vừa chấm dứt cuối tháng Gie6ng, 2021, đảng CSVN nhấn mạnh: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ…” Đó là một đề tài hấp dẫn của các lãnh đạo đảng CSVN trong giai đoạn được chính họ mô tả là đã đạt được những thành tích rực rỡ nhất trong thời gian dịch bệnh diễn ra. Vì thế chưa bao giờ có cảnh vui nhộn đến thế khi đảng và nhà nước, cùng với báo chí lề đảng suốt ngày ra rả về “chuyển đổi số.” Nói nôm na cho dễ hiểu, chuyển đổi số là điện toán hóa (trong tiếng Anh là digital) mọi lãnh vực trong đời sống xã hội bao gồm từ kinh tế đến chính trị. Đó là mục tiêu mà lãnh đạo đảng CSVN đưa ra để đất nước tiến lên nền công nghiệp 4.0. Người ta còn nhớ hơn 20 năm trước đây, dưới thời Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, đảng CSVN đưa ra chiến lược công nghiệp hoá – được coi như 3.0, mà mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam phải trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng cuối cùng mục tiêu ấy đã nửa đường đứt gánh, vì chạm phải bức tường lạc hậu của nền kinh tế vừa ngoi lên từ thời kỳ bao cấp với kỹ thuật sản xuất thô sơ, nhân lực nghèo nàn, năng suất thấp, trình độ quản lý yếu kém. Năm 2020 dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư, đảng CSVN đưa ra chiến lược công nghệ cao 4.0 và tính toán đến năm 2045, Việt Nam nhất định trở thành nước công nghiệp tiên tiến và người dân sống với thu nhập trung bình cao. Và lúc đó Việt Nam sẽ là quốc gia phát triển trong Top 20 của thế giới, nghĩa là có thể sánh vai với các nước tiên tiến nhất. Quả thực đây là một giấc mơ rất lớn, thể hiện “khát vọng hùng cường” của các nhà lãnh đạo cộng sản. Nhưng đó mới chỉ là ý chí và là một khẩu hiệu tuyên truyền kêu rất to: “Chuyển đổi số sẽ hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước của nhiều thế hệ!” Để tiến lên nền công nghệ cao 4.0 hay đạt được giấc mơ chuyển đổi số trên nền tảng khoa học và công nghiệp tiên tiến, mọi quốc gia đều phải đáp ứng 3 nhu cầu cách mạng mang tính sinh tử, thiếu 1 trong 3 nhu cầu này, tiến lên công nghiệp 4.0 chỉ là giấc mơ hão huyền. Đó là: Thứ nhất, phải cải tổ hệ thống giáo dục theo hướng thực dụng và hiệu quả, chú trọng vào nghiên cứu và sáng tạo. Tính từ năm 1975 là năm đảng CSVN cầm quyền trên cả nước, mặc dù được thừa hưởng một triết lý giáo dục tương đối hiệu quả ở Miền Nam, đảng CSVN vẫn duy trì và phát triển giáo dục trên nền tảng chủ thuyết Mác-xít, lấy sự kềm kẹp tư tưởng làm chính. Do đó trải qua nhiều thập niên, nền giáo dục quốc gia trở nên xơ cứng với căn bệnh thành tích khó chữa. Thiếu tính sáng tạo, trí thức được đào tạo chỉ cam phận làm thuê kiếm sống, không vượt qua nổi những gì từ sách vở nhà trường. Thứ hai, phải tổ chức xã hội theo hình thức mở, theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh sáng tạo. Đồng thời phải có sự tác động và khuyến khích sự tham gia đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân qua sự hình thành của xã hội dân sự. Tại Việt Nam, đảng CSVN chủ trương một xã hội khép kín trong mục đích duy trì thể chế độc tài lâu dài nên chỉ nhìn thấy mọi hoạt động xã hội dân sự là môi trường thù địch. Một xã hội nằm trong vòng kềm tỏa của bắt bớ, tù đày dứt khoát không tạo được một động lực nào cho sự tiến bộ. Thứ ba, phải có một hệ thống luật pháp công bằng, nghiêm minh nhằm tôn trọng sự cạnh tranh công bằng, đồng thời bảo vệ các giá trị đóng góp của mọi thành phần dân tộc vào sự thăng tiến chung. Nhìn vào nền luật pháp xã hội chủ nghĩa hiện nay, đảng CSVN đặt sự bất công lên sự công bằng, vinh danh luật pháp mờ ám hơn luật pháp nghiêm minh, cưỡng ép nhiều hơn thuyết phục. Những điều đó dẫn tới sự bất an trong xã hội và sự rối loạn của thứ luật pháp nắm độc quyền công lý trong tay, đất nước tụt hậu là tất yếu. Ba nhu cầu cách mạng nói trên được coi là sinh tử vì đó là những yếu tố thiết yếu nhất để giúp nâng cao tiềm lực tham gia và đóng góp của công dân. Chỉ có trong một xã hội được tổ chức thông thoáng từ nhân dân tới chính quyền và ngược lại, người dân mới coi sự đóng góp là nghĩa vụ thiêng liêng xây dựng quốc gia giàu mạnh. Khi xã hội không còn có sự kềm kẹp, cưỡng bách phải đi theo nhu cầu chính trị của kẻ cầm quyền, đó là động lực để đất nước tiến lên. Xã hội chủ nghĩa mà đảng CSVN có tham vọng muốn dẫn dắt dân tộc tiến lên, là một hình thức xã hội được vẽ vời trong trí tưởng tượng của các nhà lập thuyết cộng sản, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng sản xuất của thế kỷ 19. Do đó trong thế kỷ 21, nó đã trở thành một sản phẩm lạc hậu chỉ còn giá trị nghiên cứu trong thư viện. Đảng CSVN đưa ra mục tiêu chuyển đổi số là phải thành lập cho được 100 ngàn công ty công nghệ cao vào năm 2025, trong khi hiện nay đã đạt con số 40 ngàn công ty loại này. Nhưng câu hỏi đặt ra là cho dù có đạt được chỉ tiêu 100 ngàn hay 150 ngàn công ty đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ là những doanh nghiệp công nghệ thứ cấp, máy móc lạc hậu mang tính chất kinh tế thương mại mà thôi. Trong thực tế, khi nền kinh tế Việt Nam chưa thoát khỏi tình trạng gia công để kiếm ăn thì có thêm 100 doanh nghiệp nữa, lấy đâu làm nội lực phát triển công nghệ cao hay chỉ dựa vào các công ty vốn nước ngoài (FDI) để nuôi sống ảo tưởng phát triển. Cái mà người dân Việt Nam cần hiện nay là tư duy tự do: Tự do học hỏi khoa học kỹ thuật tân tiến của thế giới, tự do sáng tạo để làm chủ được khoa học và tự do sống trong một xã hội công bằng, không còn bị o ép bởi chủ thuyết lạc hậu Mác-Lê. Vì thế, trước khi nói tới nhu cầu phát triển công nghiệp để bắt kịp thế giới, tư duy của người Việt Nam cần phải được khai phóng để không còn bị bất cứ ràng buộc và kềm chế nào của chế độ. Và điều kế tiếp là người dân phải có quyền tư hữu –  nhất là tư hữu căn bản về đất đai và công cụ sản xuất để có thể làm chủ chính mình. Trong trường hợp đó, sự đóng góp vào công nghệ cao hay chuyển đổi số mới có cơ hội thành chóng như mong muốn. Bài học của lãnh đạo Hàn Quốc nhiều thập niên trước đây vẫn còn giá trị cho các nước nhỏ mơ ước xây dựng một nền công nghiệp trong tầm tay. Người Hàn đã tận tuỵ học hỏi và vận dụng khoa học kỹ thuật Nhật Bản, Hoa Kỳ và Tây phương nói chung để phát triển công nghiệp trong nước, xây dựng nội lực làm nền tảng, trước khi sử dụng doanh nghiệp FDI làm đòn bẩy đưa đất nước tiến xa hơn. Nếu không học được những bài học thực tế đó, sự kêu gào chuyển đổi số nếu có thực hiện cũng chỉ tạo đươc những cái bánh vẽ nhằm mục đích tuyên truyền mà thôi. Phạm Nhật Bình  
......

Dân không nuôi lãnh đạo để làm con Trâu?

  Phạm Minh Vũ     Mấy hôm nay, lợi dụng dịp đầu năm theo Tết cổ truyền, quan chức từ hàng tứ trụ tới Nhất phẩm Tam phẩm triều đình ùa nhau ra diễn vở kịch mà hàng chục năm nay, cứ lặp đi lặp lại, hết Dời cây trên rừng về gọi là trồng cây xong áo quần khăn mão bóng loáng, giày mướt sượt ra bưng khay mạ, đến cả giày không dính tí bùn mà truyền thông lập tức chộp lại và ca ngợi đó là lãnh đạo đi cấy lúa.   Chán, nó chán tới nổi Dân chỉ nhếch mép mà cười, rồi nhanh chóng quên đi như cánh diều bay bỗng trong gió nhẹ. Có cụ già ngoài Bắc chửi khi xem tin thời sự rằng: Bố tiên sư đám lãnh đạo ăn hại, dân đâu đóng thuế để nuôi trâu làm lãnh đạo?   Thật vậy, ở khía cạnh là một cử tri, một công dân và một người tử tế, không ai mà chấp nhận những hành động vừa làm màu để mị dân cũng vừa khinh thường Nhân dân.   Các ông hạ chặt một cây đại thụ trên rừng về đã phải phát một cánh rừng mới đưa cây ấy về, xong cầm xẻng cho tí đất gẩy gẩy rồi tưới nước lên vậy mà trồng rừng gì? Đó là xem thường dân chúng.   Các ông là lãnh đạo, đứng đầu một thành phố, một quốc gia, đưa ra hướng phát triển công nghiệp hoá mà suốt ngày thay con trâu đi cày đi cấy, vậy là ý gì? Nhân dân cần các ông đưa ra những quyết sách phát triển kinh tế theo hướng hiện đại, Dân cần các ông có tầm quan sát lâu dài và đưa ra quyết sách có tầm vĩ mô đưa nền kinh tế lên hội nhập thế giới. Trong lúc viết stt này, tôi được biết Chiếc xe tự hành Perseverance của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) đã hạ cánh thành công lên bề mặt sao Hoả với nhiệm vụ tìm kiếm dấu vết của sự sống trong quá khứ trên hành tinh đỏ.   Người ta đã lên tới trên tận khoảng không vũ trụ mà giờ lãnh đạo VN lại loay hoay với cái cày rồi đóng con trâu. Nhục và cảm thấy xấu hỗ thay cho đám lãnh đạo các ông thay.   Nếu không đưa ra một quyết sách hay giúp Nhân dân phát triển kinh tế, ổn định đời sống trong đợt dịch này thì tốt nhất nên đừng làm màu như thế, vì cái tối thiểu của một con người là Sự tử tế các ông không có thì diễn gì đi nữa dân cũng chỉ nhếch mép, có hay vang vọng tiếng cười giòn tan như tiếng pháo tay trên sân khấu hài, rồi mếu mó mà khóc. Vì ngày mai, dân vẫn đóng thuế ngập mặt, bởi vì các ông làm con trâu thì dân phải đi cày.   Dẹp mấy cái hài kịch đó đi, dân không đóng thuế để nuôi trâu làm lãnh đạo.  
......

Bước đi đầu tiên của Tổng thống Mỹ Joe Biden

Tổng thống Joe Biden Đỗ Ngà   Hôm ngày 8/2/2021 Tổng Thống Joe Biden đã có cuộc điện thoại với Thủ Tướng Ấn Độ Narendra Modi nói về nhiều đề tài nhưng quan trọng nhất là hai nhà lãnh đạo này đã đề cập đến 3 nội dung quan trọng sau: Thứ nhất, xây dựng lại nền kinh tế toàn cầu theo cách có lợi cho người dân của cả hai nước; Thứ nhì là cùng nhau chống lại tai họa của “chủ nghĩa khủng bố toàn cầu”; Thứ ba là thúc đẩy một Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở, ủng hộ tự do hàng hải và toàn vẹn lãnh thổ và cam kết củng cố kiến trúc khu vực thông qua Bộ Tứ Kim Cương. Sau cuốc điện thoại này tổng biên tập tờ Hoàn Cầu Thời Báo – Một cơ quan ngôn luận của ĐCS Trung Quốc đã có phản ứng giận giữ được đăng trên tờ báo này.   Việc Ấn Độ rút khỏi vòng đàm phán gia nhập khối RCEP vào tháng 11/2019 sau 6 năm đàm phán được biết là Ấn Độ không muốn nền kinh tế của mình bị xâm lăng bởi người Tàu. Nhưng sâu xa hơn là Ấn Độ kỳ vọng tham gia một liên minh kinh tế có lợi hơn, đó là sự kết nối với Mỹ. Nếu liên minh kinh tế này được hình thành thì nó sẽ là đối thủ rất lớn của khối RCEP với Tàu Cộng làm chủ cuộc chơi. Và trong cuộc đàm phán đó, Tổng thống Biden đã đề cập đến điều đó. Hy vọng là Ấn và Mỹ sẽ tiến tới bắt tay tạo sân chơi kinh tế để ngán đường ảnh hưởng của Tàu Cộng trên mặt trận kinh tế .   Sau cú điện thoại đó là đến ngày 18/2/2021 thì 4 Bộ Trưởng Ngoại Giao của 4 cường quốc trong Bộ Tứ Kim Cương gồm: Antony Blinken – Ngoại trưởng Hoa Kỳ; Toshimitsu Motegi – Ngoại Trưởng Nhật Bản; Marise Payne – Ngoại Trưởng Úc; và Subrahmanyam Jaishakar - Ngoại Trưởng Ấn Độ đã có cuộc gặp để bàn nhau qua điện thoại 90 phút để bàn về việc hoạch định chính sách nền tảng cho “NATO phương Đông”. Như vậy việc thúc đẩy Bộ Tứ Kim Cương này là một chính sách mà tổng thống Joe Biden đã kế thừa những gì mà người tiền nhiệm đã đặt nền tảng.   Hôm nay ngày 19/2 các lãnh đạo G7 đã nhóm họp sau cuộc họp của 30 thành viên NATO vào thứ Tư và thứ Năm ngày 18/2, trong đó các đồng minh quân sự mạnh nhất thế giới được cho là đã thảo luận về một loạt thách thức, bao gồm cả Trung Quốc và Nga. Trong cuộc họp G7 ngoài việc đề cập đến vấn đề Covid-19 thì tổng thống Joe Biden còn thảo luận với các nước trong khối G7 đối phó với sự lớn mạnh của Trung Cộng. Trong 4 năm dưới thời Tổng Thống Donald Trump ông đã xa lánh đồng minh và cũng trong 4 năm đó Trung Cộng đã trở thành đối tác lớn nhất với EU. Đây là chính sách sai lầm của tổng thống Donald Trump mà giờ đây, Tổng Thống Joe Biden phải cố sức vá lại nhưng có vẻ là đã muộn. Hiện tại nền kinh lớn thứ nhì và thứ ba của G7 là Nhật Bản và Đức đã dính rất chặt vào Trung Cộng. Nhật Bản thì đang đứng trong RCEP với Trung Cộng, còn với Đức thì khó mà xa Trung Cộng vì Trung Quốc là thị trường tiêu thụ lớn nhất của loại ô tô Đức.   Như vậy về đối ngoại, không phảiTổng Thống Joe Biden lật hết những chính sách của Tổng Thống Trump như nhiều nguồn tin thất thiệt loan tin mà Tổng Thống Joe Biden đã làm có chọn lọc. Ông vá lại những sai lầm dưới thời Trump và giữ lại những di sản có lợi cho nước Mỹ mà Tổng Thống Trump đã làm. Được biết, trong một trả lời phỏng vấn của đài CNBC hôm ngày 18/2, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen cho biết rằng Hoa Kỳ sẽ giữ nguyên mức thuế áp đối với hàng hóa Trung Quốc của chính quyền Trump trước đây và sẽ "đánh giá những gì chúng tôi cho là phù hợp trong tương lai."   Đấy là những bước đi trong chính sách đối ngoại của Tổng Thống Joe Biden. Có lẽ ông không thể lấy lại được ảnh hưởng của Mỹ như trước đây nữa mà chỉ có thể hạn chế sự trỗi dậy của Trung Cộng mà thôi. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo đánh giá rằng, Tổng Thống Donald Trump đánh Trung Quốc bằng cách xả nguyên băng đạn vào một điểm còn Tổng Thống Joe Biden thì bắn rải rác mà không phí đạn như Tổng Thống Trump. Còn các bạn nghĩ sao về nhận xét như thế? Trung Cộng ngại ai hơn?   -Đỗ Ngà-   Tham khảo: https://soha.vn/asia-times-ly-do-an-do-tu-choi-rcep... https://www.ndtv.com/.../in-call-with-pm-modi-biden... https://www.globaltimes.cn/page/202102/1215946.shtml https://www.globaltimes.cn/page/202102/1215943.shtml
......

