Nghĩa địa Chí Hòa năm xưa và lòng nhân văn Nam Bộ

Bắc Hải  Khi một người nằm xuống, nghĩa tử cũng là nghĩa tận, hai bên chiến tuyến đều lùi lại phía sau. Tính đến ngày 11/7/2026, tại công viên Lê Thị Riêng, các cơ quan chức năng đã tìm thấy 49 hài cốt liệt sĩ và một ngôi mộ tập thể. Sự kiện thời sự này không chỉ dừng lại ở những cuộc đoàn tụ; nhìn rộng ra, đó còn là biểu hiện cao đẹp cho cái tình của người dân Nam Bộ. Trước khi trở thành công viên, nơi đây trước năm 1975 chính là nghĩa trang Đô Thành (thường gọi là nghĩa địa Chí Hòa) rộng khoảng 25 hecta do chính quyền Sài Gòn quản lý từ cuối thập niên 50. Đây là nghĩa trang công cộng phục vụ chính cho cư dân, nơi chôn cất từ người dân đại chúng cho đến binh lính. Theo nhà báo Cù Mai Công, “hồi Mậu Thân, nhất là đợt 2 (tháng 5-1968), chiến tranh tràn tới vòng ngoài Ông Tạ. Giao tranh dữ dội ở khu ngã tư Bảy Hiền dài dài lên Bà Quẹo. Xác lính tráng, bộ đội lẫn người dân “vô thừa nhận” được mang đến đây, chôn chung trong một hố tập thể”. Có thể thấy, giữa những năm tháng khốc liệt của chiến tranh, người miền Nam khi ấy, không phân biệt vùng miền, chiến tuyến đã lặng lẽ gom nhặt, đưa tất cả những người lính chết trận vào chôn cất tại đây. Khi tiếng súng lặng im và một sinh mệnh khép lại, người miền Nam chỉ nhìn thấy ở họ một điều duy nhất: một người con đất Việt ngã xuống xa quê, cần một nấm mồ ấm áp để yên nghỉ. “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Khi một người đã qua đời, mọi ân oán hay lỗi lầm trước đó đều được bỏ qua. Câu tục ngữ này dường như trở thành một thứ luật pháp bất thành văn, và tinh thần ấy lại càng thể hiện rõ nét trong cốt cách bộc trực, hào sảng, đầy lòng trắc ẩn của con người Nam Bộ. Trong sự kiện Mậu Thân năm 1968 khi hàng loạt thi thể chiến sĩ Bắc Việt ngã xuống giữa các ngả đường Sài Gòn chính quyền Sài Gòn đã điều động xe cơ giới, đào những rãnh dài tại Nghĩa trang Chí Hòa để thu gom và mai táng họ chu tất dưới sự chứng kiến của người dân địa phương.  Ông Nguyễn Thành Phước, một trong những nhân chứng khi đó đã chia sẻ trên báo Dân Trí: “Lúc đó, lính công binh của chế độ cũ dùng một chiếc xe ủi, trên xe có đề chữ Tiểu đoàn 5 rõ ràng, để đào hố chôn. Thi hài chở đến bằng 5-6 chiếc xe thùng, được lực lượng lính cứu hỏa đưa xuống”  Lòng đất Chí Hòa năm xưa đã mở rộng để ôm lấy những người lính phía bên kia chiến tuyến, sự bao dung và tử tế của quá khứ hào sảng con người Nam Bộ lớn lao là vậy, thế nhưng người miền Nam lại phải nhận tiếng “nguỵ quân, nguỵ quyền”. Dẫu đã có nhà sử học lên tiếng, dẫu qua buổi tham luận, chuyên gia cũng đã thẳng thắn khuyên rằng nên thay đổi cách dùng từ, thậm chí, trong phát biểu trước Quốc hội ngày 25/11/2011, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã lặp lại không dưới ba lần từ “Việt Nam Cộng Hoà” và khẳng định: “Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp”. Nhưng hiện có một bộ phận vẫn không chấp nhận điều này và vẫn khư khư giữ ý tưởng miệt thị quá khứ. Thế nhưng, dẫu định kiến có cố chấp đến đâu thì lòng đất Chí Hòa vẫn chưa bao giờ biết nói dối. Những người ngã xuống đã nằm đó suốt hơn nửa thế kỷ, bình yên dưới bóng mát của công viên Lê Thị Riêng ngày nay, nhờ vào chính nấm mồ chung mà người lính và chính quyền Sài Gòn năm xưa đã đào lên bằng lòng trắc ẩn. Khi lột bỏ đi lớp áo và tranh cãi mang màu sắc chính trị, dưới tầng đất sâu kia chỉ còn lại tình đồng bào và tấm lòng bao dung của con người Nam Bộ, một vùng đất mà sự nghĩa khí đã vượt lên trên tất cả.
......

Việt Nam: Nền kinh tế "hai tốc độ"

Văn Nguyên Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo hai hướng rất khác nhau. Một bên là các tập đoàn lớn, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn tư nhân có quan hệ mật thiết với Nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Họ được tiếp cận nguồn vốn lớn, nhận được nhiều ưu đãi về chính sách và thường được giao thực hiện các dự án quy mô hàng chục tỷ USD. Chính phủ VN cũng kỳ vọng những dự án này sẽ tạo ra tăng trưởng nhanh trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn do xung đột địa chính trị và các rào cản thương mại. Ở phía còn lại là khoảng 95% doanh nghiệp Việt Nam vừa và nhỏ. Đây mới là khu vực tạo ra phần lớn việc làm cho người dân và là nền tảng của nền kinh tế nội địa. Thế nhưng, họ lại đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Chi phí nguyên liệu, điện và các khoản đầu vào ngày càng tăng, trong khi việc tiếp cận vốn vay vẫn rất khó. Nhiều doanh nghiệp cho biết họ phải đáp ứng các điều kiện thế chấp quá cao hoặc không thể vay được vì các ngân hàng ưu tiên cho vay đối với lĩnh vực bất động sản và các tập đoàn lớn. Không ít doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất hoặc đóng cửa.Tiếng nói của họ bị lấn át bởi những dự án tỷ đô, những công trình quy mô lớn và những mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng. Đó là nghịch lý của nền kinh tế Việt Nam hiện nay: tăng trưởng vẫn được duy trì nhờ dòng vốn đầu tư nước ngoài và các tập đoàn lớn, nhưng nền tảng là khu vực doanh nghiệp nội đia lại chưa đủ khỏe. Chính phủ VN đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, nhưng trong 6 tháng đầu năm mới đạt khoảng 7%. Khoảng cách này cho thấy việc đạt mục tiêu sẽ không hề dễ dàng và tạo ra áp lực lớn đối với các nhà điều hành. Để thúc đẩy tăng trưởng, Chính phủ tiếp tục ưu tiên các dự án hạ tầng và bất động sản quy mô lớn. Nếu tình trạng này kéo dài, nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn, nhưng sẽ đối mặt với nhiều rủi ro về lâu dài, bởi một nền kinh tế bền vững không thể chỉ dựa vào một số ít "đầu tàu", mà cần một cộng đồng doanh nghiệp nội địa mạnh và phát triển đồng đều. Một nền kinh tế chỉ thực sự khỏe mạnh khi những "đầu tàu" tăng tốc, đồng thời hàng triệu doanh nghiệp nhỏ cũng có đủ điều kiện để cùng tiến về phía trước. Nếu 95% doanh nghiệp vẫn tiếp tục chật vật, thì tốc độ tăng trưởng cao hôm nay có thể phải trả giá bằng những rủi ro lớn trong tương lai./.  
......

Sau thể chế, đến lượt đội ngũ cán bộ trở thành "điểm nghẽn của điểm nghẽn"?

Văn Nguyên Trong nhiều năm qua, mỗi khi bàn đến những rào cản đối với sự phát triển của nền kinh tế, khái niệm "điểm nghẽn thể chế" gần như luôn được nhắc đến đầu tiên. Thể chế được xem là nguyên nhân của những thủ tục rườm rà, những quy định chồng chéo và sự trì trệ trong huy động nguồn lực xã hội. Thế nhưng, phát biểu mới đây của TBT-CTN Tô Lâm cho thấy một thực tế khác: ngay cả khi thể chế đang được sửa đổi, thì khâu thực thi mới chính là rào cản lớn nhất. Ngày 4/7/2026, ông Tô Lâm yêu cầu Chính phủ khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn để đạt mục tiêu tăng trưởng tối thiểu 10%, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Những vấn đề được nêu không còn dừng ở các văn bản pháp luật, mà tập trung vào hàng loạt dự án chậm triển khai, công trình bị đình trệ, đất đai bỏ hoang, nguồn lực bị "đóng băng" vì thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, quy hoạch, thiếu vật liệu và đặc biệt là tâm lý né tránh trách nhiệm. Điều đáng chú ý là ông Tô Lâm còn nhấn mạnh trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu các bộ, ngành và địa phương. Thông điệp "chấm dứt tình trạng chỉ nêu khó khăn mà không có phương án giải quyết" hay yêu cầu gắn tăng trưởng với trách nhiệm cá nhân của từng bộ trưởng, bí thư, chủ tịch địa phương cho thấy trọng tâm của vấn đề không chỉ nằm ở cơ chế, mà còn ở con người thực thi cơ chế đó. Thực tế, một thể chế dù được thiết kế hợp lý đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả nếu bộ máy thực thi thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu quyết đoán hoặc sợ sai, sợ chịu trách nhiệm. Khi một dự án bị đình trệ nhiều năm, khi nguồn lực xã hội bị "giam giữ" bởi các thủ tục kéo dài, hay khi doanh nghiệp phải chờ đợi vì sự chần chừ của cơ quan quản lý, thì cái giá phải trả không chỉ là thời gian và chi phí, mà còn là cơ hội phát triển của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, nếu "điểm nghẽn thể chế" từng được xem là nút thắt lớn nhất, thì nay vấn đề đặt ra có lẽ đã chuyển sang một cấp độ khác: năng lực và trách nhiệm của bộ máy thực thi. Một thể chế có thể được sửa đổi bằng luật, bằng nghị quyết hay bằng các chương trình cải cách. Nhưng để những cải cách ấy đi vào cuộc sống, điều quyết định vẫn là đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện. Và cũng từ đó xuất hiện một câu hỏi đáng suy ngẫm: phải chăng, sau "điểm nghẽn thể chế", thách thức lớn hơn hiện nay chính là "điểm nghẽn của bộ máy thực thi"?  
......

Chuyện với Thanh và quyền tự do ngôn luận cùng tinh thần "tôn trọng sự khác biệt“ của ông Tô Lâm.

Văn Nguyên Việc nhà cầm quyền Việt Nam bắt giữ ông Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng, với cáo buộc "tội chống Nhà nước", là một nghịch lý đáng suy ngẫm. Điều đáng nói là cuốn sách này đã được xuất bản chính thức bởi Nhà xuất bản Hội Nhà văn vào tháng 4/2026. Nội dung của tác phẩm được cho là ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng cách diễn đạt hiện đại, góc nhìn mới mẻ của tác giả đã tạo nên nhiều cuộc tranh luận trên mạng xã hội. Không chỉ được cấp phép xuất bản, cuốn sách còn nhận được sự đánh giá tích cực từ ông Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, người tham gia chỉ đạo nội dung xuất bản. Trong các buổi ra mắt sách, ông nhiều lần khẳng định tác phẩm gợi mở những góc nhìn lịch sử mới cho giới trẻ và đánh giá cao giá trị của nó. Thế nhưng hôm nay, chính tác giả của cuốn sách ấy lại bị bắt vì cách tiếp cận mới đối với hình tượng Hồ Chí Minh. Điều đó đặt ra nhiều câu hỏi: nếu một góc nhìn mới, nhưng vẫn xuất phát từ sự tôn trọng nhân vật lịch sử, cũng có thể bị xem là phạm tội, thì ranh giới của quyền tự do tư tưởng và tự do học thuật thực sự nằm ở đâu? Sự việc này cũng cho thấy trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam dường như đang tồn tại những cách tiếp cận khác nhau. Một bộ phận cán bộ, đảng viên có xu hướng cởi mở, sẵn sàng chấp nhận những cách nhìn đa chiều hơn về lịch sử và văn hóa. Nếu được khuyến khích, những tư duy khai phóng ấy có thể trở thành một động lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Ngược lại, vẫn còn những lực lượng mang tư duy bảo thủ, đặc biệt trong lĩnh vực kiểm soát tư tưởng và tuyên truyền, luôn tìm cách duy trì các giới hạn nghiêm ngặt đối với tự do biểu đạt. Việc bắt giữ ông Nguyễn Thành Nam cũng khiến nhiều người đặt câu hỏi về tính nhất quán giữa những cam kết trong Hiến pháp Việt Nam về quyền tự do ngôn luận với thực tiễn thực thi. Đồng thời, sự việc khiến dư luận nhớ đến phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại lễ kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước ngày 30/4/2025, khi ông nhấn mạnh tinh thần "tôn trọng sự khác biệt, hướng tới tương lai, cùng xây dựng một Việt Nam giàu mạnh và phát triển". Nếu những quan điểm khác biệt nhưng được thể hiện bằng con đường học thuật và đã từng được cơ quan có thẩm quyền cho phép xuất bản vẫn có thể dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự, thì không tránh khỏi việc nhiều người nghi ngờ rằng những tuyên bố về tôn trọng sự khác biệt chỉ dừng lại ở lời nói. Chính vì vậy, câu nói nổi tiếng của Nguyễn Văn Thiệu: "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm" lại được nhiều người nhắc đến như một cách bày tỏ sự hoài nghi trước khoảng cách giữa tuyên bố và hành động./.  
......