Việt Nam đã mất khả năng kiểm soát lây lan Covid-19 trong cộng đồng?

Đăng Phong – Việt Tân Tối ngày 14 tháng Ba, 2021 vừa qua, Trung Tâm Kiểm Soát Dịch Bệnh CDC Hà Nội chính thức công bố công dân Nhật Bản tử vong tại khách sạn Somerset – quận Tây Hồ mắc Covid-19. Theo báo Thanh Niên, bệnh nhân dương tính với Covid-19, mã số BN2229 đã cách ly tập trung tại TP.HCM từ ngày 17 đến ngày 31 tháng Giêng và được xét nghiệm âm tính 2 lần, kết thúc cách ly ngày 31 tháng Giêng. Đến ngày 1 tháng Hai, bệnh nhân ra Hà Nội trên chuyến bay VN254 về trú tại khách sạn Somesert West Point – số 2 Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội. Ngày 13 tháng Hai, bệnh nhân tử vong tại khách sạn và mẫu bệnh phẩm được lấy xét nghiệm cho kết quả dương tính. Từ trường hợp bệnh nhân người Nhật Bản có thể thấy các vấn đề và nguy cơ lây nhiễm như sau: – Mức độ chính xác trong xét nghiệm nhanh sàng lọc Covid-19 ở cơ sở cách ly TP.HCM có vấn đề. Chưa xét tới trình độ của kiểm nghiệm viên y sinh, cần phải khoanh vùng các rủi ro có thể xảy ra đối với bộ kit xét nghiệm nhanh Covid-19. Có thể những bộ kit thử nhanh đã không còn chính xác vì lý do nào đó (bảo quản, vận chuyển) hoặc đã giảm khả năng phát hiện, giảm tính đặc hiệu đối với kháng nguyên chủng Covid mới…? Lưu ý rằng bệnh nhân người Nhật Bản không phải là bệnh nhân duy nhất âm tính hai lần với test thử; – Các bệnh nhân biểu hiện lâm sàng không rõ ràng và có kết quả âm tính trở về cộng đồng đã tạo ra những chuỗi lây nhiễm không thể truy vết và kiểm soát, khiến cho việc khoanh vùng trở thành vô nghĩa. Là những người đã sớm có những cảnh báo hết sức nghiêm túc về thảm họa toàn cầu Covid-19 trong bài viết “Thảm họa toàn cầu mang tên Coronavirus 2019-nCoV” vào ngày 2 tháng Hai, 2020 – thời điểm mà chính quyền CSVN còn rất thờ ơ với các rủi ro về dịch bệnh này, người viết đề nghị với ông Vũ Đức Đam chỉ đạo cơ quan chức năng chuyên môn xem xét lại ngay một số biện pháp sau: – Cần phải đánh giá lại ngay tính đặc hiệu, độ nhạy của các kit ELISA (ELISA IgM và IgG) với chủng Covid-19 mới cũng như qui trình vận chuyển, bảo quản kit thử và giám sát việc sử dụng các kit thử này. Đề nghị CDC Việt Nam chuyển sang kiểm tra hoàn toàn bằng RT-PCR đối với “nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao” – Ví dụ như đối với tất cả người dân trong “ổ dịch” Hải Dương hay đối tượng là các chuyên gia nước ngoài nhập cảnh, các F1. Mặc dù, đây là một điều hết sức khó khăn vì năng lực thiết bị và con người lực lượng ngành y tế đang rất căng thẳng. Chúng tôi đồng cảm với khó khăn và áp lực mà các bác sĩ Việt Nam đang phải đối mặt; – Qui trình và qui định thời gian cách ly cũ đối với việc xuất hiện chủng Covid mới đã không còn phù hợp. Rõ ràng, với chủng Covid19 mới, nhiều bệnh nhân đã không có biểu hiện lâm sàng rõ rệt và cho kết quả xét nghiệm âm tính nhiều lần. Như vậy, thời gian cách ly 14 ngày và với kỹ thuật xét nghiệm sàng lọc cũ cần phải xem xét điều chỉnh lại ngay để giảm bớt rủi ro khả năng những bệnh nhân đã ủ bệnh nhưng có kết quả xét nghiệm âm tính quay trở lại cộng đồng, tạo ra chuỗi lây nhiễm mới; – Rủi ro lây nhiễm chéo trong các khu cách ly và bệnh viện ở Việt Nam là rất lớn. Người viết đã có những bài viết cảnh báo việc lây nhiễm chéo có thể xảy ra ngay trong đội ngũ y bác sĩ và với chủng Covid-19 mới sẽ nguy hiểm hơn rất nhiều.   Tính đến thời điểm này, mục tiêu khoanh vùng và dập dịch trong 10 ngày của ông Vũ Đức Đam đã không thể thực hiện được. Chỉ trong vòng hơn nửa tháng, số bệnh nhân đã tăng chóng mặt với trung bình 30 đến 50 ca nhiễm mới mỗi ngày. Con số thống kê mới đây nhất kể từ 27 tháng Giêng tới hết ngày 15 tháng Hai, 2021, Việt Nam đã có thêm gần 700 ca nhiễm mới và hàng trăm ngàn người phải cách ly. Tuy nhiên, các ca lây nhiễm trong cộng đồng vẫn xuất hiện mà không thể xác định nguồn lây nhiễm. Theo dõi diễn biến dịch bệnh suốt 10 ngày qua, người viết cho rằng đợt dịch bệnh bùng phát lần này đã có dấu hiệu mất kiểm soát. Không phải vì năng lực của hệ thống y tế và chính quyền mà yếu tố khách quan mới xuất hiện (có tới 4 biến chủng Covid-19 mới với những đặc tính dịch tễ, lâm sàng mới) nằm ngoài khả năng tầm soát theo qui trình phòng chống, kiểm soát đã thực hiện khá thành công suốt năm 2020. Với đặc tính ủ bệnh nhưng không có triệu chứng lâm sàng và không bị phát hiện bởi các kit thử nhanh, mầm bệnh đã được các bệnh nhân lây lan trong cộng đồng, rất khó truy vết, khoanh vùng. Do đó, về biện pháp dịch tễ, cần phải có những biện pháp mạnh đối với những vùng địa lý đã trở thành ổ dịch như Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Nội, Sàigòn. Cần thực hiện giãn cách xã hội ở mức độ phù hợp tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM. Trong khi, chính quyền cần nhanh chóng xúc tiến kế hoạch sản xuất, nhập khẩu vaccine, ưu tiên cho các vùng lãnh thổ và nhóm đối tượng có nguy cơ cao, bệnh đang lan rộng. Dù biết rằng việc giãn cách xã hội và phong tỏa các thành phố sẽ khiến cuộc sống của người dân vô cùng khó khăn và kinh tế thiệt hại lớn. Xong không còn giải pháp nào khác. Giới chức Việt Nam hãy thôi bớt “nổ” về những mục tiêu tăng trưởng hoang tưởng, chấm dứt trò hề đại hội đảng tốn kém vô bổ mà hãy tập trung vào việc phòng chống dịch bệnh, chuẩn bị sẵn sàng mạng lưới cung ứng nhu yếu phẩm cho người dân trong điều kiện thời chiến – trường hợp các thành phố lớn như Quảng Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Sàigòn sẽ bị giãn cách xã hội hoặc hoàn toàn phong tỏa, giới nghiêm như Vũ Hán sẽ là một khả năng rất cao trong thời gian tới. Cần chuẩn bị các phương án trong trường hợp xấu nhất. Đã có rất nhiều thông tin các đơn vị quản lý các khu cách ly tập trung như ở Quảng Ninh nhân dịp này đã ăn chặn, ăn bớt các suất ăn của người dân trong khu cách ly đã được các facebooker đưa tin trên mạng xã hội những ngày qua. Người dân lao động bị mất thu nhập bởi dịch bệnh đã quá khó khăn, việc ăn trên xương máu, lợi dụng lúc thiên tai dịch bệnh để làm tiền người dân như thế thực quá mức táng tận lương tâm. Giới chức CSVN nên biết chỗ nào và lúc nào có thể ăn và “ăn vụng cũng phải biết chùi mép”. “Ăn bẩn” quá… có ngày “ngộ độc.’” Hy vọng rằng vaccine sẽ sớm được nhập về và phân phối với giá mà dân lao động cũng được tiêm phòng, chứ đem sinh mạng người dân ra làm tiền trong lúc này thì khốn nạn qúa Đảng ạ. Đăng Phong  
......

Sau Tết, mối nguy Việt Nam vỡ trận vì Covid-19

VietTuSaiGon’s blog – RFA Việt Nam với Covid-19 cũng giống như một người ngồi dưới chân đập, khi đập tràn thì người ngồi dưới chân đập có thể không bị ướt, nhưng khi vỡ đập thì người ngồi dưới chân đập hết đường chạy, chỉ có một hệ quả duy nhất là chết. Trong suốt gần năm qua, Covid-19 có vẻ như không hề hấn gì với Việt Nam, đến lần báo động thứ ba này thì mọi chuyện đã hoàn toàn khác. Vì sao? Ở đây có mấy vấn đề: Vì sao gần một năm qua, tình hình chống dịch tại Việt Nam luôn giữ ngưỡng an toàn? Các số liệu an toàn về chống dịch tại Việt Nam có xác suất bao nhiêu phần trăm đúng, chính xác? Và tại sao đợt bùng phát thứ ba này có thể gây vỡ trận với Việt Nam? Ở vấn đề thứ nhất, vì Việt Nam quá gần Trung Quốc, người Việt vốn rất ngán ngẩm những gì liên quan đến hai chữ Trung Quốc nên khi nghe Vũ Hán vỡ trận thì hầu hết người Việt đều rất lo lắng, phòng thủ, giá khẩu trang tăng dồn dập, tất cả các loại tinh dầu được cho rằng sẽ ngăn ngừa được virus đều tiêu thụ rất nhanh và tăng giá vùn vụt, từ người giàu cho đến người nghèo đều tích trữ lương thực phòng khi có biến. Và hơn hết, Việt Nam là một quốc gia vẫn còn giữ được nền nông nghiệp chủ đạo, lương thực không bị khan hiếm, hơn nữa các loại thực phẩm và lương thực dành để xuất sang Trung Quốc được giữ tại chỗ, tiêu thụ tại chỗ và lượng cung đột ngột tăng. Chính điều này khiến cho các đợt cách ly, giãn cách đầu tiên diễn ra khá thuận lợi. Vì người dân không chủ quan, phòng chống ráo riết, vì lương thực dự trữ luôn ở mức thừa và có sự hỗ trợ, luân chuyển lương thực kịp thời. Bên cạnh đó, câu hỏi thứ hai cũng cần được giải quyết rõ ràng, đó là các số liệu an toàn chống dịch tại Việt Nam có đáng tin cậy hay không? Cho đến thời điểm này, khi một ca nhiễm là lao động Việt Nam sang Nhật Bản, bị phát hiện dương tính và sau đó là hàng loạt ca nhiễm khác thì có vẻ như chỉ số an toàn Covid-19 tại Việt Nam rất đáng nghi ngại. Bởi vì trước khi lên máy bay sang Nhật hay bất kỳ quốc gia nào, người di chuyển phải qua kiểm tra sức khỏe, kiểm dịch. Sau khi mọi thứ an toàn mới được lên chuyến bay. Cô gái là công nhân bay sang Nhật cũng không ngoại lệ. Rõ ràng, ở đây có một sự sai sót từ phía Việt Nam, và điều đó khiến người ta suy nghĩ, đặt dấu hỏi liệu những sai sót này có phải là trường hợp đặc biệt? Và với bệnh dịch, không có đặc biệt hay bình thường mà chỉ có sai sót hoặc chính xác, nếu chính xác thì có thể phòng chống, ngăn ngừa tốt, nếu sai sót thì mọi thứ có thể bùng nổ. Một khi dịch bùng nổ thì hậu quả của nó khỏi phải nói thêm! Và, điều đáng sợ hơn cả đã xảy ra, có nghĩa là trạng thái “vỡ đập” Covid-19. Vỡ đập ở đây phải được hiểu là thành trì an toàn trong ý thức người dân đã bị phá vỡ chứ không phải thành trì chống dịch bị vỡ. Thành trì chống dịch bị vỡ là hệ quả tất yếu sau khi thành trì tâm lý/ý thức bị vỡ. Vì, sau hai đợt chống dịch, Việt Nam rơi vào tình trạng tự mãn tột đỉnh, hầu hết cán bộ, đảng viên đều “tự hào” về thành tích chống dịch, giới cán bộ y tế bắt đầu có biểu hiện tự mãn, hách dịch vì những thành tích có được và đặc biệt, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc không ngại ngần tuyên bố rằng “Ngày xưa, cột điện Việt Nam chạy sang Mỹ thì bây giờ, nếu cột điện Mỹ mà có chân, nó cũng sẽ tìm chạy sang Việt Nam”, câu nói này ngụ ý tình trạng y tế ổn định và chống dịch tốt của Việt Nam trong lúc Mỹ như dầu sôi lửa bỏng vì Covid-19. Câu nói tự mãn của Thủ tường Phúc vô hình trung trở thành trái bộc phá đánh thẳng vào thành trì ý thức của người Việt Nam, thay vì tự hỏi liệu chống dịch đến bao giờ, liệu phải làm gì để duy trì chống dịch, liệu phải có kế hoạch tài chính dài hạn ra sao trước tình hình biến động vì dịch của thế giới…? Thì người ta trở nên chủ quan, vui chơi, hưởng thụ. Nhất là trong dịp Tết, dường như không riêng gì người dân mà cả thành phần cán bộ, trí thức vẫn tỏ ra chủ quan, lơ là trước đại dịch. Ăn nhậu, hát hò, tụ tập đám đông, tổ chức bán pháo hoa, tổ chức hội hè đình đám… Dường như các tỉnh chưa được báo động đều không ngán gì dịch. Và trong cái Tết Tân Sửu này, lượng người di chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác có thể nói là không thể quản lý được. Chỉ riêng chuyện người Trung Quốc trốn sang Việt Nam không thôi cũng đã khiến cho ngành an ninh Việt Nam phải chạy đôn chạy đáo, tìm tới tìm lui để truy vết, để chặn giữ. Còn chuyện người tỉnh này qua tỉnh khác thì không có an ninh nào quản lý nổi. Ví dụ như người từ Sài Gòn về Quảng Nam, Thừa Thiên Huế hay các tỉnh miền Trung đều có thể lên máy bay nếu không ở các quận báo động. Trong khi đó, ai dám đảm bảo không có các tương tác, giao lưu giữa quận này với quận kia! Và ai dám đảm bảo người từ quận an toàn không hề qua lại với quận bị báo động trước đó? Mọi thứ hoàn toàn mù mịt. Và việc di chuyển, giả sử có quản lý thì cũng chẳng thể. Tình trạng chuyển xe, thuê/mượn xe từ tỉnh an toàn để đi sang tỉnh khác xảy ra khắp mọi nơi. Ví dụ như người Hà Nội vào Đà Nẵng, các trạm kiểm dịch bên đường chỉ nhìn biển số xe, nếu là xe mang biển số 29 thì cảnh sát giao thông sẽ chặn xe, cho kiểm tra thân nhiệt và có thể đưa đi cách ly. Nhưng, để đối phó tình trạng này, không ít người Đà Nẵng ở Hà Nội trong lúc bị dịch, đã bí mật sang tỉnh Thanh Hóa để thuê xe về Đà Nẵng, thậm chí “kĩ” hơn, người ta đi xe từ Thanh Hóa vào Nghệ An rồi lại đi xe Nghệ An về Đà Nẵng, chẳng mấy ai kiểm tra, chốt chặn gì. Chỉ riêng vấn đề đi lại trong ba ngày Tết tại các tỉnh thành Việt Nam là không thể quản lý được. Rồi chuyện tụ tập, ăn nhậu, giải trí, hát với nhau, người này chuyền micro cho người khác hát, cứ như vậy, cái micro có thể là đường dẫn tốt nhất trong việc truyền dịch bệnh ở các đám tụ tập tất niên, cưới hỏi, họp lớp, họp mặt đầu năm. Đáng sợ hơn cả, dịch chính là cơ hội để người ta uống rượu bia tốt nhất. Vì khi có báo động dịch, hoạt động kiểm tra nồng độ cồn trong máu của ngành cảnh sát giao thông bị giảm thiểu tối đa, người ta bắt đầu chủ quan, ăn uống, thậm chí uống rượu bia rồi vẫn cầm vô lăng lái xe hơi. Và khi tình trạng chủ quan, lơ là diễn ra khắp mọi ngõ ngách thì khó lòng để nói rằng dịch không luân chuyển từ nơi này sang nơi khác. Một cái Tết mà mọi thứ hoạt động mặc dù không được nhà nước đồng tình nhưng vẫn diễn ra khắp mọi nơi, người ta vẫn đi chơi, vẫn thoải mái, nếu cẩn thận một chút thì đeo khẩu trang trong các đám đông… thì liệu nó có an toàn trong việc phòng chống dịch? Không, câu trả lời là quá nguy hiểm, bởi thành trì ý thức trong người dân đã bị đánh sập, một khi thành trì này bị đánh sập thì mọi thứ phòng chống chỉ có tính vá víu, tạm bợ, đối phó tức thời. Và điều đáng sợ khác là hầu hết cán bộ địa phương tại Việt Nam đều có trình độ tri thức rất yếu kém, xài bằng giả nhiều, nên việc cập nhật về phòng chống dịch của họ cũng méo mó. Ví dụ như dễ thấy nhất là tỉnh Hải Dương hiện tại và hầu hết các trạm cách ly trước đây đều để những người cần cách ly sống chung trong một khu, các sinh hoạt, tương tác hằng ngày của họ có thể gây nhiễm chéo nếu như trong số họ có người dương tính. Tôi chứng kiến một trạm trưởng trạm y tế xã, người chỉ huy kĩ thuật của một chốt kiểm dịch và một trung tâm cách ly ở một xã miền Trung trong đợt chống dịch lần 2. Khi chứng kiến hành trạng của ông này, tôi quyết định sẽ không có bất kỳ tiếp xúc gần nào với ông, bởi thái độ chủ quan, lơ là, làm để lấy thành tích chứ không đảm bảo vệ sinh an toàn chống dịch của ông ta khiến tôi rất lo rằng nếu trong những người cách ly này có một người dương tính thì xem như xong. Cái bài chống dịch lùa hàng loạt người vào khu cách ly, trích tiền công quĩ và kêu gọi đoàn thể, hội đoàn nấu ăn, tiền hô hậu ủng của các chính quyền địa phương chỉ cho thấy tính thiếu an toàn và tính phong trào, lấy thành tích quá cao nhưng hiệu quả thì khó lường. Và với kiểu làm việc này, chắc chắn sẽ không có độ bền, khi chưa có dịch thực sự thì mọi thứ náo động, hội này, đoàn nọ nấu cơm, mang cơm, chụp hình, kêu gọi quyên góp… Nhưng khi dịch thực sự xảy ra thì mọi thứ bắt đầu mỏi, tính vô trách nhiệm và xôi thịt hiện ra rất rõ, đến suất ăn hằng ngày của người đang cách ly cũng bị cắt xén thê thảm, và không chừng, khi thực sự bùng vỡ như Vũ Hán ở bất kì tỉnh nào tại Việt Nam, thì kẻ hốt của bỏ chạy đầu tiên chính là các cán bộ phòng chống dịch. Nghĩa là họ cắt xén, gom lương thực cho bản thân, gia đình, người thân của họ để đảm bảo sống sót, các khu cách ly sẽ bị bóc đến lớp cuối cùng. Chuyện này đã xảy ra khá nhiều trong các hoạt động cứu trợ, từ thiện sau thiên tai. Bởi chống dịch có chỉ đạo và sách lược nhà nước, chính phủ nên mọi chuyện vẫn chưa đến nỗi lộn xộn khi tình hình còn quản lý được. Trường hợp vỡ trận thì khó mà lường được chuyện gì xảy ra! Sau Tết Tân Sửu, mọi thứ vẫn là một ẩn số đầy bí hiểm. Mọi người nên hết sức cẩn thận, đừng chủ quan lơ là giây phút nào! VietTuSaiGon’s blog  
......

Chuyên gia WHO sập bẫy Bắc Kinh

Phạm Nhật Bình - Web Việt Tân| Ngày 9 tháng Hai, sau gần một tháng điều tra nguồn gốc dịch bệnh Covid-19, phái đoàn WHO đã họp báo tại thành phố Vũ Hán công bố kết quả. Đáng lẽ sau khi hoàn thành nhiệm vụ, phái đoàn nên trở về Genève, Thụy sĩ là nơi tổ chức Y Tế Thế Giới đặt trụ sở để họp báo. Nhưng họ lại chọn Vũ Hán để quanh co tuyên bố rằng không tìm thấy nguồn gốc virus Corona. Như vậy chuyến đi coi như thất bại vì không đưa ra được những gì mà thế giới mong đợi với những kết luận mơ hồ và đầy mâu thuẫn của trưởng phái đoàn Ben Embarek. “Khả năng virus bị rò rỉ từ một phòng thí nghiệm, vốn là chủ đề của các thuyết âm mưu, là rất khó xảy ra và không cần nghiên cứu thêm.” Kết quả công bố giống như một lời biện hộ mạnh mẽ đối với nước chủ nhà. Nó cho thấy phái đoàn chuyên gia của WHO không cho thấy sự minh bạch cần có hay sự độc lập của các nhà khoa học, mà chỉ tô đậm thêm điều có thể gọi là phái đoàn WHO sập bẫy Bắc Kinh. Chính vì thế mà Hoa Kỳ và Anh là hai nước đầu tiên lên tiếng không công nhận kết quả điều tra vì thiếu sự minh bạch quá rõ ràng. Chỉ hai ngày sau, truyền thông Úc tỏ ý nghi ngờ kết quả điều tra của nhóm chuyên gia WHO. Đài truyền hình Sky News của Úc ngày 14 tháng Hai nói báo cáo của WHO không trung thực vì ít nhất có 3 thành viên trong phái đoàn trước đây có “quan hệ mờ ám” với Bắc Kinh. Qua sự điều tra và tiết lộ của đài truyền hình Sky News cho thấy Bắc Kinh đã sử dụng chiêu “mua chuộc” để thao túng nhóm chuyên gia, sau khi dùng 2 chiêu đầu “ngăn cản” và hăm dọa” đã thất bại. Sự mua chuộc này nhằm hướng tới một kết luận về Covid-19 hoàn toàn có lợi cho Bắc Kinh. XEM THÊM: WHO và Covid-19 Ba chuyên gia được Sky News nêu tên được biết đều có làm ăn buôn bán với Bắc Kinh. Điều này càng cho thấy các chuyên gia của WHO trong phái đoàn vào Vũ Hán đều có sự đồng ý của nhà cầm quyền Trung Quốc. Cho nên kết quả điều tra là kết quả bị mua chuộc cũng là điều hiển nhiên. Nói cách khác, chuyến đi gọi là để điều tra của WHO vào Vũ Hán hoàn toàn bị sập bẫy của Bắc Kinh. Và những gì phái đoàn báo cáo rõ ràng là có lợi cho nhà cầm quyền Trung Quốc mà không đem lại chút lợi ích nào cho thế giới. Sự khống chế của Trung Quốc đối với các cơ quan Liên Hiệp Quốc trong những năm gần đây đã quá rõ ràng. Có thể kể ra gần đây nhất, năm 2019 Khuất Đông Ngọc (Qu Dongyu), Thứ Trưởng Bộ Nông Nghiệp Trung Quốc đắc cử tổng giám đốc Tổ chức Lương Nông Quốc Tế (FAO). Tháng Ba, 2019 Bắc Kinh chiếm một ghế trong một hội đồng thuộc Tổ chức Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC); hội đồng 5 thành viên này có quyền tuyển chọn các báo cáo viên về vi phạm nhân quyền. Tổng thư ký Liên Minh Viễn Thông Quốc Tế (ITU) hiện nay là Houlin Zhao giữ ghế này từ 2015 với nhiệm kỳ 7 năm. Ngoài ra trước đây, Trung Quốc đã từng đưa được một nhân vật  là thứ trưởng công an vào ghế chủ tịch INTERPOL, nhưng sau đó Mạnh Hoành Vỹ bị lừa về nước và bị bắt năm 2018 về tội tham nhũng. Sự kiện Mạnh Hoành Vỹ cho thấy tất cả những nhân vật lãnh đạo người Trung Quốc dù ở trong tổ chức nào trên thế giới đều bị Bắc Kinh kiểm soát chặt chẽ. Vì thế việc Bắc Kinh khống chế được WHO hay những tổ chức khác là chuyện không làm ai ngạc nhiên. Qua sự kiện này, một lần nữa cho người ta thấy mấy điều sau: 1/ Trung Quốc đã ngang nhiên coi thường sự quan tâm của cả thế giới trong việc truy tìm nguồn gốc virus Corona để chung sức ngăn chặn dịch bệnh trong tương lai. Bằng những thủ thuật gian trá, giấu giếm thông tin, xoá bỏ vết tích, Trung Quốc hoàn toàn không hợp tác với phái đoàn điều tra của WHO vì sợ sự thật bị khám phá; 2/ Sự thiếu minh bạch của WHO là do bị Trung Quốc khống chế một cách rõ ràng. Ngoại trừ các nước như Anh, Mỹ, Nhật, Úc và Âu châu các quốc gia còn lại không mạnh dạn lên tiếng đòi làm rõ để ngăn chặn sự thao túng của Trung Quốc trong tương lai. Điều đó được coi như một sự khuyến khích khiến Bắc Kinh tiếp tục lấn lướt trong thời gian tới, vì họ tự biết có thể dùng ảnh hưởng tài chính và chính trị để mua chuộc, o ép các nước nhỏ đi theo mình; 3/ Ngày 15 tháng Hai, Thủ Tướng Anh Boris Johnson đã lên tiếng kêu gọi thế giới ký một hiệp ước toàn cầu chống đại dịch nhằm “bảo đảm sự minh bạch về chia sẻ các dữ liệu thông tin” khi dịch bệnh bùng phát. Sự kiện này là điều cần thiết, nhưng quan trọng hơn hết là thế giới cần có một hội nghị độc lập bao gồm những chuyên gia kinh tế để đưa ra những nhận định và phân tích chính xác về thảm nạn Covid-19 hiện vẫn đang hoành hành. Khi nguồn gốc và sự thiệt hại do Covid-19 gây ra được xác định, bất cứ quốc gia nào dù vô tình hay cố ý phát tán virus Corona đều phải chịu trách nhiệm và lên án nghiêm khắc. Phạm Nhật Bình XEM THÊM: WHO và Covid-19  
......