Chân dung tướng Mỹ “xâm lược“

Ảnh: Tướng MacArthur Phạm Hải (sưu tầm và biên tập) MacArthur đến Nhật vơi đôi bàn tay đẫm máu người Nhật, đã giết chết cả triệu quân Nhật, nhưng khi MacArthur rời Nhật về Mỹ, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật đứng hai bên đường đưa tiễn.   Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật: Đại nguyên soái! MacArthur được người Nhật vinh danh là 1 trong 12 danh nhân nước Nhật mọi thời đại.   Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?   Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế người Nhật hận ông thấu xương.   Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”. Nhưng tướng MacArthur mang quân đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ.   Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi.   Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.   Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?   Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.   Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.   Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.   Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận.   Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.   Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.   Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”.   Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.   Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.   Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.   Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.   Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định.   Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.   Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài”.   Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!   Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.   Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được”.   Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản./.      
......

Từ Mount Rushmore đến Oregon Trail

Lý Thái Hùng Năm nay, 2026, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm (từ ngày 4 tháng 7 năm 1776 đến ngày 4 tháng 7 năm 2026), ngày Quốc hội Lục địa chính thức thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập tại Philadelphia, tuyên bố 13 thuộc địa tách khỏi Anh quốc để khai sinh một quốc gia độc lập. Trong suốt chặng đường hai thế kỷ rưỡi ấy, Hoa Kỳ đã đi qua biết bao biến cố lớn lao, được tô đậm bằng máu, nước mắt, hy sinh và khát vọng của nhiều thế hệ. Từ những người lập quốc, những đoàn di dân, các cộng đồng bản địa, người nô lệ da đen, cho đến hàng triệu con người thuộc đủ sắc dân đã góp phần dựng xây nên một Hiệp Chủng Quốc đúng như tên gọi của nó. Chính từ những xung đột, đau thương, sáng tạo và tự điều chỉnh ấy, nước Mỹ đã trở thành một trong những thí nghiệm chính trị, xã hội và văn minh táo bạo nhất trong lịch sử nhân loại. Thật may mắn, vào những ngày cuối tháng 6 vừa qua, tôi có dịp thực hiện một chuyến đi xuyên miền Tây nước Mỹ, ghé thăm hai địa danh tưởng như không liên quan nhưng lại giúp tôi cảm nhận sâu sắc hơn ý nghĩa của hành trình 250 năm ấy. Đó là vùng Black Hills ở South Dakota, nơi có Mount Rushmore và Crazy Horse Memorial; và Oregon–California Trail, con đường lịch sử của những đoàn người di cư tiến về phương Tây. Những địa danh ấy không chỉ là những điểm dừng chân du lịch. Chúng là hai chương khác nhau trong cùng một câu chuyện lớn: Câu chuyện về cách nước Mỹ được khai sinh, mở rộng, tự chất vấn, sửa sai và không ngừng tái tạo chính mình. Mount Rushmore: Giấc mơ về một quốc gia Khi đứng trước Mount Rushmore, điều đầu tiên gây ấn tượng không chỉ là quy mô của công trình mà còn là ý tưởng đằng sau nó. Bốn gương mặt được tạc trên núi đá, gồm 4 vị Tổng thống:  George Washington, Thomas Jefferson, Abraham Lincoln và Theodore Roosevelt, không được lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Mỗi người đại diện cho một giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành nên nước Mỹ. George Washington (làm tổng thống từ 30/4/1789 – 4/3/1797), tượng trưng cho sự khai sinh của quốc gia và cuộc đấu tranh giành độc lập. Thomas Jefferson (làm tổng thống từ 4/3/1801 – 4/3/1809), đại diện cho sự mở rộng lãnh thổ và khát vọng dân chủ. Abraham Lincoln (làm tổng thống từ 4/3/1861 – 15/4/1865), tượng trưng cho sự thống nhất và khả năng vượt qua cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Theodore Roosevelt (làm tổng thống từ 14/9/1901 – 4/3/1909), đại diện cho quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa và sự vươn lên của nước Mỹ như một cường quốc thế giới. Điều khiến tôi suy nghĩ không phải là sự vĩ đại của bốn vị tổng thống, mà là việc người Mỹ đã chọn khắc lên đá không phải các vị vua, các tướng lĩnh hay những người chiến thắng trong chiến tranh, mà là những nhà lãnh đạo đã góp phần định hình thể chế và bản sắc quốc gia. Mount Rushmore vì thế không chỉ là tượng đài của quyền lực, mà còn là tượng đài của một ý tưởng về  một quốc gia được xây dựng bằng hiến pháp, luật pháp và các giá trị chung. Crazy Horse: Tiếng nói của những người bị bỏ quên Chỉ cách Mount Rushmore khoảng 17 dặm là Crazy Horse Memorial, một công trình điêu khắc vẫn đang tiếp tục được xây dựng sau hơn bảy thập niên. Nếu Mount Rushmore kể câu chuyện của nước Mỹ chiến thắng, thì Crazy Horse kể câu chuyện của những người đã thất bại nhưng không bị quên lãng. Crazy Horse là vị thủ lĩnh huyền thoại của người Lakota, người đã chiến đấu để bảo vệ đất đai, văn hóa và lối sống của dân tộc mình trước sự mở rộng của Hoa Kỳ. Bức tượng khổng lồ đang được tạc trên núi không chỉ nhằm tôn vinh một cá nhân. Nó là biểu tượng của ký ức, của sự kiên trì và của khát vọng giữ gìn bản sắc của các dân tộc bản địa. Khi đứng giữa hai tượng đài, một bên là biểu tượng của quốc gia Hoa Kỳ, một bên là biểu tượng của những người từng chống lại quốc gia ấy, tôi nhận ra một điều rất đặc biệt là sức mạnh của nước Mỹ không nằm ở việc xóa bỏ những mâu thuẫn lịch sử, mà ở khả năng chấp nhận và dung chứa chúng. Rất ít quốc gia trên thế giới có thể cùng lúc tôn vinh những người sáng lập nhà nước và những người từng chiến đấu chống lại sự mở rộng của chính nhà nước ấy. Việc tồn tại song song của Mount Rushmore và Crazy Horse cho thấy nước Mỹ không chỉ xây dựng lịch sử bằng chiến thắng, mà còn bằng sự tự phê phán và khả năng điều chỉnh chính mình. Oregon Trail và California Trail: Hành trình của hy vọng Nếu Mount Rushmore và Crazy Horse nói về ký ức, thì Oregon Trail và California Trail lại kể câu chuyện về khát vọng. Vào thế kỷ 19, hàng trăm nghìn người Mỹ đã rời bỏ quê hương ở miền Đông để đi về phương Tây trên những chiếc xe ngựa phủ bạt. Họ vượt qua hơn ba nghìn cây số đồng cỏ, sa mạc, sông ngòi và núi non trong một hành trình kéo dài nhiều tháng trời. Họ đi vì nhiều lý do: Tìm đất đai, tìm vàng, tìm cơ hội kinh doanh, hoặc đơn giản là tìm kiếm một cuộc sống mới. Hàng chục nghìn người đã chết trên đường vì bệnh tật, đói khát, tai nạn và thời tiết khắc nghiệt. Nhưng dòng người ấy vẫn tiếp tục tiến về phía Tây. Khi đến thăm trung tâm di tích Oregon–California Trail, tôi hiểu rằng điều làm nên sức mạnh của nước Mỹ không chỉ là những thể chế được xây dựng ở Washington, mà còn là tinh thần của những con người bình thường dám chấp nhận rủi ro để thay đổi số phận của mình. Chính những đoàn người di cư ấy đã mở rộng nước Mỹ từ bờ Đại Tây Dương đến tận Thái Bình Dương từ giữa thế kỷ 19. Họ đã biến một quốc gia ven biển thành một quốc gia lục địa. Họ không chỉ khai phá đất đai; họ còn mở rộng trí tưởng tượng chính trị của nước Mỹ về những gì có thể đạt được. Khả năng tự điều chỉnh – bí quyết tồn tại của nước Mỹ Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất sau chuyến đi không chỉ là sự hùng vĩ của các tượng đài hay vẻ đẹp mênh mông của những thảo nguyên miền Tây, mà chính là khả năng tự điều chỉnh phi thường của nước Mỹ. Trong 250 năm tồn tại, Hoa Kỳ đã đi qua biết bao biến cố lớn lao, có lúc tưởng như làm rung chuyển tận gốc nền cộng hòa non trẻ này: Cuộc Chiến tranh giành độc lập chống Anh từ năm 1775 đến 1783; cuộc Nội chiến Nam – Bắc từ năm 1861 đến 1865, khiến người Mỹ phải đối đầu với chính người Mỹ trong một cuộc tương tàn đẫm máu; những cuộc khủng hoảng kinh tế lặp đi lặp lại, đặc biệt là cuộc Đại suy thoái bắt đầu từ năm 1929 và kéo dài suốt thập niên 1930; hai cuộc chiến tranh thế giới, trong đó Hoa Kỳ tham chiến ở Thế chiến thứ nhất năm 1917 và Thế chiến thứ hai từ năm 1941 đến 1945; thời kỳ Chiến tranh Lạnh với Liên Xô từ sau năm 1945 đến năm 1991; vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 làm thay đổi sâu sắc tâm lý an ninh của cả quốc gia; và trong những thập niên gần đây là tình trạng phân cực chính trị ngày càng gay gắt, đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, đại dịch COVID-19 năm 2020 và biến cố ngày 6 tháng 1 năm 2021 tại Điện Capitol. Nhìn lại chuỗi biến động ấy, chúng ta thấy lịch sử Hoa Kỳ không phải là một đường thẳng êm đềm đi lên, mà là một hành trình đầy những xung đột, đổ vỡ, tranh đấu và tự sửa sai. Chính trong những thời điểm khủng hoảng nhất, nước Mỹ lại buộc phải nhìn lại chính mình, điều chỉnh thể chế, mở rộng quyền tự do, tái lập niềm tin xã hội và tìm cách làm mới lời hứa ban đầu của nền cộng hòa. Nhiều lần người ta tin rằng nước Mỹ đang suy tàn hoặc sắp tan rã. Nhưng mỗi lần như vậy, xã hội Mỹ lại tìm ra cách để tự điều chỉnh, tự phê phán và tự tái tạo. Khả năng đó không phải là phép màu. Nó xuất phát từ những giá trị nền tảng đã được hình thành từ những ngày đầu lập quốc: Tôn trọng nhân phẩm con người, đề cao tự do cá nhân, khuyến khích sáng kiến và chấp nhận tranh luận công khai. Chính những giá trị ấy đã cho phép nước Mỹ cùng lúc vừa xây dựng Mount Rushmore, vừa tiếp tục dựng tượng Crazy Horse; vừa tôn vinh những người sáng lập quốc gia, vừa nhìn nhận những sai lầm trong lịch sử của chính mình. Hoa Kỳ: Một quốc gia được xây dựng bởi ký ức và hy vọng Khi rời miền Tây nước Mỹ, tôi mang theo một nhận thức mới về ý nghĩa của 250 năm Hoa Kỳ. Nước Mỹ không phải là một quốc gia hoàn hảo. Đó là một quốc gia luôn tồn tại trong trạng thái chưa hoàn thành. Nhưng có lẽ chính điều đó lại là nguồn sức mạnh lớn nhất của nó. Mount Rushmore nhắc nhở rằng một quốc gia cần có lý tưởng và thể chế. Crazy Horse nhắc nhở rằng một quốc gia cũng cần biết lắng nghe những tiếng nói bị bỏ quên. Oregon Trail và California Trail nhắc nhở rằng một quốc gia chỉ có thể phát triển khi con người dám chấp nhận rủi ro để tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn. Sau 250 năm, điều đáng ngưỡng mộ nhất ở nước Mỹ không phải là sức mạnh quân sự, quy mô kinh tế hay ảnh hưởng toàn cầu. Điều đáng ngưỡng mộ nhất là khả năng giữ được niềm tin rằng con người có thể thay đổi số phận của mình, và rằng một quốc gia cũng có thể học hỏi, sửa sai và tái tạo chính mình. Từ nhận thức ấy, tôi không thể không nhìn về Việt Nam. Nếu nước Mỹ trong 250 năm đã nhiều lần xảy những xung đột, nội chiến, tự chất vấn và tự điều chỉnh để tiếp tục đi tới, thì dân tộc Việt Nam trong hơn bốn nghìn năm lịch sử cũng đã trải qua biết bao phong ba mà vẫn đứng vững. Việt Nam từng bị ngoại xâm, chia cắt, đô hộ, chiến tranh và nghèo đói bủa vây. Nhưng qua mọi biến thiên ấy, dân tộc Việt vẫn giữ được một mạch sống bền bỉ: Lòng yêu nước, tình nghĩa gia đình, đạo lý cộng đồng, tinh thần hiếu học, sự cần cù, lòng nhân ái và ý chí không chịu khuất phục. Chính những giá trị truyền thống ấy đã giúp người Việt tồn tại qua những thời kỳ đen tối nhất. Đó không chỉ là sức mạnh của gươm giáo hay thành lũy, mà là sức mạnh của văn hóa. Một dân tộc còn giữ được tiếng nói, đạo lý, ký ức và phẩm giá của mình thì dân tộc ấy chưa bao giờ thật sự bị đánh bại. Trong chiều sâu ấy, Việt Nam là một dân tộc có tinh thần nhân bản rất mạnh: Biết trọng tình nghĩa, biết thương người yếu thế, biết hy sinh cho gia đình và biết hướng về một đời sống có đạo lý. Tiếc thay, trong hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam, những giá trị truyền thống ấy đã bị tổn thương nghiêm trọng. Chủ nghĩa Mác – Lênin, một ý thức hệ ngoại lai, đã được áp đặt lên đời sống dân tộc như một khuôn mẫu chính trị tuyệt đối. Nhân danh cách mạng, người ta đã phá vỡ nhiều nền tảng đạo lý lâu đời: Gia đình bị chia rẽ bởi lý lịch; người dân bị phân loại theo giai cấp; lòng yêu nước bị đồng hóa với lòng trung thành với đảng; và quyền lợi dân tộc nhiều khi bị đặt sau quyền lợi của một nhóm cầm quyền. Nguy hiểm hơn, khi ý thức hệ đã phai nhạt, điều còn lại không phải là lý tưởng phục vụ nhân dân, mà là một hệ thống quyền lực khép kín, nơi lợi ích phe nhóm, đặc quyền và tham vọng cá nhân lấn át công lý, nhân phẩm và hạnh phúc của dân tộc. Một đất nước từng có truyền thống nhân bản lại bị đẩy vào tình trạng con người nghi ngờ nhau, sợ hãi nhau, nói dối nhau và phải học cách im lặng để tồn tại trong chế độ công an trị của Tô Lâm. Đó là một bi kịch lớn của Việt Nam hiện đại. Chính vì thế, dù chiến tranh đã chấm dứt từ năm 1975, người Việt Nam vẫn chưa thật sự có hòa bình trong ý nghĩa sâu xa nhất. Hòa bình không chỉ là im tiếng súng. Hòa bình phải là khi con người được sống trong tự do, được nói thật, được thăng tiến bằng tài năng, được bảo vệ bởi luật pháp công bằng và được hãnh diện về đất nước của mình. Nếu người dân vẫn bị bóp nghẹt quyền căn bản, nếu tuổi trẻ vẫn phải rời quê hương để tìm cơ hội, nếu người lương thiện vẫn phải cúi đầu trước bất công, thì hành trình giải phóng dân tộc vẫn chưa hoàn tất. Bài học từ nước Mỹ không phải là Việt Nam phải trở thành một bản sao của Hoa Kỳ. Mỗi dân tộc có lịch sử, văn hóa và con đường riêng. Nhưng bài học lớn nhất là: Một quốc gia chỉ có thể mạnh khi biết tôn trọng con người, biết mở ra cơ hội cho mọi thành phần dân tộc, biết sửa sai và biết đặt hạnh phúc của người dân lên trên quyền lực của bất cứ phe nhóm nào. Rồi sẽ có một ngày, người Việt Nam không còn phải nhắc đến quê hương bằng nỗi buồn, sự cay đắng hay cảm giác bất lực. Sẽ có một ngày, chúng ta có thể hãnh diện nói rằng mình là người Việt Nam trong một đất nước tự do, nhân bản và công bằng. Ngày ấy sẽ không tự nhiên đến. Nó phải được xây dựng bằng trí tuệ, lòng can đảm, sự dấn thân và niềm tin bền bỉ của những người Việt không chấp nhận để dân tộc mình mãi sống trong bi kịch độc tài chuyên chính. Lý Thái Hùng
......