Sự sụp đổ của Hong Kong và tương lai các nền dân chủ Châu Á

Tân Phong - Web Việt Tân| Phần 2 của loạt bài “Chính biến ở Myanmar, đại hội đảng CSVN 13 và sự sụp đổ của Hong Kong: Trung Quốc đang vẽ lại bản đồ Châu Á như thế nào?” Những “kẻ thực dân xâm lược” người Anh đã mất cả trăm năm để xây dựng một Hong Kong trở thành “hòn ngọc Châu Á,” biểu tượng rực rỡ nhất cho một xã hội tự do cá nhân được tôn trọng, Pháp Quyền được thực thi và dân chủ được Hiến Pháp bảo vệ. Thế nhưng, những người theo chủ nghĩa cộng sản – thứ chủ nghĩa luôn xưng danh là chủ nghĩa đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người… theo tinh thần nguyên thủy của Marx – đã đạp đổ thành tựu vô song ấy tan tành trong chốc lát. Cuộc đấu tranh bảo vệ nền dân chủ trong đơn độc và tuyệt vọng của 6 triệu người dân Hong Kong đã bị đảng Cộng Sản Trung Quốc nghiền nát bằng “bạo lực cách mạng.” Phương Tây và Hoa Kỳ đã đứng nhìn Tập Cận Bình tái hiện lại cuộc thảm sát Thiên An Môn ở ngay thế kỷ 21. Không có một biện pháp đủ mạnh để dừng bàn tay của tên đồ tể giết chóc ngoài những ồn ào truyền thông, phản đối ngoại giao và tweet… Tuy họ Tập không đem xe tăng vào Causeway Bay để nghiền nát những thanh niên Hong Kong như ở ngay quảng trường Thiên An Môn vào rạng sáng ngày 4 tháng Sáu, 1988 nhưng các cuộc trấn áp âm thầm, trong bóng tối, thủ tiêu, bỏ tù những tiếng nói đấu tranh dân chủ đã không kém phần tàn bạo và sắt máu. Người viết có một người thân làm việc cho hãng Hàng Không Cathay Pacific, Hong Kong. Anh là một người trầm lặng, một tài năng về công nghệ và rất yêu Hong Kong. Năm 1997, gần như tất cả gia đình anh đã di cư sang Anh khi Hong Kong được trao trả về cho Trung Quốc. Những người ở thế hệ của anh biết về cuộc thảm sát ở Thiên An Môn và hiểu thế nào là chủ nghĩa cộng sản. Người anh trai làm cho chính phủ thuộc địa đã thuyết phục anh di cư nhưng anh từ chối và ở lại. Chính vì anh ở lại Hong Kong nên người mẹ – tức bác của người viết, cũng chọn ở lại cùng với người con trai. Trong cuộc nói chuyện gần đây, anh nói rằng rất hối hận vì đã không di cư cùng gia đình và bây giờ điều đó đã quá muộn (chính quyền đặc khu cấm công dân Hong Kong di cư dưới bất cứ lý do nào). Mặc dù công việc của anh hiện vẫn ổn nhưng giờ đây cuộc sống của người Hong Kong đã rất khác. Bằng một giọng buồn bã anh nói “Hong Kong đã chết rồi!” và cho biết chỉ trong năm 2020, tỷ lệ tội phạm hình sự đã tăng 4 lần và nền kinh tế rơi vào trạng thái chết lâm sàng bởi làn sóng biểu tình suốt năm 2019 và đàn áp chính trị khốc liệt. Việc bắt bớ, quấy nhiễu và xâm phạm quyền tự do cá nhân hết sức nghiêm trọng. Nhiều nhân viên Cathay Pacific đã bị buộc phải thôi việc vì tham gia biểu tình. Không ai có thể hiểu nổi nỗi đau đớn, sự phẫn uất tột cùng khi bị chà đạp và tước đoạt những quyền Tự Do hơn chính những người Hong Kong. Phải chăng, người ta chỉ có thể nhận thức “không gì quí giá hơn Tự Do” chỉ khi điều thiêng liêng này bị tước đoạt, khi bị xịt hơi cay vào mặt một cách vô cớ, bị những kẻ nhân danh “luật pháp” có thể xông vào nhà riêng của bạn giữa đêm, bị những chiếc giày đinh thúc vào mạng sườn, bị quấn chặt băng keo vào mặt, bị cướp bóc của cải, bôi nhọ danh tiếng, bỏ tù không cần xét xử… thì lúc đó người ta mới nhận ra cái giá của Tự Do cũng quí giá không kém gì Cuộc Sống? Đối với một số người, họ có thể chọn cuộc sống mà không có Tự Do nhưng người viết tin rằng cũng còn rất nhiều người yêu Tự Do và sẵn sàng đánh đổi bất kể điều gì kể cả Cuộc Sống để chọn Tự Do. Những người Hong Kong chân chính, đáng kính như tỉ phú Lê Trí Anh (Jimmy Lai) hay Hoàng Chi Phong (Joshua Wong) là những người như vậy. Chỉ đơn giản họ hiểu rằng tất cả là vô nghĩa nếu Tự Do cá nhân và nền Dân Chủ không còn. Có không ít người trong “thế hệ vàng” của Lê Trí Anh đã xây dựng nên một Hong Kong diễm lệ, thịnh vượng bậc nhất ngày hôm nay là những người Quảng Đông, Phúc Kiến xuất thân từ giới cùng đinh nghèo khổ trốn chạy khỏi quê nhà tìm kiếm con đường sống ở Hong Kong. Họ đã có được cuộc đời huy hoàng ở mảnh đất mà họ được quyền tự do mưu cầu hạnh phúc, tài sản và sức lao động, tri thức của họ được pháp luật bảo vệ. Khi đến Hong Kong họ không có gì trong tay nhưng Tự Do đã cho họ tất cả. Đó cũng là lý do mà những người như ông  Lê Trí Anh bất chấp tù đày, hay bị tước đoạt tài sản, bị phỉ báng, cô lập, khủng bố… vẫn can đảm xuống đường đấu tranh bảo vệ các giá trị Tự Do và Dân Chủ . Những thế hệ tiếp nối như Hoàng Chi Phong đã xứng đáng là những hậu duệ tinh hoa của xứ Cảng Thơm mạnh mẽ, bất khuất. Giờ đây nhiều người tin vào lý thuyết “hiệu ứng cánh bướm” của Edward Norton Lorenz thì chẳng khó khăn gì nhìn thấy mối liên hệ rõ ràng giữa sự sụp đổ nền dân chủ 100 năm ở Hong Kong cho đến cái chết yểu của nền dân chủ mới tròn 5 năm tuổi ở Myanmar mà trong đó có cùng một tác nhân, cùng một tham vọng mang tên “giấc mộng Trung Hoa.” Trung Cộng đang thúc đẩy nhanh tiến trình bành trướng, xâm lược, đàn áp các nền dân chủ ở Châu Á một cách trực tiếp can thiệp như ở Hong Kong hoặc gián tiếp lật đổ chính thể dân sự ở ở Myanmar bằng hậu thuẫn cho cuộc đảo chính quân sự, thao túng chính trị và kinh tế ở Cambodia, Việt Nam, Laos, Philippines,… để thiết lập các thể chế độc tài chư hầu, phục vụ cho chiến lược thống trị toàn cầu của mình. Trong bài phát biểu chúc mừng năm mới của bà Thái Anh Văn đã làm cho rất nhiều người Hong Kong xúc động khi bà khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ phong trào Dân Chủ ở Hong Kong, tiếp tục chào đón  những người Hong Kong tị nạn trốn khỏi sự đàn áp của Trung Quốc Cộng Sản Đảng và động viên người dân giữ niềm tin vào chế độ Dân Chủ “Chế độ dân chủ có thể không hoàn hảo, nhưng cho tới nay đó vẫn là chế độ tốt nhất cho xã hội loài người. Xin hãy vững tin và đừng bỏ cuộc.” Đài Loan dưới thời bà Tổng Thống Thái Anh Văn (Tsai Ing-wen) đã trở thành “chốt chặn” đầy thách thức trước bá quyền nhuộm đỏ Châu Á của Tập Cận Bình. Người phụ nữ giản dị, nhỏ bé nhưng đầy mạnh mẽ này đang tạo ra một cảm hứng to lớn cho những người yêu Tự Do và Dân Chủ trên khắp thế giới, đặc biệt ở Châu Á. Quốc đảo nhỏ xíu với dân số chỉ khoảng 23 triệu người đang tự tin chống lại một thể chế độc tài hùng mạnh nhất thế giới, một quốc gia với 1,3 tỷ dân đầy lòng thù hận và tự tôn “Đại Hán.” Đó giống như một cuộc đối đầu giữa David và Goliath vậy. Không rõ, phép lạ có một lần nữa được hiển lộ hay không? Nhưng người Đài Loan có những thực lực đáng kể và sự chuẩn bị chu đáo mọi mặt để sẵn sàng cho cuộc đấu sinh tử bảo vệ nền Độc Lập và Dân Chủ của mình. Việc xây dựng một nền dân chủ quả thực không phải dễ dàng. Trong số hàng trăm cuộc bầu cử dân chủ đã được tiến hành ở khắp Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ la tinh diễn ra trong vòng 15 năm qua chỉ vài cuộc bầu cử có thể nhen nhóm thành công những nền dân chủ mong manh. Mọi quốc gia và dân tộc đều khao khát tự do và dân chủ. Nhưng việc xây dựng nền dân chủ thực sự và lâu bền, cùng với quyền lợi và các biện pháp bảo vệ nó thì khó khăn hơn nhiều. Những người dân Hong Kong hay Myanmar đã chứng kiến việc nền Dân Chủ bị chà đạp và Tự Do bị cướp bóc ngay trong tay họ như thế nào. Trong 5 luận cứ mà Jared Diamond đưa ra để xem xét các nguyên nhân chính yếu dẫn đến việc một nền văn minh hay một chủng tộc, quốc gia bị hủy hoại, diệt vong gồm có các yếu tố ảnh hưởng của con người hủy hoại thiên nhiên, môi trường (luận cứ 1), đến việc biến đổi khí hậu (luận cứ 2), các yếu tố quan hệ với xã hội lân cận cùng hợp tác (luận cứ 3), mối quan hệ với xã hội thù địch (luận cứ 4), và cuối cùng là các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa trong xã hội đó khiến cho xã hội nhận thức và giải quyết được các vấn đề môi trường (luận cứ 5). Bằng một sự uyên bác tới khó tin với kiến thức tổng hợp đa ngành sâu sắc, Jared Diamond đã đưa ra những phân tích xác đáng về sự suy tàn các nền văn minh và dân tộc, quốc gia từ quá khứ tới hiện đại. Trong đó, có những nghiên cứu mẫu tiêu biểu như về sự biến mất của tộc người Viking Na Uy, xã hội Maya, sự tan rã của Liên Xô hay suy tàn của Montana… Và một điều khiến người viết bàng hoàng nhận ra rằng tất cả những nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn các xã hội đã được Jared Dimond chỉ ra trong hai tác phẩm lừng danh “Sụp Đổ” (Collapse – 2005) hay “Súng, Vi Khuẩn và Thép” (Guns, Germs, and Steel – 1997) đều là những vấn đề nhức nhối, trầm kha mà các quốc gia nằm trên lộ trình “nhất đới, nhất lộ” của Trung Quốc đang phải đối mặt. Không ai khác, tác nhân thúc đẩy tiến trình làm suy vong và tan rã các dân tộc nhược tiểu đó là Trung Quốc Cộng Sản Đảng. Thậm chí, ngay cả Hong Kong có thực lực kinh tế hùng mạnh, có nền dân chủ lâu đời cũng dễ dàng bị Bắc Kinh dẫm nát, hủy hoại vì tham vọng quyền lực vô hạn của những tay đồ tể ở Nam Trung Hải. Dù sự suy tàn của các xã hội là khác biệt nhưng cũng đều có những điểm chung giống nhau. Người viết cũng đồng ý với cả 5 luận cứ của Jared Dimond. Nhưng từ sự sụp đổ của Hong Kong và tiếp tới là Myanmar, có lẽ một trong những con đường ngắn nhất để làm một xã hội rơi vào hỗn loạn và suy tàn là tước đoạt Tự Do cá nhân và bóp chết nền Dân Chủ ở xã hội đó. Đó chính xác là những gì Trung Cộng sẽ lần lượt thực hiện với tất cả các quốc gia Đông Nam Á nằm trong vùng ảnh hưởng của tham vọng toàn cầu của con rồng Trung Hoa. Tân Phong XEM THÊM: Phần 1: Khi giấc mơ dân chủ tan vỡ  
......

Cuộc chiến đẫm máu, dai dẳng chống Trung Cộng xâm lược Việt Nam bị coi nhẹ

CÂU LẠC BỘ LÊ HIẾU ĐẰNG| CUỘC CHIẾN ĐẪM MÁU, DAI DẲNG CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC BỊ COI NHẸ HẾT SỨC TRONG SÁCH LỊCH SỬ VIỆT NAM “CHÍNH THỐNG”   “5h sáng ngày 17-2-1979, 60 vạn quân Trung Quốc đồng loạt vượt biên giới kéo dài 1.400km tiến vào sáu tỉnh của Việt Nam gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu, điều động 9 quân đoàn chủ lực, 2.559 khẩu pháo, 550 xe tăng và thiết giáp tiến sâu vào đất Lạng Sơn, Lào Cai (30Km), Lai Châu (15km), Cao Bằng (50km).   Quân dân Việt Nam kiên cường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 tên địch, tiêu diệt, đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng, phá hủy 115 khẩu pháo và súng cối, thu nhiều vũ khí, bắt nhiều tên xâm phạm lãnh thổ Việt Nam”. (Trang 355, Tập 14, Lịch sử Việt Nam, NXB KHXH)   11 dòng trên là toàn bộ dung lượng viết về cuộc chiến chống Trung Quốc Cộng sản xâm lược Việt Nam trong 10 năm ròng rã đẫm máu từ 17/2/1979 đến tháng 12/1988 trong bộ sách “Lịch sử Việt Nam” của Viện Sử Học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam 15 tập, với 10.000 trang (khoảng 290.000 dòng). Riêng giai đoạn năm 1930 đến năm 2000 đã có 6 tập (tập 9-15), với tổng số khoảng 3.600 trang (ước khoảng 103.000 dòng).   1.Tại sao lại gọi đó là cuộc chiến đẫm máu?   Bởi nếu so với 58.000 lính Mỹ chết ở Việt Nam giai đoạn 1963-1973, thì số lính Trung Quốc chết là 62.500 tên (1979-1989), nhiều hơn 4.500 tên. Chưa kể ngoài cuộc chiến phía Bắc này, còn có cuộc chiến do Khmer Đỏ xâm lược Tây Nam Việt Nam 1979-1978 từ cùng một bộ não chỉ huy là Cộng sản Bắc Kinh, và với trang bị hậu cần, vũ khí giết người Việt Nam cũng “made in China” mà thiệt hại hai bên chưa thấy công bố (?)   Lịch sử rồi sẽ phải công khai sự thật số lượng người Việt Nam thương vong trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược ở cuối thế kỷ 20, nhưng theo các nhà quan sát phương Tây ước tính thì quân và dân Việt Nam hy sinh trong hai cuộc chiến biên giới mà nguyên nhân là từ Trung Quốc Cộng sản gây ra khoảng 100.000 người.   Còn nhiều sự thật đã phơi bày ngay trước thanh thiên bạch nhật: 4 thị xã của Việt Nam là Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Cam Đường bị quân Trung Quốc phá hủy hoàn toàn; 6 tỉnh Biên Giới phía Bắc Việt Nam bị Trung Quốc phá hủy triệt để hạ tầng giao thông gồm cả đường sắt, đường bộ, cầu cống, điện, nước, và các cơ sở kinh tế kỹ thuật khác như trụ sở cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, nhà ga, trường học, bệnh viện, cửa hàng bách hóa… nơi quân Trung Quốc đi qua. Sử “chính thống” không ghi, nhưng báo chí nói nhiều đến việc quân Trung Quốc thảm sát dã man người Việt Nam ở Tổng Chúp (chúng giết 43 phụ nữ, trẻ em rồi quăng xuống giếng ở Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, TP Cao Bằng tháng 3/1979). Chính vì sách Lịch sử “chính thống” viết quá sơ lược, thậm chí không viết về những sự kiện chiến tranh biên giới Việt – Trung trong những năm 1984-1989, nên rất nhiều người Việt Nam đến nay vẫn cho là cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược 17/2/1979 chỉ kéo dài 1 tháng.   Nhiều người Việt Nam trưởng thành vẫn tưởng nhầm cuộc chiến chống Trung Cộng xâm lược khởi đầu 17/2/1979 đã chấm dứt khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố hoàn thành rút quân 16/3/1979 do đã “dạy xong cho Việt Nam bài học”. Sự thật là do Trung Quốc thất bại nặng nề về quân sự, do vũ khí lạc hậu, kỹ chiến thuật lạc hậu, chỉ huy tác chiến kém, huấn luyện kém… khi tiến đánh Việt Nam, Đặng đã chỉnh huấn như vậy khi họp Quân ủy Trung Quốc.   Nhiều sự thật về những trận chiến sau đó, mà sách sử “chính thống” không nhắc đến, ví dụ sơ lược vài dòng như sau:   Từ tháng 4/1984 – 12/1988, tại khu vực núi đá Vị Xuyên, Hà Giang là nơi được các chiến sĩ tiền tiêu Việt Nam ở các sư đoàn F356, F313, F312, F316… gọi là “lò vôi thế kỷ” (do hứng chịu hàng trăm ngàn quả đạn pháo cả hai bên làm núi đá bị nung nóng thành vôi) đã đối đầu với nhiều sư đoàn, quân đoàn, quân khu của Trung Quốc tấn công đánh chiếm, tái chiếm giằng co từng mét đất biên cương, bộ đội Việt Nam đã tổn thất 4.000 (có nguồn ghi 5.000 ) sĩ quan chiến sĩ hy sinh, hơn 9.000 bị thương, hàng chục người bị bắt. Nhiều Liệt sĩ Việt Nam ở khu vực này đến nay không có mộ, nhiều ngôi mộ vô danh vì cuộc chiến quá ác liệt nên thị nát xương tan lẫn lộn, khi quy tập đã không xác định được hình dạng, họ tên! Chỉ riêng tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên giai đoạn (1984-1989) quân Trung Quốc bị chết 15.178 tên, bị thương 17.757 tên.   Chỉ trong một đêm 12/7/1984 mở màn chiến dịch tiến công tái chiếm các điểm cao 685, 1509, 772, 1030 do quân Trung Quốc đánh chiếm từ tháng 4/1984, riêng F356, quân đoàn 29, Quân khu II của Việt Nam đã thiệt hại hơn 600 sĩ quan, chiến sĩ (có nguồn ghi ngày đó, tại các điểm cao trên các Sư đoàn Việt Nam bị thiệt hại 1200)“. (Tóm tắt trang 449, 450 sách VỊ XUYÊN & THẾ SỰ VIỆT TRUNG của Phạm Viết Đào)   Quân Trung Quốc còn thảm sát 64 sĩ quan chiến sĩ công binh Việt Nam ra xây đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988, và Trung Quốc đã chiếm đảo Gạc Ma và nhiều đảo đá khác thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam cho đến nay.   Những sự phá hoại và giết chóc hàng vạn người Việt Nam do Trung Quốc gây ra cho Việt Nam (1979-1989) đã vượt quá bao lần giá trị Trung Quốc viện trợ hậu cần, nhân sự và vũ khí cho Việt Nam đuổi Pháp (1950-1954) giúp tạo vùng đệm an toàn cho biên giới phía Nam của Cộng sản Trung Quốc, và để Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chống Việt Nam Cộng hoà (thực chất là giết hại đồng bào Miền Nam Việt Nam) và “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” (1954-1975)? … 2. Tại sao lại gọi là cuộc chiến dai dẳng?   (a) Nếu định nghĩa chiến tranh xâm lược là một quốc gia đưa quân đi giết người của nước đối phương để chiếm lãnh thổ, thì cuộc chiến Trung Quốc xâm lược Việt Nam vẫn chưa kết thúc. Vì từ vụ Trung Quốc xâm lược, bắn giết người Việt Nam để chiếm Hoàng Sa của Việt Nam 19/1/1974; tiếp đó là Bắc Kinh dùng cộng sản Polpot xâm lược Tây Nam Việt Nam; đặc biệt cuộc xâm lược 6 tỉnh biên giới Bắc Việt Nam từ 17/2/1979 -1989; vụ thảm sát 64 sĩ quan binh sĩ Việt Nam tại Gạc Ma để chiếm Gạc Ma và một số đảo đá thuộc Trường Sa của Việt Nam 14/3/1988, cho đến nay, Trung Quốc vẫn đang chiếm giữ và xây căn cứ quân sự trên đó. Cuộc chiến tranh sử dụng “sức mạnh cứng” như thế chưa kết thúc.   (b) Nếu xét theo loại hình xâm lược bằng “sức mạnh mềm” như dùng chiến tranh tâm lý, kinh tế, văn hóa, giáo dục, luật pháp, ý thức hệ, thể chế chính trị… để một quốc gia này bắt quốc gia khác phải quy phục, phải lệ thuộc, phải “gọi dạ, bảo vâng”, thì Trung Quốc Cộng sản đã thực hiện loại hình này với Việt Nam ngay từ khi Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ ngày 18.1.1950 đến nay.   Nhà ngoại giao kỳ cựu từng làm Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh 14 năm (1974-1987), Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết:   “Lược lại một đoạn lịch sử quan hệ Trung Quốc- Việt Nam thì thấy: Ngay từ những năm 50 của thế kỷ 20, khi hai nước còn “hữu hảo” lắm, thì họ đã muốn chinh phục ta bằng lý luận tư tưởng Mao Trạch Đông qua nhiều con đường sách báo, các đoàn cố vấn, các mối quan hệ qua lại… Ta cũng có thời kỳ bị ảnh hưởng về lý luận, tư tưởng đó. Bằng chứng là lúc đó trong trường Đảng của ta còn có chương trình học tư tưởng Mao Trạch Đông và trong thực tiễn cũng làm nhiều việc theo cách của Trung Quốc như việc cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ hoặc việc chỉnh đốn tổ chức đấu tố “phản tỉnh” trong nội bộ…Trung Quốc chuyển sang chinh phục ta bằng kinh tế… họ bắt ta phải hàm ơn, phải đi theo… muốn giữ ta luôn ở thế yếu… Trung Quốc không muốn ta đàm phán (với Mỹ) mà muốn ta “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”…” Trung Quốc muốn kéo ta vào tầm ảnh hưởng, bắt ta phải thần phục họ”… Trung Quốc quen đối xử với các nước nhỏ theo cách kẻ cả, bất công bằng như thời bộ lạc “mạnh được yếu thua’, không còn coi công lý là gì “nghe lời ta thì được “tốt đẹp”, chống lại ta thì ta cho chết (Trang 115, 117, 118,119 sách “Kể Lại Cuộc Đời”, Hồi ức của Nguyễn Trọng Vĩnh). Nay thì, ngay từ Lời nói đầu, Chương 1 của Hiến pháp Việt Nam đến nhiều điều cơ bản về thể chế chính trị, CHXHCN Việt Nam cũng “giống” Hiến pháp Trung Quốc. Rồi đến các chính sách mở cửa, cổ phần hóa, đa dạng các loại hình kinh tế… gần đây nhất là Luật Khu Hành Chính và Kinh Tế Đặc Biệt, Luật An Ninh Mạng thì Cộng sản Ba Đình luôn luôn giẫm đúng vết chân người đồng chí anh em bốn tốt Cộng sản Trung Nam Hải bất kể những chính sách, đạo luật ấy tốt hay xấu cho người dân Việt Nam.   Đến mức chỉ số minh bạch, chỉ số Tự do báo chí, Tự do internet, điểm số về đàn áp Nhân quyền… thì Việt Nam luôn luôn theo sát sàn sạt người anh em Cộng sản Trung Quốc.   Từ những điều trên đây, có thể khẳng định rằng cuộc chiến giành tự do độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam đến nay chưa kết thúc, đó là một “cuộc chiến dai dẳng”. Kẻ thù của dân tộc Việt Nam không ai khác chính là kẻ chiếm Hoàng Sa của Việt Nam 19/1/1974, kẻ chủ mưu gây ra cuộc chiến đẫm máu hơn 43 năm trước ở biên giới Tây Nam, và 41 năm trước (từ 17/2/1979 -1989) ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Nay kẻ thù vẫn ngang nhiên vẽ “lưỡi bò” để chiếm 80% biển Đông của Việt Nam, đang chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam; kẻ với chiến lược “vành đai con đường” để bành trướng lãnh thổ; kẻ quấy phá biển đảo và thềm lục địa Việt Nam không để Việt Nam yên bình hợp tác với các nước khác khai thác dầu khí ở khu mỏ Cá Rồng Đỏ, bãi Tư Chính năm 2018, 2019… Kẻ thù đó ngày nay với “sức mạnh mềm” kinh tế, văn hóa, chính trị… đã lôi kéo được nhiều người mang dòng máu Việt Nam nhưng cơ hội chính trị và tham lam quyền lực và vật chất, nhiều kẻ mang danh là trí thức Việt Nam cũng bị mờ mắt, bị lú lẫn đã vô tình hay hữu ý làm tay sai cho bọn xâm lược đất nước của ông cha mình.   Bộ lịch sử 15 tập, hơn 10.000 trang, với khoảng 290.000 dòng, viết cả chục ngàn dòng ( ở hai tập 12, 13 với 1100 trang) về cuộc chiến ý thức hệ 1954-1975, cuộc chiến mà Cộng sản Trung Quốc “anh em” đã “tận tình giúp đỡ vũ khí, hậu cần” để “ta đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, nhưng chỉ viết 11 dòng về cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược Việt Nam với hàng chục vạn người Việt Nam chiến đấu hy sinh ở thế kỷ 20. Việc này làm lợi cho ai?   Tại sao sách sử “chính thống” hiện đại của Việt Nam không liệt kê những thiệt hại vật chất và sinh mạng vô cùng thảm khốc của Việt Nam trong hai cuộc chiến biên giới do Trung Cộng gây ra (1979-1989), mà lại ghi khá rõ “Việt Nam luôn luôn luôn biết ơn sự tận tình giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc” ( trang 351, tập 14 Lịch sử Việt Nam, NXB KHXH) với những hạng mục vật chất, kinh tế, nhân sự khá chi tiết để Việt Nam đánh đuổi hai nền văn minh Pháp và Mỹ (1950-1975), để Việt Nam quay về thần phục Thiên Triều mọi mặt như ngàn năm phong kiến lạc hậu trước kia?   Phải chăng Viện Sử Học của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam cũng bị “tê liệt và thất thủ” trước cuộc xâm lăng bằng “sức mạnh mềm” của Cộng sản Bắc Kinh còn đang tiếp diễn? CÂU LẠC BỘ LÊ HIẾU ĐẰNG  
......

Ông Trọng - dựng vương triều bằng hai đầu gối

  Phạm Minh Vũ   “Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trồng cây tại Hoàng thành Thăng Long” là những bản tin ở trang nhất của các báo và hệ thống truyền thông của đảng ngày hôm qua (17-02-2021).   Trồng cây ở quê tôi bọn trẻ con nó trồng hằng ngày, và trồng nhiều là đằng khác, thế mà dưới lăng kính truyền thông báo chí đảng xem việc ông trọng như là một việc làm kinh thiên động địa. Tôi chỉ biết nói là trơ trẽn và tột cùng của vô liêm sỉ.   Ngày 17-02 là một ngày đáng được truyền thông nhắc lại về dấu mốc đau thương cũng như bi tráng trong công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc của Quân và Dân ta.   Bởi có lẽ, 10 vạn đồng vào nằm xuống cho một cuộc chiến nó đáng được nhắc đi nhắc lại cho hậu thế nhớ về tội ác của quân xâm lược Bắc Kinh. Vì ngày nay, chính Bắc Kinh luôn có dã tâm thôn tính VN thì đúng ra càng cần nhắc nhỡ cho thế hệ trẻ luôn đề cao cảnh giác bọn bạn vàng, đằng trước luôn miệng nói hữu nghị nhưng đằng sau đạn đã lên nòng.   Thế nhưng, nguyễn phú trọng đã bằng cách nào đó xuất hiện đúng ngày 17-02 để làm một hành động mang tính khiêu khích lòng tự tôn dân tộc. Ông ta, bằng việc đi trồng cây mà không hề đả động gì tới sự kiện 17-02 đã chứng minh một điều quá rõ việc ông ta ngồi tiếp nhiệm kỳ 3 phá bỏ những luật lệ do chính ông ta đặt ra để tiếp tục cầm quyền, thứ vương quyền ông ta có được là bằng cách đi bằng 2 đầu gối. Thứ vương quyền ấy, ông ta sẵn sàng ngồi trên xác hàng vạn đồng bào để mong giữ vững ngai vị.   Là một nguyên thủ quốc gia, thuộc hàng tứ trụ triều đình, ông trọng xây dựng ngai vàng trong việc đối ngoại thì dưới tên gọi là “ngoại giao khôn khéo” thực chất đó là hèn với giặc, đối nội thì ông ta xem đồng bào là kẻ thù sẵn sàng nã súng vào cụ già 58 tuổi đảng, ông trọng gọi là “bảo vệ thành quả cách mạng”.   Là một lãnh đạo quốc gia, ông trọng bắt truyền thông im lặng trong vụ 17-02, hèn tới mức không dám gọi thẳng tên quân xâm lược. Còn bản thân thì đi trồng cây, một hành động vong ơn bội nghĩa, ăn cháo đá bát, đểu cáng, lưu manh vô cùng tận thế và lại hèn thế mà lại ngồi hàng lãnh đạo quốc gia. Một sự ô nhục cho đất nước.   Để xây dựng vương triều cho mình, Vua Lê Lợi phải cắt máu ăn thề ở Lũng Nhai, từ Lam Sơn tập hợp lực lượng đánh đuổi quân Minh xâm lược mới gây dựng cơ đồ nước Việt vững vàng.   Trong lịch sử VN, nhiều triều đại nhờ đánh đuổi ngoại bang mới được lòng thiên hạ mới thiết lập ngai vàng để trị vì. Và cũng có triều đại đi bằng hai đầu gối cầu viện giặc để mong giữ vững ngôi vị. Ông trọng nằm trong trường hợp thứ 2.  
......

Lịch sử dễ tiếp thu bởi lòng chân thành và sự thật!

  Ảnh: Thầy Thái Tùng Quân. Phạm Minh Vũ     Như mọi năm, vào dịp 17-02 Thái Tùng Quân giáo viên đang công tác tại trường PTTH Lý Tự Trọng thị trấn Thạch Hà, Hà Tĩnh hay tổ chức phút tưởng niệm và nhắc lại đoạn lịch sử đau thương của đất nước cho các em học sinh của thầy. Năm nay, đúng thời điểm là buổi học đầu năm mới, Thày Quân đã biến ít phút của buổi học thành buổi củng cố kiến thức lịch sử cho các em. Thầy ghi trên fb cá nhân có đoạn:   "Ngày này cách đây 42 năm, 17-02- 1979, hàng vạn đồng bào, chiến sỹ của chúng ta đã anh dũng hy sinh để bảo vệ biên giới phía Bắc trước sự xâm lược tàn bạo của quân đội Trung Quốc. Thầy trò chúng tôi có trách nhiệm phải tưởng nhớ tới họ như những vị anh hùng dân tộc vì sự trường tồn của đất Việt thân yêu. Đó là một cuộc chiến oai hùng và bi tráng, một cuộc chiến cần phải được vinh danh”.   Cả lớp 12A5 với 39 học sinh trường PTTH Lý Tự Trọng đã đứng dậy và dành ít phút mặc niệm đến hàng vạn chiến sỹ đồng bào đã nằm xuống dưới họng súng quân xâm lược Trung cộng năm 1979. Hình ảnh đã làm cho tôi cảm thấy vô cùng xúc động.   Xúc động vì hàng năm ngân sách rót cho giáo dục hàng ngàn tỷ đồng nhưng không hề dạy các em cách tưởng nhớ đến những người đã nằm xuống năm ấy, càng xúc động hơn khi cách giáo dục nhồi sọ hôm nay nhất là môn lịch sử đã làm các em học sinh chán ngán. Hỏi mấy em học sinh hay thế hệ 9X như tôi có nhớ ngày 17-02 là ngày gì có mấy ai biết, vậy mà, chỉ một hành động đơn sơ là nói sự thật cho các em biết về ngày 17-02 năm 79 ra sao thì các em tự động cảm thấy nghẹn ngào. Và tôi cũng nghẹn ngào.   Xúc động hơn, vì hệ thống chính trị hôm nay muốn đục bỏ muốn xoá mờ một giai đoạn hào hùng chống TQ xâm lược đó của dân quân VN, giáo dục muốn phớt lờ, nhưng thầy Quân đã cố níu kéo đã cố tạc lại bức tranh lịch sử một cách rõ nét nhất.   Càng xúc động hơn khi các em làm một nghĩa cử tử tế, nó khác với những kẻ quyền thế là lãnh đạo quốc gia mà khom lưng khuỵ gối không dám nhắc tới hai chữ Trung cộng. Nhiều kẻ lãnh đạo lại muốn xoá bỏ, muốn quên đi để mong vinh thân phì gia vì ngoan ngoãn nghe lời cấp trên, không muốn nhớ xương máu đồng bào đã đổ xuống cho độc lập đất nước.   Thì ra chúng ta tốn hàng ngàn tỷ để tìm ra phương pháp dạy lịch sử, viết ra các đề án tiền tỷ hầu tìm ra giải pháp cho các em học sử hiệu quả mà bao nay không tìm ra, nhưng chỉ cần nói bằng lòng chân thành và làm một cách trung thực nhất về lịch sử thì nó đã được các em đón nhận một cách đàng hoàng tử tế.   Bài học đầu năm mới dành cho các em thật ý nghĩa và cũng đầy suy nghĩ.    
......