Ta đánh Pháp là đánh cho ai?

Trương Nhân Tuấn   Không có quốc gia nào bỏ ra hàng triệu tấn vũ khí, lương thực và xương máu của binh sĩ lẫn cố vấn chỉ vì "tình đồng chí anh em". Cũng không hề có chuyện làm "từ thiện" trong chính trị. Iran hiện thời giúp vũ khí lẫn tiền bạc cho Ha,mas, Hez. bolah, Hou$thi... không phải là chuyện "làm từ thiện chính trị". Người ta nói các lực lượng quân sự này là "proxy" của Iran, tức là lực lượng "tay sai" đánh Israe cho Iran. Cũng như MTDTGP ở miền Nam ngày xưa. Tổ chức này không hề là "đồng chí anh em" với cộng sản miền Bắc. MTDTGPMN được CS miền Bắc trợ giúp vũ khí, cán bộ cố vấn và bộ đội vũ trang. Đây cũng không phải là "từ thiện chánh trị" hay là "nghĩa vụ quốc tế" hay "tình đông chí anh em" mà là một thứ "proxy", một loại "cánh tay nối dài" để đánh phá miền Nam. Làm xong "nhiệm vụ lịch sử", VNCH sập tiệm, MTDTGPMN bị khai tử. Vậy mà Trung quốc đã làm chuyện đó cho VN. Mao Trạch Đông, sau khi thắng được Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch năm 1949 đã giúp cho ông Hồ không chỉ hàng trăm ngàn tấn vũ khí, lương thực, thuốc men... mà còn có gởi một giàn cố vấn cấp cao giúp ông Hồ đánh Pháp. Ngoài ra TQ còn giúp cho ông Hồ 12 sư đoàn công binh, bộ binh, phóng không... vũ trang đầy đủ để chiến đấu chống Pháp rồi chống Mỹ. Dĩ nhiên Mao giúp Hồ không phải là làm "từ thiện" hay một thứ "tình cho không biếu không"!! Nếu ta có đọc lịch sử thì ta biết là "truyền thống chống Pháp" không phải độc quyền của VN. Từ khi Pháp chiếm VN làm thuộc địa, đặc biệt năm 1884 lúc ông Patenôtre "nung chảy" cái ấn hình lạc đà mà "thiên triều" ban cho vua nhà Nguyễn, biểu tượng cho sự thần phục của triều đình An nam đối với nhà Thanh. Triều đình nhà Thanh nhận được tin này với sự bất bình, đặc biệt bà Từ hi Thái hâu. Sự phẫn nộ của cá nhân Từ Hi thái hậu đã trở thành một "affaire d'Etat - chuyện của quốc gia". Từ hi cho rằng nước Pháp đã sĩ nhục Thanh triều mà đây là chuyện không thể tha thứ. Chuyện phải đến là hai bên Pháp-Thanh xung đột quân sự hai lần, với địa bàn là Bắc kỳ (1883-1885) và mặt trận trên biển (đánh Phúc châu và phong tỏa Đài loan). Hai hiệp ước được ký kết. Hiệp ước Fournier (1883) không được thi hành. Hiệp ước Thiên tân 1885 hai bên Pháp-Thanh đồng thuận nhiều điều. Trong đó điều quan trọng hơn hết là Pháp nhượng một số lãnh thổ của VN (tổng Tụ long, mũi Bạch long v.v...) cho TQ để "vuốt giận" bà Từ hi thái hậu. Khi Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch, tuyên bố thành lập Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc vào tháng 10/1949, chế độ mới này nằm trong tình trạng cực kỳ bất an về an ninh. Mao nhìn thấy phe tư bản (đứng đầu là Mỹ, với Pháp là đồng minh) đang tạo ra ba mặt trận (gọng kìm) bao vây vào Trung Quốc: Một là Triều Tiên ở phía Đông Bắc. Hai là Đài Loan ở phía Đông (nơi Tưởng Giới Thạch vừa rút chạy và được Hạm đội 7 của Mỹ bảo vệ). Ba là Đông dương (Việt Nam) ở phía Nam. Truyền thống chống Pháp của Từ hi thái hâu từ nay được Mao Trạch Đông kế thừa. Mao tận lực giúp phe Việt Minh của ông Hồ đánh Pháp tại Bắc kỳ, thực chất là bảo vệ an ninh cho Trung Quốc. Miền Bắc thành một "vùng đệm an ninh" (buffer zone) chiến lược cho TQ. Mao giúp Hồ đánh Pháp là để giúp VN "giành độc lập" - kiểu làm từ thiện chánh trị - hay là ủy nhiệm cho Hồ đánh Pháp cho TQ ? Điều ta nên biết là ông Hồ đã từng hoạt động tại Trung Quốc (từ năm 1939) dưới bí danh Hồ Quang và mang quân hàm Thiếu tá thuộc Bát Lộ Quân. Tức là ông Hồ "có công" lớn trong công cuộc thống nhứt đất nước Trung hoa của Mao Trạch Đông. Ta có thể cho rằng ông Hồ có "tiền đồ xán lạn" trong chánh trường Bắc kinh. Nhưng Mao quyết định gởi ông Hồ về biên giới Việt-Hoa, trước để "đánh Pháp" cho TQ, sau là để "lấy tiếng". Mao rất muốn Trung Quốc thành "ngọn hải đăng" của phong trào giải phóng dân tộc ở thế giới thứ ba (Á-Phi-Mỹ Latinh). Giúp quân ông Hồ đánh thắng một đế quốc phương Tây như Pháp, uy tín quốc tế của Mao và Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ tăng vọt, tạo ra sức nặng đối trọng với cả Mỹ lẫn Liên Xô. Hệ quả Hội nghị Genève 1954, khi thấy Mỹ đe dọa can thiệp quân sự trực tiếp và Trung Quốc cần thời gian để khôi phục kinh tế sau chiến tranh Triều Tiên, Châu Ân Lai đã ép phái đoàn CSVN phải chấp nhận ký phương án chia cắt hai miền Nam - Bắc tại vĩ tuyến 17, mặc dù vị thế quân sự của Việt Minh sau trận Điện Biên Phủ có thể tiến xa hơn (tới vĩ tuyến 13). Trung Quốc muốn ông Hồ biến Bắc Việt Nam thành vùng đệm cho họ, chớ không hề muốn một nước Việt Nam thống nhứt, mạnh mẽ (có thể ngả qua LX) nằm sát biên giới với TQ. Bởi vậy khi Lê Duẩn nói "ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung quốc". Đánh cho Liên xô là trách nhiệm của Lê Duẩn. Còn đánh (Pháp) cho TQ là sự ủy thác của Mao dành cho Hồ.  
......

Can đảm để thay đổi!