Xem kẻ cướp nước là “anh em”, cố tật không thể sửa được của đảng cs

Đỗ Ngà| Với người dân Việt Nam, thì cho dù đó là ngày những người lính VNCH ngã xuống vì Hoàng Sa hay những người lính của quân đội CS đã ngã xuống vì chống lại quân bành trướng Phương Bắc đều được tưởng nhớ như nhau. Đây là điều ai cũng nhận ra. Cũng phải thôi, với dân thì tổ quốc là trên hết. Không quan trọng thành phần xã hội, không quan trọng ý thức hệ, chỉ cần biết anh hy sinh cho đất nước là anh được tôn vinh. Đấy là lòng dân. Tuy nhiên với ĐCS thì họ không như vậy, họ đề cao ý thức hệ nên khi họ bắt tay với Trung Cộng, họ đã chà đạp lên công lao những con người phải hy sinh xương máu vì tổ quốc. Cuộc chiến biên giới phía bắc 1979 là cuộc đối đầu lớn nhất giữa CS Tàu và CS Việt. Tuy rằng trên mặt trận tuyên truyền thì Tàu gọi cuộc chiến đó là “dạy Việt Nam một bài học” nhưng thực chất đó là cuộc xâm lược cướp nước. Theo ước tính của Phương Tây phía Tàu có khoảng 28.000 người chết và hàng chục ngàn người bị thương, trong khi đó phía Việt Nam khoảng 8.000 người chết và 12.000 người bị thương. Rõ ràng quân Tàu đông hơn với 600.000 quân nhưng vấp phải sự kháng cự quá rát của quân Việt Nam và kết quả chết và thương vong đã nói lên sự thiện chiến của phía Việt Nam. Đó là lí do tàu rút quân về vì họ thấy nuốt miếng mồi này không trôi chứ chẳng phải họ “thử sức chiến đấu” của quân đội nước họ đâu. Thử chỉ là mục đích phụ, mục đích chính vẫn là cướp nước. Pháp đánh Việt Nam mục đích là để giữ thuộc địa, có thể xem họ cướp nước cũng được nhưng gọi thế cũng có phần khiên cưỡng. Thực tế, Pháp chỉ muốn đánh bật Việt Minh lấy chủ quyền trao cho triều đình nhà Nguyễn chứ họ không lấy đó làm lãnh thổ của nước Pháp. Với Mỹ thì họ đến Việt Nam chỉ muốn chặn sự lớn mạnh chủ nghĩa CS ở Đông Nam Á chứ họ không có ý định cướp một tấc đất nào của Việt Nam cả. Đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng với Tàu thì khác, nếu giả sử quân đội CS Việt Nam không đẩy lùi quân Tàu về thì 6 tỉnh biên giới phía Bắc hiện nay là một phần của tỉnh Vân Nam rồi. Như vậy nếu nói quân cướp nước thực sự trong 3 cường quốc trên thì chỉ có Tàu mới thực sự là cướp đúng nghĩa. Trong sử thì CS không ngần ngại gọi Pháp và Mỹ là quân cướp nước, và họ có huân chương chống Pháp, huân chương cống Mỹ, tuy nhiên huân chương chống Tàu thì không. Ngược lại họ còn gọi quân cướp nước là “anh em”. Với cách gọi ấy, ĐCS Việt Nam đã phản bội lại anh linh của những chiến sĩ đã hy sinh vì gìn giữ vùng đất thiêng liêng của tổ quốc. Câu hỏi đặt ra là, Tàu có gì để CS Hà Nội không xem là quân cướp nước? Họ có ý thức hệ giống nhau thôi. Nghĩa là vì ý thức hệ ĐCS xem nhẹ tất cả, xem nhẹ chủ quyền quốc gia, xem nhẹ sự hy sinh của đồng bào, và xem nhẹ chính xương máu người lính đã chấp nhận làm lá chắn cho đảng. Giá trị của ĐCS là vậy, lịch sử là bài học mà có lẽ ĐCS không bao giờ chịu học. Chỉ có dân thì cần phải học, rằng ĐCS sẽ không bao giờ đặt quyền lợi dân tộc và quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của nó. Không bao giờ. Dân tộc này muốn trường tồn thì bài toán lớn nhất phải là tìm cách giải quyết ĐCS. Dù cho đến bao lâu, dù cho mất bao công sức, dù có hy sinh đến đâu cũng cần phải giải quyết dứt điểm cái ý thức hệ nguy hiểm này. Đất nước này cần tạo ra một nhà nước, nơi mà chỉ dung nạp những đảng phái chính trị biết đặt quyền lợi quốc gia và quyền lợi dân tộc lên trên hết./. -Đỗ Ngà-  
......

Ông Trọng - Hèn đến thế là cùng!

  Phạm Minh Vũ   Đến giờ này, trưa 17-02-2021, hầu như hệ thống truyền thông báo chí nhà nước đều im lặng đến nghẹt thở, chỉ có 2 kênh đưa tin qua loa về một sự kiện lịch sử, hào hùng có mà đau thương của dân tộc cũng có. Dẫu biết rằng lịch sử qua đi, vì bang giao, kích động hận thù không phải là một cách khôn ngoan. Nhưng không phải vì thế mà cố tình ém đi một giai đoạn lịch sử tang thương của đất nước một cách tàn nhẫn như thế. Từ VTV1 và hầu hết các báo lề đảng không hề có một dòng tin nào về Cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược Việt Nam 1979- một trong những cuộc chiến chống xâm lược khốc liệt nhất của dân tộc. Nếu có, thì cũng qua loa không chi tiết, thậm chí còn không dám đụng đến danh xưng (Trung quốc). Trong bản tin của Báo Nhân Dân gọi là cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản ngày 16/2 viết: “Nhân dịp kỷ niệm 42 năm Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc của Tổ quốc, ngày 16-2 tỉnh Quảng Ninh, Bộ tư lệnh BĐBP tổ chức lễ dâng hương và phát động lễ trồng cây tại Khu di tích lịch sử Pò Hèn (xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái), nơi ghi danh các liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc tháng 2-1979.” Cả bản tin không dám một lần nhắc đến Trung Quốc - kẻ đã gây ra cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo đối với dân tộc.   Pò Hèn là địa danh rất oai hùng lẫm liệt, mà khi nhắc đến sao chỉ thấy những bản mặt lãnh đạo đảng nhà nước nó hèn và đê tiện đến thế?   Chẳng lẽ, hôm 08-02 Tập chúc Tết ông trọng và sau đó có đe doạ gì hay sao mà ông trọng một nguyên thủ quốc gia, một lãnh tụ đảng cộng sản lại không cho phép hệ thống tuyên truyền nhắc lại sự kiện 17-02 năm 79?   Tại sao ông trọng là lãnh đạo quốc gia lại xem 100.000 (một trăm ngàn) sinh mạng đồng bào như lá rụng mùa thu mà không hề đếm xỉa tới khi ém tin về sự kiện lịch sử bi hùng này?   Chẳng lẽ, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế như ngày nay” mà tới tên của quân xâm lược lại sợ hãi không dám nhắc mỗi khi nghe tới sao?   Mười vạn đồng bào đã chết dưới tay quân bành trướng mà ông lại không cho báo chí truyền thông nhắc thẳng tên TQ thì chẳng khác gì sự xỉ nhục vào mặt thân người của đồng bào đã nằm xuống, vì chết dưới họng súng quân xâm lược đã được đảng kéo ngang như cái chết vì tai nạn nào đó.   Hèn tới mức không nhắc tới quân TQ, cả gần 1000 cơ quan báo chí mà chỉ có 2 tờ báo nhắc qua loa thì quả thật cái hèn của ông trọng nó bao trùm luôn cả quá khứ kiêu hùng chống ngoại xâm của cha ông ta. Cái vô liêm sỉ nó đội trên đầu cả 5 triệu đảng viên. Được gọi là sĩ phu mà không hề có liêm sỉ, Tên là Trọng mà không hề có tự trọng.   Ông trọng, hèn đến thế là cùng!  
......

Đặng Tiểu Bình trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979

Ảnh Đặng Tiểu Bình gặp Tổng Thống Jimmy Carter   Trần Trung Đạo   Trong chuyến công du các quốc gia Á Châu để chuẩn bị hậu thuẫn dư luận trước khi đánh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”.   Câu “Việt Nam là côn đồ” được các đài truyền hình Trung Cộng phát đi và chính Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Quảng Châu, đã xem đoạn phóng sự truyền hình đó “Tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta qua truyền hình trực tiếp và tiếng người phiên dịch sang tiếng Anh là “hooligan” – tức du côn, côn đồ.”   Tại sao Đặng Tiểu Bình nói câu “lỗ mãng” đó?   Đảng CS Trung Quốc "hy sinh" quá nhiều cho đảng CSVN. Không nước nào viện trợ cho CSVN nhiều hơn Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ). Trong cuộc chiến Việt Nam, Trung Cộng không chỉ viện trợ tiền của mà còn bằng xương máu. Trong tác phẩm Trung Quốc lâm chiến: Một bộ bách khoa (China at War: An Encyclopedia) tác giả Xiaobing Li liệt kê các đóng góp cụ thể của 320 ngàn quân Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam:   “Trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn năm 1964 đến năm 1973, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã lần nữa can thiệp. Tháng Bảy năm 1965, Trung Quốc bắt đầu đưa quân vào Bắc Việt, bao gồm các đơn vị hỏa tiễn địa-không (SAM), phòng không, làm đường rầy xe lửa, công binh, vét mìn, hậu cần. Quân đội Trung Quốc điều khiển các giàn hỏa tiễn phòng không, chỉ huy các đơn vị SAM, xây dựng và sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, nhà máy. Sự tham gia của Trung Cộng giúp cho Việt Nam có điều kiện gởi thêm gởi nhiều đơn vị Bắc Việt vào Nam đánh Mỹ. Giữa năm 1965 và năm 1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt 23 sư đoàn, gồm 95 trung đoàn, tổng số lên đến 320 ngàn quân. Vào cao điểm năm 1967, có 170,000 quân Trung Quốc hiện diện”.   Trong số năm nhân vật hàng đầu lãnh đạo Trung Cộng giai đoạn 1977 đến 1980 gồm Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Uông Đông Hưng và Đặng Tiểu Bình thì Đặng Tiểu Bình là người có hoạt động gần gũi nhất với phong trào CSVN. Hơn ai hết, họ Đặng đã tiếp xúc, làm việc với các lãnh đạo CSVN, biết cá tính từng người và cũng biết một cách tường tận và chính xác những hy sinh của Trung Cộng dành cho đảng CSVN.   Trong thập niên 1960, CSVN sống bằng gạo trắng của Trung Cộng nhưng cũng ngay thời gian đó quê hương Tứ Xuyên của Đặng Tiểu Bình chết đói trên 10 triệu người.   Trong thời gian hai đảng CS cơm không lành canh không ngọt, bộ máy tuyên truyền CSVN ca ngợi Lê Duẩn như một nhân vật kiên quyết chống bành trướng Bắc Kinh nhưng đừng quên tháng 4, 1965, chính Lê Duẩn đã sang tận Bắc Kinh cầu khẩn Đặng Tiểu Bình để gởi quân trực tiếp tham chiến.   Xung đột biên giới và xô đuổi Hoa Kiều   Theo báo cáo Bộ Quốc Phòng Trung Cộng, các đụng độ quân sự trong khu vực biên giới giữa các lực lượng biên phòng hai nước đã gia tăng đáng kể sau 1975, gồm 752 vụ trong 1977 đến 1,100 vụ trong 1978. Không chỉ về số lượng mà cả tầm vóc của các vụ đụng độ cũng gia tăng. Dù không phải là lý do chính, những đụng độ quân sự cũng là cách gợi ý cho Bắc Kinh thấy giải pháp có thể phải chọn là giải pháp quân sự.   Tháng 11, 1978 Phó Chủ Tịch Nhà nước Uông Đông Hưng và Tướng Su Zhenghua, Chính Ủy Hải Quân, đề nghị đưa quân sang Cambodia và Tướng Xu Shiyou, Tư lịnh Quân Khu Quảng Châu đề nghị đánh Việt Nam từ Quảng Tây. Chính sách xô đuổi Hoa Kiều vào sáu tháng đầu 1978 cũng làm Trung Cộng khó chịu về bang giao và khó khăn về kinh tế.   Đánh Việt Nam để củng cố quyền lực   Đặng Tiểu Bình được phục hồi lần chót vào tháng 7, 1977 với chức vụ Phó Chủ Tịch BCH Trung Ương Đảng, Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương, Phó Thủ Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc. Tuy nhiên, tất cả chức vụ này không đồng nghĩa với việc tóm thu quyền lực.   Hoa Quốc Phong vẫn là Chủ Tịch Nước và Chủ Tịch Đảng. Các ủy viên Bộ Chính Trị khác như Uông Đông Hưng, người ủng hộ Hoa Quốc Phong, Lý Tiên Niệm, Phó Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch Đảng CSTQ đều còn nhiều quyền hành. Sự đấu tranh quyền lực trong nội bộ đảng CSTQ ngày càng căng thẳng.   Ảnh hưởng của họ Đặng chỉ gia tăng sau chuyến viếng thăm Đông Nam Á và đặc biệt sau Hội Nghị Công Tác Trung Ương từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, 1978 cũng như Hội Nghị Trung Ương Đảng kỳ III, trong đó các kế hoạch hiện đại hóa kinh tế được đề xuất như chiến lược của Trung Cộng trong thời kỳ mới. Trong nội dung chiến lược này, Mỹ được đánh giá như nguồn cung cấp khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ các hiện đại hóa. Nỗi sợ bị bao vây   Tuy nhiên, câu nói của họ Đặng không phải phát ra từ các lý do trên mà chính từ nỗi sợ bị bao vây. Học từ những bài học cay đắng của mấy ngàn năm lịch sử Trung Hoa, nỗi sợ lớn nhất ám ảnh thường xuyên trong đầu các thế hệ lãnh đạo CSTQ là nỗi sợ bị bao vây. Tất cả chính sách đối ngoại của đảng CSTQ từ 1949 đến nay đều bị chi phối bởi nỗi lo sợ đó.   Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China) vừa xuất bản, đã trích lại một đoạn đối thoại giữa Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai trong cuộc viếng thăm Trung Cộng của họ Phạm vào năm 1968. Chu Ân Lai: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam”. Phạm Văn Đồng nhiệt tình đáp lại: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam”. Chu Ân Lai: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí”. Phạm Văn Đồng phấn khởi: “Chiến thắng của chúng tôi sẽ có ảnh hưởng tích cực tại châu Á, sẽ đem lại những thành quả chưa từng thấy”. Chu Ân Lai đồng ý: “Các đồng chí nghĩ thế là đúng ”.   Chính sách của Đặng Tiểu Bình đối với Liên Xô kế thừa từ quan điểm của Mao, qua đó, sự bành trướng của Liên Xô được xem như “một đe dọa đối với hòa bình”. Khi Việt Nam rơi vào quỹ đạo Liên Xô sau Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác Việt-Xô được ký ngày 3 tháng 11, 1978, nỗi sợ hãi bị bao vây như Chu Ân Lai chia sẻ với Phạm Văn Đồng không còn là một ám ảnh đầy đe dọa mà là một thực tế đầy nguy hiểm.   Cambodia, giọt nước tràn ly   Không những Trung Cộng sợ bao vây từ phía nam, vùng biên giới Lào mà còn lo sợ bị cả khối Việt Miên Lào bao vây. Để cô lập Việt Nam và ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, ngay từ tháng 8 năm 1975, Đặng Tiểu Bình cũng đã chia sẻ với Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ “Khi một siêu cường [Mỹ] rút đi, một siêu cường khác [Liên Xô] sẽ chụp lấy cơ hội mở rộng nanh vuốt tội ác của chúng đến Đông Nam Á”.   Họ Đặng kêu gọi đảng CS Campuchia đoàn kết với Trung Cộng trong việc ngăn chận Việt Nam bành trướng. Hoa Quốc Phong cũng lập lại những lời tương tự khi tiếp đón phái đoàn của Tổng bí thư đảng CS Lào Kaysone Phomvihane nhân chuyến viếng thăm Trung Cộng của y vào tháng Ba, 1976.   Tháng Sáu, 1978, Việt Nam chính thức tham gia COMECON và tháng 11 cùng năm Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác có bao gồm các điều khoản về quân sự với Liên Xô.   Tháng 12 năm 1978, Việt Nam xâm lăng Campuchia đánh bật tập đoàn Pol Pot vào rừng và thiết lập chế độ Heng Samrin thân CSVN. Đặng Tiểu Bình xem đó như giọt nước tràn ly và quyết định chặt đứt vòng xích bằng cách dạy cho đàn em phản trắc CSVN “một bài học”. Đặng Tiểu Bình chọn phương pháp quân sự để chọc thủng vòng vây.   Quyết định của Đặng Tiểu Bình   Hầu hết tài liệu đều cho thấy, mặc dầu có sự chia rẽ trong nội bộ Bộ Chính Trị đảng CSTQ, quyết định tối hậu trong việc đánh Việt Nam là quyết định của Đặng Tiểu Bình.   Tại phiên họp mở rộng ngày 31 tháng 12, 1978 Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị thông qua kế hoạch tấn công “trừng phạt” Việt Nam. Các thành viên tham dự chẳng những đồng ý với kế hoạch đầu tiên tấn công vào Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai mà cả kế hoạch được sửa đổi trong đó có việc phối trí hai binh đoàn có thể tấn công vào Điện Biên Phủ từ Mengla và Vân Nam qua đường Lào để đe dọa trực tiếp đến Hà Nội. Cũng trong phiên họp này Đặng Tiểu Bình cử Tướng Hứa Thế Hữu, Tư lịnh cánh quân từ hướng Quảng Tây, Tướng Dương Đắc Chí, đương kiêm Tư Lịnh Quân Khu Vũ Hán, chỉ huy cánh quân từ hướng Vân Nam.   Soạn kế hoạch trên giấy tờ thì dễ nhưng với một người có đầu óc thực tiễn như Đặng Tiểu Bình, y biết phải đối phó với nhiều khó khăn. Trong điều kiện kinh tế và quân sự còn rất yếu của Trung Cộng vào năm 1979, đánh Việt Nam là một quyết định vô cùng quan trọng. Đặng Tiểu Bình nắm được Bộ Chính Trị CSTQ nhưng về mặt đối ngoại, Đặng Tiểu Bình phải thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và nhất là Mỹ.   Lên đường thuyết khách tìm đồng minh   Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình, 74 tuổi, thực hiện một chuyến công du chính thức và lịch sử với tư cách lãnh đạo tối cao của Trung Cộng để vừa thúc đẩy Bốn Hiện Đại Hóa và vừa dọn đường đánh Việt Nam.   Họ Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Xô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á.   Đặng Tiểu Bình phát biểu tại Bangkok ngày 8 tháng 11 năm 1978:   “Hiệp ước [Việt Xô] này không chỉ nhắm đến riêng Trung Quốc… mà là một âm mưu Sô Viết tầm thế giới. Các bạn có thể nghĩ hiệp ước chỉ nhằm bao vây Trung Quốc. Tôi đã trao đổi một cách thân hữu với nhiều nước rằng Trung Quốc không sợ bị bao vây. Thỏa hiệp có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Á Châu và Thái Bình Dương. An ninh và hòa bình châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới bị đe dọa.”   Ngoại trừ Singapore, họ Đặng nhận sự ủng hộ của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á. ASEAN lên án Việt Nam xâm lăng Kampuchea. Nhật Bản cũng lên án Việt Nam.   Trong các chuyến công du nước ngoài, việc viếng thăm Mỹ đương nhiên là quan trọng nhất. Trong phiên họp của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng CSTQ ngày 2 tháng 11, 1978, Đặng Tiểu Bình chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao Trung Cộng thông báo cho Mỹ biết ý định bình thường hóa ngoại giao.   Đầu tháng 12, Đặng báo cho các bí thư đảng ủy một số tỉnh và tư lịnh các quân khu rằng Mỹ có thể thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Cộng vào đầu năm Dương Lịch 1979. Chính bản thân Đặng đàm phán trực tiếp bốn lần với Leonard Woodcock, Giám Đốc Văn Phòng Đại Diện Mỹ tại Bắc Kinh trong hai ngày 13 và 15 tháng 11, 1978. Trong các buổi đàm phán, Đặng đã nhượng bộ Mỹ bằng cách không đưa vấn đề Mỹ bán võ khí cho Đài Loan như một điều kiện tiên quyết để tiến tới bình thường hóa vì Đặng nóng lòng giải quyết quan hệ với Mỹ trước khi xăm lăng Việt Nam.   Chính thức viếng thăm Hoa Kỳ   Ngày 28 tháng Giêng 1979, Đặng Tiểu Bình lên đường chính thức viếng thăm Mỹ. Ông ta nghĩ rằng Mỹ và Trung Cộng đang tiến tới một đồng minh chiến lược chống Sô Viết trên phạm vi toàn cầu nhưng không chắc chắn Mỹ sẽ ủng hộ ra mặt trong cuộc chiến chống Việt Nam sắp tới.   Trong thời gian ở Mỹ, Đặng Tiểu Bình gặp Tổng Thống Jimmy Carter ba lần. Chỉ vài giờ sau khi hạ cánh xuống Washington DC, Đặng yêu cầu được gặp riêng với Tổng thống Carter để thảo luận về vấn đề Việt Nam. Đề nghị của họ Đặng làm phía Mỹ ngạc nhiên. Chiều ngày 29 tháng Giêng, Đặng và phái đoàn gồm Ngoại Trưởng Hoàng Hoa, Thứ trưởng Ngoại Giao Zhang Wenjin đến gặp TT Carter tại Tòa Bạch Ốc. Phía Mỹ, ngoài TT Carter còn có Phó Tổng Thống Walter Mondale, Ngoại Trưởng Cyrus Vance và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Brzezinski. Trong buổi họp, Đặng Tiểu Bình thông báo cho TT Mỹ biết Trung Cộng đã quyết định chống lại sự bành trướng của Liên Xô bằng cách tấn công Việt Nam và cần sự ủng hộ của Mỹ. Trái với mong muốn của Đặng Tiểu Bình, TT Carter không trả lời ngay, ngoài trừ việc yêu cầu họ Đặng nên “tự chế khi đương đầu với tình trạng khó khăn”.   Ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình nhận lá thư viết tay của TT Carter, trong đó ông có ý cản ngăn họ Đặng vì theo TT Carter dù Trung Cộng có đánh Việt Nam, Việt Nam cũng không rút quân khỏi Cambodia mà còn làm Trung Cộng sa lầy. TT Carter cũng nhắc việc xâm lăng Việt Nam có thể làm cản trở nỗ lực của Trung Cộng cổ võ cho một viễn ảnh hòa bình trên thế giới.   TT Carter viết lại trong nhật ký Jimmy Carter, Keeping Faith, Memoirs Of A President, Ngô Bắc dịch:   “Sáng sớm hôm sau, họ Đặng và tôi một lần nữa hội kiến tại Văn Phòng Bầu Dục, chỉ có một thông dịch viên hiện diện. Tôi đã đọc to và trao cho ông ta một bức thư viết tay tóm tắt các lý luận của tôi nhằm ngăn cản một cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam. Ông ta đã nhấn mạnh rằng nếu họ quyết định chuyển động, họ sẽ triệt thoái các bộ đội Trung Quốc sau một thời gian ngắn – và các kết quả của một cuộc hành quân như thế nhiều phần có lợi và có hiệu quả lâu dài. Hoàn toàn khác biệt với tối hôm trước, giờ đây ông ta là một lãnh tụ cộng sản cứng rắn, quả quyết rằng dân tộc ông không xuất hiện với vẻ yếu mềm. Ông ta tuyên bố vẫn còn đang cứu xét vấn đề, nhưng ấn tượng của tôi là quyết định đã sẵn được lấy. Việt Nam sẽ bị trừng phạt.”   Ngày 30 tháng Giêng, trong một buổi họp khác với TT Carter, Đặng Tiểu Bình cho biết việc đánh Việt Nam đã được quyết định và sẽ không có gì làm thay đổi. Tuy nhiên, họ Đặng cũng nhấn mạnh chiến tranh sẽ xảy ra trong vòng giới hạn. Đặng Tiểu Bình không mua chuộc được sự ủng hộ công khai của Mỹ để đánh Việt Nam nhưng ít ra không phải về tay trắng.   Tổng thống Carter để lấy lòng “khách hàng khổng lồ” và “đồng minh chiến lược chống Liên Xô” đồng ý cung cấp tin tức tình báo các hoạt động của 50 sư đoàn Liên Xô trong vùng biên giới phía bắc Trung Hoa. Mỹ cũng dùng vệ tinh để theo dõi trận đánh biên giới và cũng nhờ những tấm ảnh chụp từ vệ tinh mà các cơ quan truyền thông biết ai đã dạy ai bài học trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979. Trong buổi họp riêng với Tổng thống Carter trước khi lên máy bay, Đặng khẳng định “Trung Quốc vẫn phải trừng phạt Việt Nam”.   Chuyến viếng thăm Mỹ là một thành công. Dù Mỹ không ủng hộ nhưng chắc chắc Đặng biết cũng sẽ không lên án Trung Cộng xâm lược Việt Nam. Trên đường về nước, Đặng ghé Tokyo lần nữa để vận động sự ủng hộ của Nhật. Hai ngày sau khi trở lại Bắc Kinh, ngày 11 tháng 2, 1979, Đặng triệu tập phiên họp mở rộng của Bộ Chính Trị và giải thích đặc điểm và mục tiêu của cuộc tấn công Việt Nam.   Ngày 17 tháng 2, 1979, Đặng Tiểu Bình xua khoảng từ 300 ngàn đến 500 ngàn quân, tùy theo nguồn ghi nhận, tấn công Việt Nam.   Lãnh đạo CSVN ở đâu trong ngày quân Trung Cộng tràn qua biên giới?   Trong khi Đặng Tiểu Bình chuẩn bị một cách chi tiết từ đối nội đến đối ngoại cho cuộc tấn công vào Việt Nam, các lãnh đạo CSVN đã bị CSTQ tẩy não sạch đến mức nghĩ rằng người Cộng Sản đàn anh dù có giận cỡ nào cũng không nỡ lòng đem quân đánh đàn em CSVN.   Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự tại Quảng Châu nhắc lại “Trong tận đáy lòng chúng tôi vẫn hy vọng, có thể một cách ngây thơ rằng, Việt Nam và Trung Cộng từng quá gần gũi và hữu nghị, họ [Trung Cộng] chẳng lẽ thay đổi hoàn toàn với Việt Nam quá nhanh và quá mạnh như thế.” Khi hàng trăm ngàn quân Trung Cộng tràn sang biên giới, Thủ Tướng CS Phạm Văn Đồng và Đại Tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng vẫn còn đang viếng thăm Campuchia.   Tình báo Việt Nam không theo dõi sát việc động binh ồ ạt của Trung Cộng và cũng không xác định được hướng nào là trục tiến quân chính của quân Trung Cộng. Tác giả Xiaoming Zhang viết trong Tái đánh giá cuộc chiến Trung Việt 1979 “Rõ ràng tình báo Việt Nam thất bại để chuẩn bị cho việc Trung Quốc xâm lăng” và “Mặc dù Trung Quốc nhiều tháng trước đó đã có nhiều dấu hiệu chiến tranh, các lãnh đạo Việt Nam không thể nào tin “nước xã hội chủ nghĩa anh em” có thể đánh họ. Dù bị bất ngờ, hầu hết các nhà phân tích quân sự, kể cả nhiều tác giả người Hoa, cũng thừa nhận khả năng tác chiến của phía Việt Nam vượt xa khả năng của quân đội Trung Cộng.   Tạp chí Time tổng kết dựa theo các nguồn tin tình báo Mỹ, chỉ riêng trong hai ngày đầu thôi và khi các quân đoàn chính quy Việt Nam chưa được điều động đến, dân quân Việt Nam vùng biên giới đã hạ bốn ngàn quân chủ lực Trung Cộng. Tác giả Xiaobing Li, trong bài viết Quân đội Trung Cộng học bài học gì dựa theo khảo cứu A History of the Modern Chinese Army đã mô tả quân Trung Cộng chiến đấu tệ hại hơn cả trong chiến tranh Triều Tiên mấy chục năm trước. Nếu ngày đó giới lãnh đạo CSVN không tin tưởng một cách mù quáng vào ý thức hệ CS và “tình hữu nghị Việt Trung”, nhiều ngàn thanh niên Việt Nam đã không chết, Lạng Sơn đã không bị san bằng, hai tiểu đoàn bảo vệ thị trấn Đồng Đăng chống cự lại hai sư đoàn Trung Cộng đã không phải hy sinh đến người lính cuối cùng.   Bài học lịch sử từ chiến tranh biên giới 1979   Từ đó đến nay, khi đánh khi đàm, khi vuốt ve khi đe dọa nhưng các mục tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng đối với Việt Nam từ chiến tranh biên giới 1979 đến Hội Nghị Thành Đô 1990 vẫn không thay đổi. Trung Cộng bằng mọi phương tiện sẽ buộc Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng về chế độ chính trị, là một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng và độc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng biển Đông bao gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp.   Đặng Tiểu Bình trước đây và các lãnh đạo CSTQ hiện nay sẵn sàng dùng bất cứ phương tiện gì để thực hiện các chủ trương đó kể cả việc xóa bỏ nước Việt Namtrong bản đồ thế giới bằng một chính sách đánh phủ đầu (preemptive policy). Đừng quên họ Đặng đã từng chia sẻ ý định này với Tổng thống Jimmy Carter “Bất cứ nơi nào, Liên Xô thò ngón tay tới, chúng ta phải chặt đứt ngón tay đó đi”.   Đặng Tiểu Bình muốn liên minh quân sự với Mỹ như kiểu NATO ở châu Âu để triệt tiêu Liên Xô tại châu Á.   Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger giải thích quan điểm này của họ Đặng trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China) của ông:   “Những gì Đặng Tiểu Bình đề nghị về căn bản là chính sách đánh phủ đầu, đó là một lãnh vực trong chủ thuyết quân sự ngăn chận tấn công của Trung Quốc… Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị phát động các chiến dịch quân sự để phá vỡ kế hoạch của Liên Xô, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á”.   “Đông Nam Á” và “ngón tay” theo ý Đặng Tiểu Bình tức là Việt Nam và liên kết quân sự theo dạng NATO không phải là để dời vài cột mốc, dở một đoạn đường rầy xe lửa, đụng độ biên giới lẻ tẻ mà là cuộc tấn công phủ đầu, triệt tiêu có tính quyết định trước khi Việt Nam có khả năng chống trả.   Cựu Ngoại trưởng Mỹ bà Madeline Albright có câu nói rất hay “Lịch sử chưa bao giờ lập lại một cách chính xác nhưng chúng ta phải gánh lấy tai họa nếu không học từ lịch sử.”   Với Chiến Tranh Lạnh đang diễn ra tại Châu Á hiện nay và với nền kinh tế Trung Cộng phát triển nhưng không lối thoát cho bộ máy chính trị độc tài toàn trị đang được chạy bằng nhiên liệu Đại Hán cực đoan, chiến tranh sẽ khó tránh khỏi dù các bên có muốn hay không.   Việt Nam, quốc gia vùng trái độn giữa hai quyền lực thế giới, chưa bao giờ đứng trước một chọn lựa sinh tử như hôm nay. Một người có trách nhiệm với tương lai đất nước, dù cá nhân có mang một thiên kiến chính trị nào, cũng phải biết thức tỉnh, biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên, biết chọn hướng đi thích hợp với đà tiến văn minh dân chủ của thời đại, chấm dứt việc cấy vào nhận thức của tuổi trẻ một tinh thần bạc nhược, đầu hàng.   Lịch sử đã chứng minh, Trung Cộng giàu mạnh nhưng không phải là một quốc gia đáng sợ. Nỗi sợ hãi lớn nhất của người Việt Nam là sợ chính mình không đủ can đảm vượt qua quá khứ bản thân, không đủ can đảm thừa nhận sự thật và sống vì tương lai của các thế hệ con cháu mai sau.   TRẦN TRUNG ĐẠO   Tham khảo: - Deng Xiaoping and China’s Decision to go to War with Vietnam, Xiaoming Zhang, MIT Press 2010 - China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment, Xiaoming Zhang - Henry Kissinger, On China, The Penguin Press, New York 2011 - Graham Hutchings, Modern China, Harvard University Press, 2001 - A Reassessment, China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment, The China Quarterly, 2005 - Todd West, Failed Deterrence, University of Georgia - Reuter, China admits 320,000 troops fought in Vietnam, May 16 1989 - Russell D. Howard, The Chinese People’s Liberation Army: “Short Arms and Slow Legs”, USAF Institute for National Security Studies 1999 - Vietnam tense as China war is marked, BBC, 16 February 2009 - A History of the Modern Chinese Armypp. P 255-256, 258-259 , Xiaobing Li (U. Press of Kentucky, 2007) - Jimmy Carter, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ, Ghi nhớ về chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam năm 1979, Ngô Bắc dịch
......