Văn Nguyên Hàng triệu người Việt Nam đã ngã xuống trong chiến tranh với một niềm tin giản dị nhưng thiêng liêng: thế hệ mai sau sẽ được sống trong tự do, ấm no và có quyền ngẩng cao đầu trên chính quê hương mình. Gần nửa thế kỷ sau ngày chiến tranh kết thúc, câu hỏi ấy vẫn còn nguyên giá trị: sự hy sinh to lớn đó đã mang lại điều gì cho những người đang sống hôm nay? Việt Nam là một đất nước có nhiều lợi thế: Đường bờ biển dài, nguồn tài nguyên phong phú và lượng kiều hối hàng năm lên đến hàng chục tỷ đô la. Những điều kiện ấy lẽ ra phải trở thành nền tảng cho một quốc gia thịnh vượng và một đời sống ngày càng tốt đẹp hơn. Thế nhưng, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn không ít nỗi trăn trở. Nhiều người dân vẫn phải đối mặt với ô nhiễm môi trường, thực phẩm không an toàn, tai nạn giao thông, tham nhũng, lãng phí và những bất cập trong quản lý xã hội, tiếng nói của người dân chưa được lắng nghe, trong khi những người yếu thế vẫn còn gặp nhiều khó khăn để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Cái giá của độc lập không chỉ được đo bằng những con số trên bia mộ. Đó còn là hàng triệu cuộc đời dang dở, hàng triệu gia đình chịu cảnh mất mát và những thế hệ lớn lên trong hậu quả chiến tranh. Sự hy sinh ấy không thể chỉ được tưởng nhớ bằng những lời tri ân hay các công trình tưởng niệm mà quan trọng hơn là xây dựng một đất nước xứng đáng với những hy sinh đã đánh đổi. Một quốc gia không thể phát triển bền vững nếu người tài không có môi trường để cống hiến, nếu pháp luật chưa thực sự bảo vệ công bằng, hoặc nếu người dân còn phải sống trong tâm trạng bất an trước những vấn đề thiết thân của cuộc sống. Tài nguyên có thể tạo ra của cải, nhưng chỉ một thể chế minh bạch, trách nhiệm và thượng tôn pháp luật mới có thể biến của cải ấy thành phúc lợi cho toàn xã hội. Những người đã ngã xuống có lẽ không cần những lời ca ngợi sáo rỗng, mà cần thấy đất nước ngày càng tốt đẹp hơn. Họ đã trả giá bằng chính mạng sống. Chúng ta hôm nay chỉ cần trả bằng một thứ đó là sự can đảm. Can đảm để dám đặt câu hỏi “vì sao”, can đảm đòi quyền được biết, can đảm để lên tiếng trước điều sai trái, và cùng nhau thúc đẩy những thay đổi tích cực./.
......

Việt Nam ta có những cái vừa độc vừa lạ mà nước khác không có hoặc không còn

Tôn Vân Anh   Xin chào quý vị, tôi là Tôn Vân Anh, một người xuất thân từ miền Bắc Việt Nam, đang sống và làm việc tại Ba Lan. Mấy hôm nay, chuyện tranh luận về Cờ Vàng - Cờ Đỏ sau khi tôi xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Ba Lan là điều khiến tôi phải trăn trở. Thay vì để sự tranh cãi thì với tư cách là người trong cuộc, tôi muốn đưa ra quý vị vài lời, để ít nhất tôi muốn bảo toàn quyền được bày tỏ chính kiến của mình. Trước tiên, tôi xin phép kể câu chuyện này để quý vị dễ hình dung: Ngày 6 tháng 6 vừa qua, Mirra Andreeva bước lên bục vinh quang của French Open với tư cách là một tay vợt người Nga. Nhưng bên cạnh cô không có lá cờ Nga. Đó là một hình ảnh khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Nước Nga đã làm gì để một cô gái trẻ phải vô địch thế giới trong hoàn cảnh như vậy? Đó là vì sự tàn bạo và độc tài của bạo chúa Putin. Người ta thường nghĩ rằng lá cờ và đất nước là một. Nhưng thực tế không phải như vậy, lá cờ chỉ là biểu tượng chính trị của một thời đại, nó không phải Đất Nước. Mirra không chối bỏ nguồn gốc Nga của mình. Cô không phản bội dân tộc mình. Cô không xúc phạm người Nga. Ngược lại, chính vì tôn trọng người Nga nên cô không muốn một chế độ putin đang bị thế giới coi thường phủ bóng lên thành quả thể thao của mình. Bởi vì cô muốn nói rằng: tôi là một người Nga. Hai ngày sau, tôi bất ngờ nhận ra rằng câu chuyện của Mirra lại giúp tôi hiểu rõ những tranh cãi đang diễn ra xung quanh mình. Nhớ lại khoảng tháng 5 năm nay, một nhà báo của Newsweek Polska gọi điện cho tôi. Anh hỏi tôi có thời gian không? Tôi trả lời rằng có, nhưng không có nhiều. Sau đó chúng tôi gặp nhau trong một quán cà phê, làm việc cùng nhiếp ảnh gia. Mọi thứ diễn ra hoàn toàn bình thường như rất nhiều lần tôi từng tiếp xúc với báo chí Ba Lan. Tôi không biết bài báo sẽ đăng khi nào, tôi cũng không biết đó sẽ là bài viết trung tâm của cả số báo và càng không biết rằng hình ảnh của tôi cùng lá cờ vàng sẽ xuất hiện trên trang bìa Newsweek Polska. Đã thế, cờ vàng lại quá nổi trên trang nhất Newsweek Polska, tuần báo đứng thứ ba tại Ba Lan về chất lượng, uy tín và số người truy cập, con số độc giả lên tới hàng triệu mỗi tuần. Cho tới vài ngày trước, khi tôi đang đi nghỉ ở Ý, tôi nhận được tin nhắn kèm hình ảnh từ một người bạn, nói rằng anh đang đổ xăng thì bất ngờ nhìn thấy lá cờ vàng trên kệ báo. Một người bạn khác cũng gọi kể rằng "đang đi mua rau thì bắt gặp luôn cô Vân Anh với lá cờ vàng trên quầy tạp chí". Nhưng rồi ngay sau đó, tôi cũng đọc được những lời kết tội. Người ta nói rằng tôi đã "đồng lõa với Newsweek để xúc phạm người Việt Nam". Lạ quá, tôi có làm gì để xúc phạm người Việt Nam? À hóa ra, tôi không cầm cờ đỏ mà cầm cờ Vàng. Tôi đã ngạc nhiên thật sự, tại sao một người yêu lá cờ vàng lại phải cầm lá cờ đỏ để chụp ảnh? Tôi đã từng rất đỏ, phải mất rất nhiều năm miệt mài tìm hiểu để nhận ra hệ giá trị của Dân Tộc mình là gì cơ mà! Tôi là con người, tôi có tự do thể hiện quan điểm chính trị mà? Tại sao lựa chọn của tôi lại bị công kích để ép phải thể hiện quan điểm chính trị của người khác? Tôi đã hỏi rất nghiêm túc, chân thành và cầu thị. Nhưng thay vì câu trả lời, tôi chỉ nhận được những áp lực, những lời chụp mũ và những cuộc đấu tố quá giới hạn của sự vô liêm sỉ quen thuộc. Có lẽ, nhiều người đã qua tới Châu Âu rồi mà vẫn chưa phân biệt được đâu là Tổ quốc, đâu là Nhà nước, đâu là Dân tộc và đâu là một đảng cầm quyền nên vẫn bị dẫn dắt bởi những công tác dân vận của đảng cộng sản ở nước ngoài. Mirra cũng có "cờ nước Nga được cả thế giới công nhận" đó thôi, nhưng cô ấy không phải chụp ảnh với nó. Đơn giản vì Tổ Quốc của cô ta đang bị độc tài putin thao túng. Câu chuyện thế nào là Tổ Quốc, Đất Nước và Dân Tộc, thế nào là Nhà Nước và Đảng Cầm Quyền có vẻ như đã dần được ngã ngũ trong lòng một bộ phận không nhỏ người Việt chân chính, nhất là người Việt ở Ba Lan. Thế nên chiến dịch "đấu tố nhưng hơi lố" của bộ máy tuyên truyền đối ngoại của đảng cộng sản đã phải tìm lối thoát khác. Họ đổi giọng, cho các nick đỏ mọc lên để nói rằng "tôn trọng quyền lựa chọn cá nhân của Tôn Vân Anh, nhưng Tôn Vân Anh không được xúc phạm Việt Nam". Kiểu như là mấy bà nick đỏ công nhận quyền tôi chọn không lên giường với chồng của bà ấy, nhưng tôi từ chối vậy là xúc phạm cả ông chồng lẫn bà vợ?? Các bạn ấy đang nghĩ vậy thật sao? Sự thật, tôi thấy chồng của các bà là đề tài nan giải: bạo hành, độc ác, tham lam và nham hiểm, thì các bà mới là người cần có vấn đề. Một dân tộc tồn tại hàng nghìn năm. Một chế độ chính trị chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử. Hai khái niệm ấy không phải là một. Người dân Nga không phải là Điện Kremlin. Nước Nga không phải là bạo chúa Putin. Cũng như dân tộc Việt Nam không thể bị đồng nhất với bất kỳ đảng phái chính trị nào. Đó là lý do vì sao tôi không xem những lời công kích vừa qua là câu chuyện cá nhân tôi mà tôi xem đó là biểu hiện của một nền chính trị đã quá quen với việc độc quyền biểu tượng, độc quyền lòng yêu nước và độc quyền quyền được định nghĩa thế nào là Tổ quốc. Tôi không nói điều này để kể công cho bản thân. Tôi nói điều này để chỉ ra hậu quả của chủ nghĩa độc tài. Một hệ thống tồn tại bằng tuyên truyền tất yếu sẽ sợ những biểu tượng nằm ngoài tầm kiểm soát của nó. Một hệ thống tồn tại bằng sự phục tùng tất yếu sẽ khó chấp nhận quyền lựa chọn của người khác. Chính vì vậy, mỗi lần lá cờ vàng xuất hiện công khai, phản ứng dữ dội nhất lại đến từ những người đang cố bảo vệ một độc quyền đang dần mất đi sức thuyết phục trên Đất Nước tôi. Tôi trả giá khi phải chống lại những độc quyền chính trị sao? Mặc kệ. Tôi nói đây để kể tội của độc tài. Tô Lâm và Lê Minh Hưng, Bộ Chính Trị, Ban Tuyên Giáo, Mặt Trận Tổ Quốc, các tổ chức vệ tinh của Đảng CS đang là những nhân tố và mắt xích trong hệ thống độc đoán, đàn áp, tù đày, ngu dân, nuôi bò (dlv), trộm c.ướp, và b.óc lộ.t. Cờ vàng giúp cho bộ mặt độc tài ngày một phản cảm, chính nghĩa của cờ vàng ngày một hiện rõ sau khi bức màn gian trá của cờ đỏ rơi xuống. Với những anh chị muốn né tránh đề tài cờ quạt, tôi công nhận đề tài này có thể gây chia rẽ. Tuy vậy, tôi thấy rằng không thể lờ nó đi. Vì đến một lúc nào đó, thay cho "tin và yêu" vào cờ đỏ, đông đảo người dân Việt sẽ chuyển sang "hiểu và yêu" cờ vàng - như những chuyển biến mà tôi đã bước qua một cách dễ dàng, để quyết tâm đến với tình yêu cờ vàng của tôi, và bảo vệ được tình yêu đó qua nhiều thử thách. Các anh chị thấy Mirra như thế nào? Cô ấy không hề đau khổ vì không có cờ Nga đại diện! Ngược lại, Mirra đã xứng đáng làm một người Nga chân chính khi nhìn rõ đúng sai. Cô không cần cờ Nga hay Putin để được thế giới công nhận là một người Nga. Với những người vẫn dùng cờ đỏ để trang trí cho sự kiện, món ăn Việt Nam, quảng cáo du lịch Việt Nam, tôi xin chia sẻ câu chuyện ntn: Ông giáo dạy tôi, một lần sau giờ dạy tủm tỉm cười, bảo: "ôi em ơi, thầy phải thu xếp sang Việt Nam chơi vài tuần, càng sớm càng tốt". Tôi hỏi, "vậy ạ, sao thầy phải vội ạ?" Thì thầy lại cười nữa và bảo rằng "cứ thi thoảng lại có nước độc tài bị xoá sổ, tôi phải tới thăm các nước xã hội chủ nghĩa trước khi nó bị đào thải. Nhanh nhanh kẻo hết!". Đấy, Việt Nam ta có những cái vừa độc vừa lạ mà nước khác không có hoặc không còn. Thế nên cờ đỏ có thông điệp và giá trị riêng của nó - khẳng định Việt Nam đang có độc tài cộng sản điều hành và cờ đỏ không liên quan cờ vàng. Đỡ khỏi mập mờ, cũng là cái hay! Tôi không phủ nhận hay chống lại cờ đỏ ở khía cạnh đó. Nhưng rõ ràng Việt Nam có nhiều biểu tượng hay hơn cờ đỏ, ví dụ như: cờ vàng, cờ ngũ sắc, trống đồng, bông sen, cây tre, con rồng, nem rán, nón lá của Việt Nam chắc chắn đẹp hơn, ngon bổ tốt hơn và quan trọng nhất là chính nghĩa hơn so với cờ Phúc Kiến mà Quốc Tế Cộng Sản Komintern mang vào Việt Nam. Quốc tế Cộng sản đã tan, nhưng cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm xây dựng xã hội chủ nghĩa kể từ khi nội chiến. Đã hơn 50 năm Việt Nam cam go với cờ đỏ nhưng thực chất quãng thời gian đó chả thấm thía gì so với 4000 năm lịch sử dân tộc Việt Nam. Một chương sách không phải là một quyển sách. Người Việt sẽ còn viết nên những trang sử vẻ vang với lá cờ truyền thống mà ông cha ta để lại. Tôi nợ bà con cô bác lời cảm ơn sâu sắc. Cảm ơn đông đảo người Việt ở khắp năm châu, các bạn trẻ trong nước và các bạn ở Ba Lan đã đồng hành với tôi trong những ngày qua. Một chương sách không phải là một quyển sách. Nhưng một trang sách vừa viết những ngày qua ắt đã thay đổi phần nào nội dung của những chương tiếp tới. Cảm ơn Mirra đã cho tôi cơ hội mỉm cười với người Nga. Cảm ơn Newsweek Polska bởi trang bìa thiết kế tuyệt đẹp. Lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam không bắt đầu từ năm 1945. Và cũng sẽ không kết thúc ở một chế độ chính trị bạo tàn. Và cuối cùng, xin cảm ơn câu chuyện này vì đã mở ra một cuộc đối thoại mà sớm hay muộn, dân tộc của chúng ta cũng phải đối diện với nó mà thôi. Tôn Vân Anh Warsaw, Ba Lan 20.06.2026  
......

Ba khoảng cách giữa ảo vọng và thực tế

Nguyễn Tuấn   Việt Nam có nhiều khát vọng lớn. Muốn có những người như Steve Jobs, Elon Musk. Muốn làm AI, bán dẫn, công nghệ cao. Muốn có nền y tế ngang hàng với các nước tiên tiến. Muốn có đại học đẳng cấp quốc tế. Tôi nghĩ khát vọng đó là tốt quá. Một quốc gia cần có ước mơ lớn. Một xã hội thiếu khát vọng thì khó đi xa. Nhưng khát vọng chỉ có giá trị khi nó đi kèm với một cái nhìn thực tế về năng lực của mình. Khi khoảng cách giữa điều muốn đạt và điều đang có quá xa, khát vọng rất dễ biến thành ảo vọng. Theo tôi, Việt Nam hiện nay có ít nhứt 3 khoảng cách cần nhìn thẳng: * Hình ảnh và năng lực * Phong trào và thể chế * Danh và thật ● Khoảng cách thứ nhứt: hình ảnh và năng lực. Chúng ta thích nói về những chữ rất đẹp: đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, thông minh nhân tạo, bán dẫn, thành phố thông minh, bệnh viện thông minh, đại học đẳng cấp quốc tế. Những từ đó nghe rất hay. Nhưng năng lực thật nằm ở những câu hỏi cụ thể hơn nhiều. Có bao nhiêu đại học Việt Nam là đại học nghiên cứu đúng nghĩa? Có bao nhiêu nhóm nghiên cứu có thể cạnh tranh quốc tế? Có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam đầu tư nghiêm túc cho R&D? Có bao nhiêu sản phẩm công nghệ cao do người Việt thiết kế, làm chủ, đăng kí bằng sáng chế, xây dựng thương hiệu và bán ra thị trường toàn cầu? Không nhiều. Việt Nam xuất cảng rất nhiều hàng công nghệ cao. Nhưng phần lớn hàng công nghệ cao đó là do các công ty nước ngoài sản xuất tại Việt Nam. Samsung, Intel, Foxconn, LG, Canon, Pegatron, Quanta và nhiều tập đoàn khác đã giúp Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đó là một thành tựu đáng ghi nhận. Nhưng xuất cảng công nghệ cao từ lãnh thổ Việt Nam không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ cao của Việt Nam. Một cái điện thoại được lắp ráp ở Việt Nam có thể tạo việc làm, ngoại tệ, và kinh nghiệm công nghệ. Nhưng thiết kế sản phẩm, chip, hệ điều hành, bằng sáng chế, thương hiệu, chiến lược thị trường, và phần lợi nhuận cao nhứt thường vẫn thuộc về công ti mẹ ở Nam Hàn, Đài Loan, Nhật, Mĩ hay Singapore. Điều này cũng giống như một người làm bếp rất giỏi trong nhà hàng của người khác. Anh ta có tay nghề, có kinh nghiệm vận hành. Nhưng công thức, thương hiệu, vốn, chuỗi cung ứng, và quyền quyết định thực đơn vẫn thuộc về chủ nhà hàng. Muốn trở thành người chủ thực sự, anh ta cần nhiều hơn kĩ năng nấu ăn. Anh ta cần tri thức, vốn, quản trị, sáng tạo, và quyền sở hữu. Nói cách khác, Việt Nam hiện nay mạnh hơn trong vai trò công xưởng công nghệ cao, nhưng còn yếu trong vai trò trung tâm sáng tạo công nghệ cao. Điều này không có gì đáng xấu hổ. Nước nào cũng phải đi qua giai đoạn học nghề, gia công, lắp ráp, tham gia chuỗi cung ứng. Nhưng điều quan trọng là phải biết mình đang ở giai đoạn nào. Nếu tưởng rằng lắp ráp công nghệ cao là đã làm chủ công nghệ cao, thì đó là một ngộ nhận nguy hiểm. Trong y tế cũng vậy. Một bệnh viện có máy móc hiện đại chưa chắc đã là một bệnh viện tiên tiến. Một ca mổ phức tạp được đưa lên báo chưa chắc phản ảnh phẩm chất của cả hệ thống y tế. Nền y tế tiên tiến bắt đầu từ những điều rất căn bản. Bệnh viện sạch, người bệnh không phải nằm chung giường. Nhiễm trùng bệnh viện được kiểm soát tốt. Hồ sơ bệnh án đầy đủ. Cấp cứu được phân loại đúng, thời gian chờ hợp lí, chăm sóc ban đầu mạnh. Dữ liệu y tế đáng tin cậy. Kết cục điều trị được đo lường thường qui. Một nền y tế chưa giải quyết tốt bệnh viện quá tải và nhiễm trùng bệnh viện thì rất khó nói là ngang hàng với các nước tiên tiến. Có thể có vài điểm sáng. Có thể có vài kĩ thuật cao. Nhưng một hệ thống y tế mạnh phải được đánh giá bằng chất lượng căn bản mà mọi bệnh nhân đều nhận được, chớ không chỉ bằng vài thành tích nổi bật. ● Khoảng cách thứ hai: phong trào và thể chế. Việt Nam rất giỏi phát động phong trào. Phong trào chuyển đổi số. Phong trào khởi nghiệp. Phong trào đổi mới sáng tạo. Phong trào công bố quốc tế. Phong trào xếp hạng đại học. Phong trào bệnh viện thông minh. Phong trào AI. Phong trào bán dẫn. Phong trào có thể tạo khí thế. Nhưng khoa học, công nghệ và y tế không thể phát triển bền vững chỉ bằng khí thế. Cái cần hơn là thể chế. Thể chế là luật chơi rõ ràng. Là tuyển dụng dựa trên năng lực. Là tài trợ nghiên cứu qua cạnh tranh minh bạch. Là đánh giá độc lập. Là trách nhiệm giải trình. Là dữ liệu công khai. Là tiêu chuẩn nghề nghiệp. Là quyền tự chủ thật sự của đại học. Là bệnh viện được đánh giá bằng kết cục điều trị và an toàn người bệnh, không chỉ bằng số giường hay số kĩ thuật cao. Phong trào thường có tính ngắn hạn. Thể chế có tính dài hạn. Phong trào thích khẩu hiệu. Thể chế cần kỉ luật. Phong trào thích con số đẹp. Thể chế cần dữ liệu thật. Phong trào dễ tạo thành tích. Thể chế mới tạo năng lực. Một quốc gia muốn có Steve Jobs hay Elon Musk không thể chỉ tổ chức vài hội nghị khởi nghiệp, vài cuộc thi đổi mới sáng tạo, hay vài chương trình gọi vốn. Cần có môi trường trong đó người trẻ được phép đặt câu hỏi, được thử nghiệm, được thất bại, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, được tiếp cận vốn, và được cạnh tranh công bằng. Một quốc gia muốn có đại học đẳng cấp quốc tế không thể chỉ đặt mục tiêu xếp hạng. Cần có giáo sư giỏi, sinh viên giỏi, tự do học thuật, phòng thí nghiệm tốt, tài trợ nghiên cứu ổn định, văn hoá tranh luận, và hệ thống đánh giá khoa học nghiêm chỉnh. Một quốc gia muốn có y tế tiên tiến không thể chỉ xây thêm bệnh viện lớn. Cần có y tế cơ sở mạnh, hệ thống chuyển tuyến hợp lí, kiểm soát nhiễm trùng, dữ liệu lâm sàng, đào tạo liên tục, và văn hoá an toàn người bệnh. Thể chế là phần chìm của tảng băng. Không thấy nó trên báo mỗi ngày, nhưng không có nó thì không có tiến bộ thật. ● Khoảng cách thứ ba: chức danh và năng lực thật. Việt Nam có rất nhiều tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư, viện nghiên cứu, trung tâm, hội đồng, đề án, chiến lược. Nhưng một quốc gia mạnh không được đo bằng số chức danh. Một nền khoa học mạnh không được đo bằng số lễ công bố. Một nền y tế mạnh không được đo bằng số bảng hiệu. Năng lực thật thể hiện ở việc làm được gì. Trong khoa học, năng lực thật là đặt được câu hỏi có ý nghĩa, thiết kế nghiên cứu tốt, tạo ra tri thức mới, và có ảnh hưởng trong cộng đồng học thuật. Trong công nghệ, năng lực thật là tạo ra sản phẩm, làm chủ thiết kế, làm chủ công nghệ lõi, sở hữu bằng sáng chế, xây dựng thương hiệu, và cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. Trong y tế, ưu tiên là giảm số ca nhập viện và tái nhập viện. Cái này nên là mục tiêu số 1, chứ không phải công nghệ cao, AI hay những thứ cao siêu quá tầm. Trong y tế, năng lực thật là giảm tử vong, giảm biến chứng, giảm nhiễm trùng bệnh viện, giảm thời gian chờ, tăng an toàn người bệnh, và làm cho người nghèo cũng được chăm sóc tử tế. Chức danh có thể cần thiết. Bằng cấp có thể quan trọng. Nhưng chức danh và bằng cấp chỉ có giá trị khi chúng phản ảnh năng lực thật. Một xã hội quá trọng hình thức rất dễ nhầm lẫn giữa “có danh” và “có tài”, giữa “có đề án” và “có năng lực”, giữa “có trung tâm” và “có hệ sinh thái”, giữa “có công bố” và “có đóng góp khoa học”, giữa “có máy móc hiện đại” và “có y tế chất lượng cao”. Đây là một nhầm lẫn nguy hiểm, vì nó làm cho chúng ta tưởng rằng mình đã tiến xa hơn thực tế. Tôi nghĩ vấn đề của Việt Nam không phải là thiếu người giỏi. Người Việt chúng ta học nhanh, chịu khó, linh hoạt, và có khát vọng vươn lên. Rất nhiều người Việt thành công trong khoa học, y khoa, công nghệ và kinh doanh khi họ được đặt trong môi trường tốt. Vấn đề lớn hơn nằm ở môi trường và thể chế. Một người giỏi cần một môi trường để phát triển. Một nhà khoa học cần tự do học thuật và tài trợ nghiêm túc. Một bác sĩ cần hệ thống bệnh viện an toàn và chuyên nghiệp. Một doanh nhân công nghệ cần thị trường vốn, luật chơi minh bạch và quyền sở hữu trí tuệ. Một sinh viên tài năng cần thầy giỏi, phòng thí nghiệm tốt, và văn hoá khuyến khích suy nghĩ độc lập. Vì vậy, thay vì hỏi “khi nào Việt Nam có Steve Jobs”, có lẽ nên hỏi những câu thực tế hơn: Khi nào Việt Nam có đại học nghiên cứu đúng nghĩa? Khi nào nhà khoa học trẻ có thể sống được bằng nghiên cứu nghiêm túc? Khi nào doanh nghiệp Việt Nam đầu tư dài hạn vào R&D? Khi nào bệnh viện xem nhiễm trùng bệnh viện là một chỉ số sống còn về phẩm chất? Khi nào dữ liệu y tế được xem là tài sản quốc gia? Khi nào người có năng lực được trao quyền nhiều hơn người có quan hệ? Những câu hỏi đó kém hào nhoáng hơn. Nhưng đó mới là những câu hỏi căn bản. Tôi không nghĩ Việt Nam nên bỏ khát vọng lớn. Ngược lại, Việt Nam cần khát vọng lớn hơn nữa. Nhưng khát vọng lớn phải đi cùng sự thành thật lớn. Thành thật để thấy rằng xuất cảng công nghệ cao chưa đồng nghĩa với làm chủ công nghệ cao. Thành thật để thấy rằng bệnh viện hiện đại chưa đồng nghĩa với y tế tiên tiến. Thành thật để thấy rằng nhiều tiến sĩ chưa đồng nghĩa với nền khoa học mạnh. Thành thật để thấy rằng khẩu hiệu không thay thế được thể chế. Và thành thật để thấy rằng không có con đường tắt cho phát triển. Từ ảo vọng đến hiện thực là một con đường dài. Con đường đó bắt đầu bằng những việc không hào nhoáng: dạy học cho tốt, làm khoa học cho nghiêm, quản trị bệnh viện cho sạch và an toàn, xây dữ liệu cho đúng, trọng dụng người có năng lực, và kiên trì trong nhiều năm. Một quốc gia trưởng thành là quốc gia biết ước mơ, nhưng cũng biết tự kiểm tra chính mình. Ước mơ giúp chúng ta đi tới. Năng lực thật giúp chúng ta đi đúng hướng./.  
......