Nhờ đâu cựu Tổng thống Trump được xử trắng án?

Nguyễn Quang Duy| Tôi dùng từ “trắng án” để nói về kết quả phiên tòa luận tội ông Trump lần thứ hai, nhưng nếu bạn dùng từ “chiến thắng”, hay “tha bổng”, hay “tha tội” theo tôi đều có lý cả. Mục tiêu của đảng Dân Chủ là kết tội ông Trump nhưng họ đã không đạt được kết quả, nên phía ủng hộ ông Trump có quyền xem đó là chiến thắng của ông ấy và của họ. Thượng nghị sĩ Mitch McConnell Lãnh đạo phe Thiểu số đảng Cộng hòa cho biết ông không kết tội ông Trump vì ông ấy đã mãn nhiệm, kết tội ông là vi phạm Hiến Pháp. Nhưng ông McConnell cũng cho biết ông Trump vẫn phải chịu trách nhiệm về lời nói, việc làm và vẫn có thể bị tòa án truy tố trong tư cách một thường dân khi có bằng chứng phạm tội, nên cũng có thể coi như ông Trump đã được ông McConnell tha tội. Dưới một phiên tòa pháp lý chỉ khi nào tòa án kết tội và người bị cáo buộc không tiếp tục kháng án thì mới bị xem là có tội. Theo tôi có loại bỏ những định kiến chính trị thì mới có thể hiểu được những gì đã xảy ra trong tiến trình luận tội và lý do ông Trump không bị Thượng Viện kết tội.   Bằng chứng hiển nhiên ông Trump có tội Ngay sau cuộc bạo loạn xảy ra bên trong Quốc Hội, đảng Dân Chủ đã công khai tuyên bố sẽ luận tội ông Trump dựa trên những bằng chứng hiển nhiên mà mọi người đều có thể chứng kiến trên truyền hình, mạng xã hội và qua báo chí. Khi ấy chính lãnh đạo Thượng viện đảng Cộng Hòa ông Mitch McConnell tuyên bố những kẻ gây bạo loạn đã bị ông Trump lừa dối phản đối kết quả bầu cử nên ông ủng hộ việc Hạ viện luận tội ông Trump. Có sự khuyến khích của ông McConnell và hàng chục viên chức cao cấp bên Hành Chánh đồng loạt từ chức, nên đảng Dân Chủ tin rằng rất dễ dàng để họ có được 2/3 số thượng nghị sĩ đồng ý kết tội ông Trump.   Hạ Viện luận tội Ngày 13/1/2021, tại Hạ Viện không cần điều tra, không cần nhân chứng và ông Trump không có luật sư bào chữa, các Dân biểu đảng Dân Chủ và 10 Dân biểu đảng Cộng Hòa quyết định luận tội ông đã “kích động bạo loạn” với bằng chứng là lời phát biểu của ông trước Tòa Bạch Ốc vào trưa ngày 6/1/2020. Nhưng khi đó ông McConnell lại công khai từ chối mở ngay phiên tòa với lý do Thượng Viện sẽ chỉ còn họp 2 ngày 19 và 20/1/2021 và đã có chương trình cho cả 2 ngày. Theo quy định Quốc Hội nếu đảng Dân Chủ đưa Nghị Quyết luận tội lên Thượng Viện trước trưa ngày 20/1/2021, khi đó ông Trump vẫn còn là tổng thống, thì bắt buộc Thượng Viện phải nhận và như thế bản chất của vụ kiện khi Thượng Viện mở phiên tòa vẫn là xử Tổng thống Trump.   Thượng Viện quyết định… Sau ngày 20/1/2021, khi Hạ Viện đưa Nghị Quyết luận tội lên Thượng Viện thì Chánh án Tối cao pháp viện John Roberts chính thức từ chối chủ tọa phiên tòa, dấu hiệu cho thấy việc luận tội ông Trump có thể đã vi phạm Hiến Pháp Hoa Kỳ. Ngày 26/1/2021 được sự đồng ý của ông McConnell, Nghị sĩ Rand Paul đảng Cộng Hòa đặt vấn đề dùng thủ tục 'impreachment' (truất phế) với một tổng thống đã mãn nhiệm là trái với hiến pháp Mỹ, ông đề nghị Thượng Viện tranh luận và biểu quyết. Qua biểu quyết chỉ có 5 nghị sĩ đảng Cộng Hòa cùng với 50 nghị sĩ đảng Dân Chủ đồng ý việc xét xử là đúng với Hiến Pháp. Mục tiêu khác của đảng Dân Chủ là gây chia rẽ trong nội bộ đảng Cộng Hòa nhưng kết quả cuộc biểu quyết cho thấy các chính trị gia đảng Cộng Hòa vẫn rất đoàn kết. Ngày 28/1/2021, Lãnh đạo đảng Cộng Hòa tại Hạ Viện ông Kevin McCarthy đã phải chính thức xuống tận Câu Lạc Bộ Mar-a-Lago thuộc tiểu bang Florida để gặp ông Trump bàn luận về chiến lược và chiến thuật tranh cử năm 2022. Theo tôi, hai người hẳn đã bàn và đã đồng ý với nhau về chiến lược tranh biện cho phiên tòa nên ngay sau đó có tin ông Trump đã thay nhóm luật sư biện hộ cho ông.   Phiên tòa bắt đầu… Vào ngày 9/2/2021, Thượng Viện bắt đầu phiên tòa bằng việc tranh biện giữa các công tố viên và nhóm luật sư bảo vệ ông Trump rằng việc xét xử một tổng thống đã mãn nhiệm có đúng với Hiến pháp Mỹ hay không. Phía các công tố viên đảng Dân Chủ có kế hoạch, có tổ chức nên lập luận vững chắc, còn các luật sư bảo vệ ông Trump thì ngược lại lý luận lỏng lẻo, thiếu kế hoạch, thiếu tổ chức. Nhưng kết quả vẫn chỉ có 6 thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa đồng ý với 50 nghị sĩ đảng Dân Chủ là phiên tòa hợp hiến. Các công tố viên đảng Dân cần phải thuyết phục thêm 11 nghị sĩ đảng Cộng Hòa đồng ý ông Trump có tội, thì mới đủ 2/3 phiếu Thượng Viện để kết tội ông Trump.   Lý lẽ đảng Dân Chủ… Mặc dù kết quả khó đạt được các công tố viên trong vòng 12 tiếng đã trình bày khá chi tiết để lập luận ông Trump gieo rắc mối nghi ngờ có gian lận trong cuộc bầu cử tổng thống 2020 nhằm “tập hợp” cuộc biểu tình gây bạo loạn. Các công tố viên đã sử dụng những video clip với lời nói của ông Trump để cáo buộc ông đã “châm ngòi và kích động” những kẻ bạo loạn đột nhập vào Điện Capitol, và cáo buộc ông chính là tổng tư lệnh của một cuộc nổi dậy nhằm lật ngược kết quả cuộc bầu cử năm 2020. Các công tố viên sử dụng các video an ninh Quốc Hội để chứng minh mức độ nghiêm trọng do những người bạo loạn gây ra khiến 5 người chết trong đó có 1 cảnh sát viên và họ quy trách nhiệm do ông Trump gây ra. Đến phần kết luận, Dân biểu Jamie Raskin, trưởng nhóm công tố, cho biết trong hai ngày qua nhóm công tố đã nhiều lần sử dụng những “lý lẽ thường tình” (common sense), để chứng minh rằng cựu Tổng thống Donald Trump phạm tội cao nhất là kích động nổi dậy. Ông kêu gọi các thượng nghị sĩ trong vai trò bồi thẩm viên cần cân nhắc sự phán xét của lịch sử khi biểu quyết vì nếu ông Trump không bị kết tội có thể sẽ gây thêm nguy hại cho nền dân chủ của Hoa Kỳ.   Lý lẽ biện hộ Nhóm luật sư bảo vệ ông Trump đã dành hơn 3 tiếng đồng hồ lập luận rằng những “lý lẽ thường tình” của các công tố viên đảng Dân Chủ là dựa trên “hận thù” (hated) đảng phái. Họ cho chiếu những video nhiều chính trị gia đảng Dân Chủ trong đó có cả Dân biểu Jamie Raskin tuyên bố cuộc bầu cử năm 2016 đã bị “đánh cắp”, nhiều người phủ nhận kết quả bầu cử năm 2016 và nhiều người cũng đã thách thức các cử tri đoàn. Theo họ thách thức kết quả bầu cử của các chính trị gia đảng Dân Chủ không có gì sai trái vì đó là một thủ tục hợp pháp và hợp hiến, tương tự như ông Trump đã làm trong cuộc bầu cử năm 2020. Họ cho chiếu những video nhiều chính trị gia đảng Dân Chủ trong đó có cả Dân biểu Jamie Raskin, tất cả các công tố viên, Chủ tịch phiên tòa Thượng Nghị sĩ Pat Leahy, đương kim Tổng thống Joe Biden và phó Tổng thống Kamala đều đã dùng những từ ngữ như “chiến đấu” (fight hay fighting) hay “chiến đấu đến cùng” (fight like hell) như ông Trump đã dùng trong bài phát biểu ngày 6/1/2021. Theo họ đó là ngôn ngữ thường dùng của các chính trị gia là tự do ngôn luận được Tu chánh án thứ nhất bảo vệ nên không thể lấy đó làm chứng cớ kết tội ông Trump. Nhóm luật sư lập luận rằng các công tố viên cố tình bỏ qua việc một số nhóm cực đoan, cả cánh tả lẫn cánh hữu, đã lên kế hoạch gây bạo loạn từ trước ngày 6/1/2021 và đã cố tình cắt xén lời ông Trump kêu gọi người biểu tình phải ôn hòa, phải tôn trọng luật pháp và an ninh trật tự. Họ kêu gọi các Thượng Nghị Sĩ phủ quyết việc kết tội ông Trump vì kết tội ông Trump là vi phạm quyền luận tội, vi phạm quyền tự do ngôn luận và đồng nghĩa với việc kết tội đa số những người đã biểu tình một cách ôn hòa vào ngày 6/1/2021, cũng như kết tội gần 75 triệu cử tri đã bầu cho ông Trump.   Mời nhân chứng Đảng Dân Chủ muốn mở rộng việc luận tội sang những gì ông Trump đã biết và đã hành động sau khi ông được báo tin cuộc bạo loạn đang diễn ra bên trong tòa nhà Quốc Hội. Phía luật sư dứt khoát từ chối tranh biện ngoài đề tài luận tội: “ông Trump có kích động bạo loạn hay không?” Công tố viên Jamie Raskin yêu cầu Thượng viện cho phép mời Dân biểu đảng Cộng Hòa Herrera Beutler làm nhân chứng về cuộc nói chuyện giữa ông Kevin McCarthy Lãnh đạo phe thiểu số đảng Cộng Hòa tại Hạ viện với ông Trump vào trưa ngày 6/1/2021. Phía luật sư của ông Trump phản đối việc gọi nhân chứng nhưng nếu Thượng Viện quyết định mời họ sẽ mời hằng trăm nhân chứng và như thế phiên tòa sẽ kéo dài hằng tháng. Thượng Viện đã biểu quyết thông qua với số phiếu là 55/45 muốn gọi nhân chứng, Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham đảng Cộng Hòa vào phút cuối đã thay đổi ý kiến ông cũng muốn gọi nhân chứng. Ông Graham từng cho biết nếu đảng Dân chủ gọi dù chỉ một nhân chứng tại phiên tòa luận tội ông sẽ đưa FBI ra làm chứng về những tổ chức đã lên kế hoạch tấn công và những thất bại trong việc bảo vệ an ninh Điện Capitol. Còn Thượng nghị sĩ Mitch McConnell Lãnh đạo phe Thiểu số đảng Cộng hòa tuyên bố với báo chí ông sẽ không kết tội ông Trump vì ông ấy đã mãn nhiệm kết tội ông ấy là vi phạm Hiến Pháp. Rõ ràng việc kéo dài phiên tòa sẽ không mang lại kết quả như ý đảng Dân Chủ muốn, mà còn ảnh hưởng đến việc Thượng Viện phải bàn cãi để thông qua các Đạo Luật do Chính Phủ Biden và Hạ Viên đưa qua. Chỉ vài tiếng sau, Thượng Viện tuyên bố các công tố viên đảng Dân Chủ và nhóm luật sư của ông Trump đã đồng ý sẽ đính kèm lời chứng của Dân biểu Herrera Beutler vào biên bản phiên tòa mà không gọi thêm nhân chứng. Ngay sau đó Thượng Viện đã biểu quyết với số phiếu 57/43, theo đúng Hiến Pháp ông Trump không bị Thượng Viện kết tội đã “kích động bạo loạn” như Hạ Viện cáo buộc.   Nước Mỹ càng chia rẽ Đây là một phiên tòa lịch sử, một cuộc đấu trí nghị trường Hoa Kỳ được mở công khai, mọi chứng từ và tranh biện hai bên đều đã được công bố, nên bài viết chỉ mong tóm lược các diễn biến để trả lời câu hỏi nhờ đâu ông Trump được trắng án. Khi bắt đầu việc luận tội đảng Dân Chủ đã hết sức tự tin sẽ có đủ số phiếu ở Thượng Viện để kết tội ông Trump, ngăn chận ông ra tranh cử năm 2024 và gây chia rẽ nội bộ đảng Cộng Hòa. Nhưng suy tính của đảng Dân Chủ vì các lý do được nêu bên trên đã hoàn toàn thất bại. Đến bây giờ vẫn chưa có một bằng chứng pháp lý nào dù thật yếu để có thể đưa ông Trump ra tòa để kết tội ông đã “kích động bạo loạn”. Nay, theo tôi người thương ông Trump vẫn thương và có thể thương hơn, còn người ghét ông Trump thì vẫn ghét và có thể ghét hơn. Chính trị Mỹ sẽ tiếp tục chia rẽ trái ngược lời kêu gọi đoàn kết hay thống nhất chính trị của Tổng thống Joe Biden. Nhưng trong một nền chính trị quá tự do, đa nguyên và công khai như nước Mỹ thì phải hết sức “lý tưởng” mới dám nghĩ đến chuyện đoàn kết hay thống nhất. Cuộc tranh cử và luận tội cuối cùng thắng thua đều đã được xác nhận, người Mỹ lại tiếp tục chạy đua cho cuộc tranh cử giữa kỳ năm 2022 và tranh cử tổng thống năm 2024. Thấy vậy mà thèm cho Việt Nam quê hương mến yêu của chúng ta không rõ đến bao giờ mới có tranh cử tự do. Nguyễn Quang Duy Melbourne, Úc Đại Lợi 16/2/2021
......

Pages