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đình Long Tại Đối thoại Shangri-La, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm một lần nữa trình bày hình ảnh một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và đề cao đối thoại. Những thông điệp ấy nghe rất quen thuộc, bùi tài, rất hiển nhiên và rất dễ nhận được những tràng pháo tay từ các chính khách, học giả và tướng lĩnh quốc tế. Tô Lâm nhấn mạnh ba nguyên tắc: Tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng sự khác biệt và không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp (1). Nếu chỉ nghe bài phát biểu ấy, nhiều người có thể nghĩ rằng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chính trị cởi mở hơn, khoan dung hơn và văn minh hơn. Nhưng điều khiến người dân Việt Nam băn khoăn không phải là những gì ông Tô Lâm nói ở Singapore, mà là những gì đang diễn ra ngay trên đất nước mình. Bởi nếu luật pháp quốc tế phải được tôn trọng thì tại sao pháp luật trong nước nhiều khi lại bị xem như một công cụ phục vụ quyền lực hơn là một lá chắn bảo vệ người dân? Nếu sự khác biệt phải được tôn trọng trong quan hệ giữa các quốc gia thì tại sao sự khác biệt về chính kiến giữa công dân với chính quyền lại thường bị nhìn nhận như một mối đe dọa? Và nếu việc dùng sức mạnh để giải quyết tranh chấp là điều cần tránh trên trường quốc tế thì tại sao trong nhiều vụ việc dân sinh, đất đai hay khiếu kiện, người dân vẫn thường cảm thấy mình đang đứng trước một bộ máy quyền lực áp đảo mà không có khả năng đối trọng? Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước. Hệ quả là xã hội dân sự ngày càng teo tóp. Các nhóm phản biện độc lập gần như biến mất. Giới trí thức ngày càng thận trọng. Nhiều tổ chức tôn giáo phải hoạt động trong khuôn khổ chật hẹp. Những người hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường hay cổ vũ cho các quyền dân sự cơ bản luôn phải cân nhắc từng lời nói, từng bài viết. Một cơ thể xã hội mà mọi tiếng nói phản biện đều suy yếu thì khó có thể khỏe mạnh. Nó giống một bệnh nhân vẫn còn thở nhưng các dấu hiệu sinh tồn đang ngày càng yếu ớt. Trong bối cảnh ấy, các đợt đặc xá được truyền thông nhà nước ca ngợi như biểu hiện của chính sách khoan hồng lại càng làm nổi bật thêm một câu hỏi khó chịu. Hàng ngàn phạm nhân được trả tự do, nhưng có bao nhiêu người bị kết án vì các hoạt động chính trị ôn hòa, vì bày tỏ quan điểm bất đồng hay vì tham gia các hoạt động xã hội độc lập được hưởng sự khoan hồng đó? (2) Câu trả lời dường như ai cũng biết. Những người bị coi là "tù nhân lương tâm" theo cách gọi của nhiều tổ chức quốc tế hầu như vẫn vắng bóng trong các danh sách đặc xá. Điều đó khiến không ít người đặt câu hỏi: Phải chăng tiêu chí nhân đạo chỉ áp dụng cho một số loại tù nhân nhất định, còn những người bất đồng chính kiến thì không? Phải chăng mục tiêu của các đợt đặc xá không hoàn toàn xuất phát từ tinh thần hòa giải dân tộc như tuyên truyền chính thức vẫn khẳng định? Thậm chí trong dư luận còn xuất hiện những lời đồn đoán cay đắng hơn: Liệu đây có phải là hệ quả của tình trạng quá tải trong hệ thống giam giữ hay không? Không ai có thể khẳng định điều đó nếu không có những dữ liệu minh bạch. Nhưng chính sự thiếu minh bạch ấy lại là nguyên nhân làm nảy sinh các nghi vấn. Và cũng từ đây xuất hiện một câu hỏi lớn hơn. Nếu nhà nước Việt Nam thực sự tin rằng mình đang hành xử phù hợp với các chuẩn mực nhân quyền mà lãnh đạo thường xuyên nhắc đến trước cộng đồng quốc tế, tại sao không mạnh dạn mở rộng cánh cửa giám sát độc lập? Tại sao không tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ chế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, các báo cáo viên đặc biệt hay các tổ chức quốc tế có uy tín tiếp cận thực địa và đối thoại trực tiếp với những người đang bị giam giữ vì các lý do liên quan đến chính trị và tự do ngôn luận? Một chính quyền tự tin vào sự chính danh của mình sẽ không sợ sự kiểm chứng. Chỉ những nơi còn tồn tại khoảng cách giữa lời nói và thực tế mới phải lo ngại trước ánh sáng của sự giám sát khách quan. Thế giới hôm nay không còn là thế giới của những bài đít-cua sáo rỗng. Những lời phát biểu bóng bẩy ở Shangri-La có thể tạo ra thiện cảm trong một hội trường. Nhưng uy tín của một quốc gia không được quyết định bởi những tràng pháo tay kéo dài vài phút. Nó được quyết định bởi cách quốc gia ấy đối xử với chính công dân của mình trong suốt nhiều năm. Các cường quốc có thể vẫn bắt tay Hà Nội, vì những tính toán chiến lược của họ. Họ có thể cần Việt Nam trong những bàn cờ địa chính trị phức tạp của khu vực và trên toàn cầu. Họ có thể tạm gác sang bên nhiều khác biệt để theo đuổi những lợi ích lớn hơn và sát sườn hơn đối với họ. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ không nhìn thấy những nghịch lý đang tồn tại. Nghịch lý đó là: Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả, trừ với “thần dân” của mình!!! (3) Người dân Việt Nam càng không thể không nhìn thấy. Bởi vậy, câu hỏi cuối cùng vẫn còn nguyên giá trị: Ông Tô Lâm đang nói thật với thế giới, hay chỉ đang trình diễn một phiên bản khác để “đánh bóng Việt Nam” ra cho cho thế giới? Nếu những nguyên tắc được ca ngợi ở Shangri-La không được áp dụng cho chính người dân Việt Nam, thì đó không còn là vấn đề của riêng một bài phát biểu. Đó là vấn đề của uy tín quốc gia. Và đó cũng là vấn đề của sự thật! Bởi lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng: Thế giới sẽ đủ thời gian chiêm nghiệm trước khi có thể được thuyết phục bởi những lời nói dối hào nhoáng trong các diễn ngôn đối ngoại. Không ai có thể mãi mãi che giấu hiện thực bằng những bài diễn văn. Nhất là khi chính hiện thực trong đời sống nội trị đang hiển hiện từng ngày trong cuộc sống của gần một trăm triệu người dân Việt Nam (4). -- Tham khảo: (1) https://tuoitre.vn/bai-phat-bieu-19-lan-nhac-ve-hoa-binh-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-o-doi-thoai-shangri-la-20260530112909542.htm (2) https://tienphong.vn/cong-bo-quyet-dinh-dac-xa-cho-9950-pham-nhan-dang-chap-hanh-an-phat-tu-post1847638.tpo (3) https://www.amnesty.org/en/documents/pol10/0320/2026/en/ (4) https://www.hrw.org/world-report/2025/country-chapters/vietnam
......

Một bài diễn văn không có chân trời

Lý Thái Hùng Bài phát biểu của ông Tô Lâm tại Đối thoại Shangri-La tối 29 tháng 5 ở Singapore có đủ mọi chất liệu quen thuộc của một diễn văn ngoại giao an toàn: Hòa bình, ổn định, phát triển, luật lệ, đối thoại và lòng tin. Ông cũng gọi tên ba cuộc khủng hoảng lớn của thế giới hôm nay: Khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược. Nhưng chính sự đầy đủ ấy lại làm lộ ra khoảng trống căn bản: Bài diễn văn có khái niệm, nhưng thiếu tầm nhìn; có ngôn ngữ ngoại giao, nhưng thiếu bản lĩnh chiến lược. Người nghe không thấy một Việt Nam đang tự ý thức đầy đủ về vị thế của mình: Một quốc gia gần 100 triệu dân, nằm trên một trong những huyết mạch hàng hải quan trọng nhất thế giới, và đang đứng trước cơ hội hiếm có để trở thành một cường quốc hạng trung có trọng lượng tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ba cuộc khủng hoảng mà ông Tô Lâm nêu ra không phải là điều mới mẻ. Trật tự quốc tế đang lung lay vì luật lệ bị sức mạnh lấn át. Mô hình phát triển rạn nứt vì toàn cầu hóa bị chia phe, chuỗi cung ứng bị chính trị hóa, công nghệ bị vũ khí hóa. Lòng tin chiến lược suy giảm vì các cường quốc vừa bắt tay vừa phòng thủ, vừa buôn bán vừa chuẩn bị cho va chạm. Nhưng ai cũng biết như thế. Câu hỏi thật sự là tâm chấn của những khủng hoảng ấy nằm ở đâu? Chính ở đây, bài diễn văn của ông Tô Lâm bộc lộ giới hạn lớn nhất. Bài diễn văn gọi đúng triệu chứng, nhưng né tránh căn bệnh. Nó nói về một thế giới bất ổn, nhưng không dám chỉ ra cuộc cạnh tranh Mỹ–Trung đang làm biến dạng trật tự khu vực. Trong ngoại giao, không phải lúc nào cũng cần đề cập thẳng vấn đề; nhưng một nhà lãnh đạo có tầm phải biết dùng ngôn ngữ đủ tinh tế để người nghe hiểu rằng ông nhìn thấy tâm điểm của cuộc khủng hoảng. Tại Shangri-La, nơi các bộ trưởng quốc phòng, chiến lược gia và quan chức an ninh đến để đọc tín hiệu chính trị, sự mơ hồ quá mức không còn là thận trọng mà trở thành sự né tránh. Một diễn văn như vậy không thể hiện bản lĩnh của một quốc gia tự chủ chiến lược, mà chỉ cho thấy quán tính đu dây quen thuộc được khoác lên bằng lớp vỏ ngoại giao an toàn. Sáu giải pháp mà ông Tô Lâm đưa ra cũng mang nặng tính hàn lâm: Củng cố luật lệ và đối thoại; xây dựng cấu trúc khu vực mở, lấy ASEAN làm trung tâm; đặt an ninh con người vào trung tâm; nâng cao khả năng chống chịu xã hội và bảo vệ không gian thông tin; thúc đẩy ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian. Không có điểm nào sai. Nhưng cũng gần như không có điểm nào mới. Đó là thứ ngôn ngữ đã được các hội nghị khu vực lặp đi lặp lại nhiều năm, đến mức trở thành một thứ nghi lễ ngoại giao quen thuộc: Đúng về nguyên tắc, đẹp về câu chữ, nhưng thiếu sức nặng về chiến lược. Điều mà người ta chờ đợi trong bài trình bày của ông Tô Lâm chính là vị trí của Việt Nam. Việt Nam xuất hiện như một tiếng nói ủng hộ hòa bình, luật lệ và hợp tác, nhưng chưa xuất hiện như một chủ thể chiến lược có bản sắc, lợi ích, năng lực và đề án riêng. Người nghe không thấy Việt Nam đang đối diện những sức ép nào trong cạnh tranh Mỹ–Trung; không thấy Việt Nam muốn dùng vị trí địa lý, dân số, bờ biển, chuỗi cung ứng và vai trò ASEAN để làm gì; cũng không thấy một câu trả lời rõ ràng cho khẩu hiệu “vươn mình.” Vươn mình để trở thành điều gì: Một công xưởng gia công, một điểm trung chuyển FDI, một nước khéo léo né tránh va chạm, hay một cường quốc hạng trung có khả năng góp phần định hình trật tự Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương? Chính câu hỏi ấy mới là khoảng trống lớn nhất của bài diễn văn. Một bài diễn văn xứng tầm tại Shangri-La lẽ ra phải bắt đầu từ câu hỏi ấy: Việt Nam muốn tự định vị mình như thế nào trong trật tự khu vực đang biến động? Việt Nam hôm nay không còn là một quốc gia nhỏ chỉ biết để lịch sử cuốn đi. Đây là một đất nước gần 100 triệu dân, với lực lượng lao động còn trẻ hơn nhiều xã hội Đông Á đang già hóa; một quốc gia nằm ở điểm nối giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, có bờ biển dài mở ra Biển Đông, gắn sâu với thị trường Hoa Kỳ, không thể tách rời sức ép địa lý từ Trung Quốc, đồng thời đang mở rộng quan hệ chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Hàn Quốc và châu Âu. Một quốc gia ở vị thế ấy không thể chỉ lặp lại rằng “chúng tôi ủng hộ hòa bình.” Câu hỏi lớn hơn là: Hòa bình ấy phải được đặt trên cấu trúc quyền lực nào, dựa vào luật lệ nào, được bảo vệ bằng năng lực nào, và Việt Nam sẽ đóng vai trò gì trong việc kiến tạo cấu trúc đó. Đó mới là ngôn ngữ của một cường quốc hạng trung đang vươn lên, chứ không phải ngôn ngữ của một nước chỉ muốn phát biểu cho có mặt trong phòng họp. Tầm nhìn thứ nhất mà Việt Nam cần đưa ra là khai phóng nguồn lực con người, đặc biệt là sức lao động trẻ và tầng lớp trí thức đang lên. Trong một thế giới đang già hóa nhanh, dân số trẻ, có học, biết thích ứng với công nghệ không còn chỉ là lợi thế kinh tế mà đó là tài sản chiến lược. Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu và ngay cả Trung Quốc đều đang đối diện với áp lực dân số, thiếu hụt lao động và suy giảm sức sáng tạo xã hội. Việt Nam, nếu biết cải cách giáo dục, mở rộng không gian tự do sáng tạo, bảo vệ quyền kinh doanh, khuyến khích tư duy độc lập và kết nối được nhân tài trong lẫn ngoài nước, có thể trở thành một trung tâm lao động trí tuệ mới của châu Á. Nhưng con đường ấy đòi hỏi một lựa chọn chính trị rõ ràng. Không thể vừa kêu gọi sáng tạo vừa sợ tự do tư tưởng. Không thể vừa muốn doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh vừa duy trì cơ chế xin-cho. Không thể vừa nói đến AI, bán dẫn, công nghệ cao, vừa quản trị xã hội bằng tâm lý kiểm soát và nghi kỵ. Một quốc gia muốn bước vào kỷ nguyên trí tuệ phải tin vào trí tuệ của công dân mình trước đã. Nếu không khai phóng con người, mọi khẩu hiệu về “vươn mình” chỉ còn là ngôn ngữ trang trí cho một hệ thống vẫn sợ chính năng lượng sáng tạo mà nó muốn khai thác. Tầm nhìn thứ hai là vươn ra biển. Việt Nam không thể trở thành một cường quốc hạng trung nếu vẫn tư duy như một quốc gia bị khóa trong đất liền. Biển Đông không chỉ là nơi tranh chấp chủ quyền, càng không chỉ là vài đảo đá, bãi cạn hay đường ranh pháp lý. Đó là không gian sinh tồn chiến lược của Việt Nam: Cửa ngõ thương mại, tuyến vận chuyển năng lượng, hành lang logistics, hạ tầng cáp biển, cảng nước sâu, công nghiệp đóng tàu, bảo hiểm hàng hải, năng lượng ngoài khơi, luật biển, đô thị ven biển và khoa học đại dương. Một quốc gia có hơn ba nghìn cây số bờ biển mà không có chiến lược đại dương thì chính là tự thu hẹp chính mình. Trong một thời đại mà các eo biển chiến lược, từ Đài Loan đến Malacca, từ Hormuz đến Bab el-Mandeb, đều có thể trở thành điểm nghẽn của xung đột, Việt Nam phải nhìn Biển Đông không chỉ bằng con mắt phòng thủ, mà bằng tầm nhìn kiến tạo. Việt Nam cần tự đặt mình vào vai trò một điểm nối an toàn, một trạm trung chuyển đáng tin cậy và một mắt xích quan trọng của các tuyến hàng hải, năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu. Đó không phải là tham vọng xa xỉ, mà là yêu cầu tự nhiên của một quốc gia nằm ngay trên huyết mạch biển của châu Á. Nói cách khác, Việt Nam cần một chiến lược đại dương, chứ không chỉ gói gọn trong lập trường về Biển Đông. Lập trường là để phản ứng trước tranh chấp; chiến lược là để tạo ra sức mạnh. Lập trường giúp Việt Nam nói đúng về chủ quyền; chiến lược giúp Việt Nam hiện diện, kết nối và tạo giá trị trên biển. Một Việt Nam thật sự vươn ra biển phải đầu tư vào cảng biển, đội tàu thương mại, năng lượng gió ngoài khơi, công nghiệp quốc phòng biển, luật sư về luật biển, kỹ sư hải dương, chuyên gia dữ liệu hàng hải và doanh nhân tầm vóc quốc tế. Khi ấy, chủ quyền không chỉ được bảo vệ bằng tuyên bố hay công hàm, mà bằng năng lực hiện diện, năng lực vận hành và năng lực biến biển thành không gian phát triển quốc gia. Tầm nhìn thứ ba là cùng các quốc gia tầm trung kiến tạo một cấu trúc khu vực trong đó ASEAN thật sự giữ vai trò trung tâm ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Lâu nay, ASEAN thường nhắc đến “vai trò trung tâm” như một thứ nguyên tắc mặc định. Nhưng trung tâm không phải là danh hiệu được các nước lớn lịch sự thừa nhận trong thông cáo chung. Trung tâm là năng lực đặt chương trình nghị sự, kết nối lợi ích, điều hòa cạnh tranh, tạo đồng thuận và biến đối thoại thành cơ chế hành động. Một ASEAN bị chia rẽ bởi ảnh hưởng Trung Quốc, bị động trước các sáng kiến của Mỹ, Nhật, Úc, Ấn Độ hay châu Âu, thì không thể là trung tâm theo nghĩa thực chất; nó chỉ là sân khấu nơi các nước lớn trình diễn ảnh hưởng của mình. Vì vậy, nếu Việt Nam có tầm nhìn, Việt Nam phải vượt khỏi lối nói quen thuộc về ASEAN và chủ động cùng các quốc gia tầm trung xây dựng một mạng lưới cân bằng mới. Đó là mạng lưới gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Ấn Độ, Liên Âu và những nước Đông Nam Á có cùng lợi ích trong một khu vực mở. Một ASEAN thật sự là trung tâm không thể chỉ tồn tại bằng nghi thức hội nghị. Nó phải có khả năng bảo vệ luật lệ trên biển, giữ các tuyến hàng hải mở, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, kết nối hạ tầng, phối hợp về công nghệ, năng lượng, an ninh mạng và năng lực chống cưỡng ép kinh tế. Trong cấu trúc ấy, Việt Nam không nên chỉ là một thành viên thận trọng đứng giữa các nước lớn, mà phải là một động lực kiến tạo: Đủ khôn ngoan để không bị cuốn vào đối đầu, nhưng cũng đủ bản lĩnh để không bị biến thành vùng đệm của cạnh tranh quyền lực. Tóm lại, Shangri-La không phải là nơi các quốc gia đến chỉ để phát biểu mà là nơi họ tự định vị. Hoa Kỳ đến để trấn an đồng minh và răn đe đối thủ. Trung Quốc đến để biện minh cho trật tự mà họ muốn mở rộng. Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và châu Âu đến để khẳng định rằng họ không đứng ngoài Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Việt Nam lẽ ra phải đến với một thông điệp rõ ràng hơn: Chúng tôi là một quốc gia biển, một nền kinh tế đang lên, một xã hội trẻ, một thành viên ASEAN có trách nhiệm, và một cường quốc tầm trung đang hình thành, sẵn sàng góp phần giữ cho khu vực mở, kết nối và không bị cưỡng ép. Nhưng bài phát biểu đã không làm được điều đó. Nó đúng về nghi thức, an toàn về ngoại giao, tròn trịa về câu chữ, nhưng thiếu mũi nhọn chiến lược. Nó có khái niệm, nhưng không có chân trời. Trong một thời đại mà trật tự khu vực đang được viết lại, nói cho có tiếng nói là chưa đủ. Điều người ta chờ ở Việt Nam không phải là thêm một bản tổng hợp những điều ai cũng biết, mà là một tầm nhìn: Việt Nam muốn trở thành ai trong thế kỷ 21, và sẽ làm gì để tương lai khu vực không bị định đoạt chỉ bởi các nước lớn? Thiếu tầm nhìn chiến lược không chỉ nói lên khả năng cá nhân, mà còn phản ánh sự yếu kém của quyền lực tập trung đã không biết khai dụng trí tuệ tập thể và sự thiếu tự tin vào chính sức mạnh của dân tộc. Lý Thái Hùng May 30, 2026
......

Việt Nam cần một mô hình tư bản dân chủ chứ không cần mô hình XHCN giáo điều

Trong nhiều năm qua, thế giới đã chứng kiến sự khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia áp dụng mô hình kinh tế thị trường dân chủ và các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa mang tính giáo điều. Nhiều nước Bắc Âu như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan hay Đức đã phát triển mạnh nhờ kết hợp kinh tế thị trường với dân chủ, pháp quyền và hệ thống phúc lợi xã hội hiện đại. Việt Nam cũng cần hướng đến một mô hình như vậy thay vì tiếp tục duy trì một hệ thống mang nặng tính khẩu hiệu nhưng chưa giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tế của đất nước. 1. Phát triển kinh tế đi cùng chất lượng sống Các nước Bắc Âu và Đức không chỉ giàu có mà còn chú trọng phát triển đồng đều giữa thành thị và nông thôn. Người dân được tiếp cận giao thông hiện đại, y tế và giáo dục chất lượng cao với chi phí thấp hoặc miễn phí. Nhà nước hỗ trợ tốt cho người thất nghiệp, người già, phụ nữ mang thai và các nhóm yếu thế. Điểm đáng chú ý là khoảng cách giàu nghèo ở những nước này khá thấp. Nông thôn không bị bỏ lại phía sau vì được đầu tư mạnh về đường sá, internet, trường học và bệnh viện. Trong khi đó, ở Việt Nam, sự phát triển hiện còn mất cân đối. Các thành phố lớn phát triển nhanh nhưng nhiều vùng nông thôn và miền núi vẫn thiếu hạ tầng, y tế và giáo dục còn hạn chế. Điều này khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và tạo áp lực lên các đô thị lớn do làn sóng di cư từ nông thôn. 2. Quyền con người và sự tôn trọng công dân Các nước dân chủ phát triển coi con người là trung tâm của xã hội. Người dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền biểu đạt ý kiến và được pháp luật bảo vệ. Nhà nước bị giám sát bởi tòa án độc lập, báo chí và xã hội dân sự. Nhờ vậy, người dân cảm thấy mình được tôn trọng và có tiếng nói trong xã hội. Ngược lại, ở Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạn chế liên quan đến tự do ngôn luận, quyền phản biện và quyền tham gia các hoạt động xã hội. Một số vấn đề như tranh chấp đất đai, khiếu kiện kéo dài hay việc kiểm soát thông tin cũng làm nhiều người cảm thấy quyền lợi của mình chưa được bảo vệ đầy đủ. 3. Người dân cần có quyền quyết định tương lai đất nước Tại các nước Bắc Âu và Đức, chính phủ được lựa chọn thông qua bầu cử cạnh tranh và có thể bị thay thế nếu không đáp ứng được mong muốn của người dân. Quốc hội, báo chí và các tổ chức độc lập giúp kiểm soát quyền lực và hạn chế tham nhũng. Điều này giúp người dân cảm thấy lá phiếu của họ có giá trị thực sự. Trong khi đó, tác giả nhận định rằng ở Việt Nam, quyền lực chính trị hiện tập trung vào một đảng duy nhất nên người dân khó có cơ hội thay đổi lãnh đạo hoặc mô hình quản lý đất nước nếu không hài lòng. Các vấn đề liên quan đến đất đai và lợi ích nhóm cũng được cho là nguyên nhân gây ra nhiều bức xúc trong xã hội. Con đường duy nhất cho tương lai Việt Nam Việt Nam cần chuyển sang một mô hình kết hợp kinh tế thị trường thực sự với dân chủ, pháp quyền và hệ thống phúc lợi hiện đại. Đây là con đường giúp đất nước phát triển bền vững hơn, nâng cao chất lượng sống và tạo điều kiện để người dân có nhiều quyền tự do cũng như cơ hội phát triển hơn. Việt Nam có nhiều tiềm năng như dân số trẻ, vị trí địa lý thuận lợi và lực lượng lao động chăm chỉ. Nếu có những cải cách phù hợp, đất nước hoàn toàn có thể phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai. Theo LS Nguyễn Văn Đài    
......

Tô Lâm nói xạo

Trung Điền   Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.” Đó là ba cụm từ có sức hấp dẫn lớn, bởi chúng chạm đúng vào ba vết thương, đồng thời cũng là ba điểm nghẽn căn bản của Việt Nam sau nửa thế kỷ chiến tranh kết thúc: Quá khứ chưa được hóa giải, khác biệt chưa được thừa nhận, và tương lai vẫn bị độc quyền bởi một hệ thống quyền lực khép kín. Nếu chỉ nghe bằng tai, đó là một thông điệp dễ tạo thiện cảm. Một đất nước sau 50 năm không thể tiếp tục sống mãi trong tâm lý thắng-thua. Một dân tộc từng trải qua chiến tranh, chia cắt, tù cải tạo, vượt biên, phân biệt lý lịch, mất mát tài sản, tan nát gia đình và hàng triệu vết thương âm thầm trong ký ức không thể mãi bị nhốt trong thù hận. Và một quốc gia muốn bước tới tương lai không thể vừa kêu gọi đoàn kết, vừa tiếp tục phân loại người Việt theo quá khứ chính trị, nguồn gốc gia đình, lập trường tư tưởng hay mức độ trung thành với chế độ. Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không? Khi phát biểu những lời ấy, Tô Lâm không phải một nhà lãnh đạo yếu thế. So với nhiều đời lãnh đạo trước, Tô Lâm bước lên đỉnh cao quyền lực với một nền tảng rất đặc biệt: Xuất thân từ Bộ Công an, nắm rất sâu bộ máy an ninh, hiểu rõ cách kiểm soát hệ thống, và sau những biến động nhân sự lớn trong thượng tầng, quyền lực của ông được củng cố mạnh mẽ hơn hầu hết các tổng bí thư tiền nhiệm trong thời kỳ gần đây. Chính vì vậy, nếu Tô Lâm thật sự muốn “khép lại quá khứ,” ông có đủ quyền lực để mở đầu một tiến trình hòa giải thật sự. Nếu ông thật sự muốn “tôn trọng khác biệt,” ông có đủ quyền lực để nới lỏng các giới hạn chính trị, giảm đàn áp tiếng nói phản biện, mở rộng không gian dân sự, thay đổi cách nhà nước đối xử với giới trí thức độc lập, với các tôn giáo không nằm trọn trong vòng kiểm soát, và với cộng đồng người Việt hải ngoại. Nếu ông thật sự muốn “hướng tới tương lai,” ông có đủ quyền lực để đặt tương lai ấy trên nền tảng của pháp quyền, dân quyền và sự tham gia của người dân, chứ không chỉ trên khẩu hiệu “vươn mình” do bộ máy tuyên truyền dựng lên. Nhưng một năm vừa qua, mọi thứ diễn ra theo chiều ngược lại. Không khí chính trị không cởi mở hơn và người dân có chung một cảm giác bao trùm là sự siết chặt từ không gian công cộng bị thu hẹp cho đến không gian mạng bị kiểm soát nặng nề. Những tiếng nói độc lập tiếp tục bị theo dõi, gây áp lực, trừng phạt hoặc buộc phải tự kiểm duyệt. Đặc biệt, cái bóng công an không hề lùi ra khỏi đời sống dân sự, mà dường như còn phủ dày hơn lên xã hội. Đây chính là mâu thuẫn lớn nhất trong thông điệp của Tô Lâm. Ông nói “khép lại quá khứ,” nhưng nhà nước vẫn tiếp tục sử dụng quá khứ như một công cụ chính trị. Lịch sử vẫn được kể bằng giọng của bên thắng trận. Ngày 30 tháng 4 vẫn chủ yếu được trình bày như một ngày chiến thắng tuyệt đối, hơn là một ngày vừa có ý nghĩa chấm dứt chiến tranh, vừa chứa đựng bi kịch chia lìa của hàng triệu người Việt. Khép lại quá khứ không thể là yêu cầu người bị tổn thương phải im lặng. Khép lại quá khứ càng không thể là đòi hỏi những người từng bị đẩy ra bên lề lịch sử phải tự quên đi nỗi đau của mình, trong khi phe thắng cuộc vẫn tiếp tục độc quyền quyền kể chuyện. Một xã hội chỉ có thể khép lại quá khứ khi sự thật được nhìn nhận, khi các vết thương được gọi đúng tên, khi ký ức của mọi phía được tôn trọng. Không có sự thật thì không có hòa giải. Không có công bằng ký ức thì không có đoàn kết dân tộc. Không có quyền được đau, quyền được nhớ, quyền được kể lại lịch sử của mình, thì lời kêu gọi “khép lại quá khứ” chỉ là một mệnh lệnh chính trị khoác áo nhân văn. Tô Lâm cũng nói “tôn trọng khác biệt.” Nhưng khác biệt nào được tôn trọng? Khác biệt trong cách ăn mặc, lễ hội, ẩm thực, văn hóa vùng miền thì có thể được ca ngợi. Nhưng khác biệt về tư tưởng chính trị thì sao? Khác biệt trong cách nhìn về lịch sử thì sao? Khác biệt trong quan điểm về vai trò lãnh đạo của đảng thì sao? Khác biệt trong yêu cầu tam quyền phân lập, xã hội dân sự, tự do báo chí, bầu cử cạnh tranh, công đoàn độc lập thì sao? Nếu tất cả những khác biệt căn bản ấy vẫn bị xem là “nhạy cảm,” “sai trái,” “chống phá” hoặc “bị thế lực thù địch lợi dụng,” thì cái gọi là tôn trọng khác biệt chỉ là một hình thức trang trí ngôn ngữ. Còn “hướng tới tương lai” là phần được nhấn mạnh nhiều nhất trong phát biểu của Tô Lâm. Nó gắn với khẩu hiệu “kỷ nguyên vươn mình,” với tham vọng đưa Việt Nam phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, có vị thế cao hơn. Không ai phủ nhận Việt Nam cần một tương lai mới. Không ai phủ nhận đất nước cần cải cách, cần hiện đại hóa, cần một bộ máy hiệu quả hơn, một nền kinh tế năng động hơn, một vị thế quốc tế vững hơn. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: Tương lai ấy được xây bằng gì, và cho ai? Một tương lai được xây bằng kiểm soát thì không phải tương lai khai phóng. Một tương lai được dựng trên quyền lực công an thì không phải tương lai dân chủ. Một tương lai chỉ cho phép người dân tham gia bằng sự tuân phục thì không phải tương lai của toàn dân. Đó chỉ là tương lai của bộ máy chuyên chế. Đó là một dự án phát triển từ trên xuống, trong đó nhân dân bị yêu cầu im lặng và vỗ tay, nhưng không được quyền chất vấn đường đi của đất nước. Điều mà Việt Nam đang cần không phải chỉ là “vươn mình” về kinh tế. Việt Nam cần vươn mình về phẩm giá công dân, về quyền tự do, về pháp quyền, về năng lực chịu đựng khác biệt. Vươn mình khỏi tâm lý sợ dân, sợ xã hội dân sự, sợ báo chí độc lập, sợ trí thức phản biện. Một nhà nước mạnh không phải là nhà nước kiểm soát được mọi tiếng nói. Một nhà nước mạnh là nhà nước đủ tự tin để cho xã hội được nói, được sai, được tranh luận, được phản đối trong hòa bình. Sau một năm, điều người ta nhìn thấy không phải là một cuộc mở cửa chính trị đi kèm thông điệp hòa giải, mà là sự tiếp tục củng cố mô hình cai trị bằng an ninh. Dưới thời Tô Lâm, công an không chỉ là lực lượng bảo vệ trật tự, mà ngày càng trở thành bộ não kiểm soát xã hội. Từ dữ liệu dân cư, an ninh mạng, quản lý hành chính, kiểm soát không gian công cộng, đến cách xử lý các vấn đề chính trị, dấu ấn công an hiện diện ngày càng rõ. Khi một xã hội bị đặt trong vòng vây an ninh như vậy, lời kêu gọi “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai” khó còn được hiểu như một cam kết hòa giải. Nó giống một thứ ngôn ngữ trang điểm cho quyền lực hơn là một chương trình cải cách. Nói thẳng hơn, đó là xảo ngôn chính trị: Nói bằng giọng hòa giải, nhưng vận hành bằng bản năng kiểm soát./.  
......

Thảm sát sau 30/4/1975 ở Việt Nam đối chiếu Cách Mạng Iran 1979

Lê Bá Vận   Nước Iran  từ lâu không nghe nói đến trên diễn đàn quôc tế, đột nhiên là tin nóng bỏng hằng ngày, hằng giờ, kể từ ngày 28/2/2026. Iran bị liên quân Israel – Mỹ chủ động tấn công, đánh đòn phủ đầu. Tương quan lực lượng rất chênh lệch, Mỹ là siêu cường quân sự hạng đầu thế giới. Hiện tại tình trạng cuộc chiến đang ở thế giằng co, ____   Việt Nam cũng đối đầu với Mỹ giống Iran và đã thành công đánh đuổi Mỹ tháo chạy về nước, ngày 30/4/1975 kết thúc thắng lợi hoàn toàn. Tuy nhiên khía cạnh tương tự nổi bật, sắc nét nhất là cuộc thảm sát đẫm máu ở Việt Nam sau ngày chiến thắng 30/4, đối chiếu hành xử tàn bạo của Cách mạng ở Iran năm 1979.   Iran ở vịnh Ba Tư, Trung Đông, có diện tích 1.650.000 km2 với dân số 92 triệu, là một nước giàu dầu mỏ. Thủ đô là Tehran. Trước năm 1979 Iran là một vương quốc của triều đại dòng Pahlavi cổ kính hơn 2.000 năm. Quốc vương (Sahr) nắm giữ nhiều quyền hành vả Vương quốc Iran có chính sách thân thiện với phương Tây. Đầu năm 1978 khởi phát các cuộc biểu tình lan rộng, lớn dần chống đối chính quyền. Chính phủ đán áp thẳng tay, giải tán, bắt bớ, gây nhiều thương vong.   Tháng giêng năm 1979  quốc vương Sahr và gia quyến chấp nhận ra nước ngoài. Giáo chủ Ruhollah Khomeini (giáo phái Hồi giáo Shia) lưu vong ở Pháp, về nước thành lập nước Cộng hòa Hồi giáo, theo chế độ Thần quyền (theocracy). Hiến pháp Iran đặt nền tảng trên luật Hồi giáo Sharia. Lãnh tụ Tối cao R. Khomeini nắm quyền lực tuyệt đối, định hướng chiến lược quốc gia, và là tổng tư lệnh quân đội.  Việt Nam thì Hiên pháp điều 4 dựa trên chủ thuyết Cộng sản.   Sau ngay Cách mạng Hồi giáo Iran thành công vào tháng 2/1979, một loạt các cuộc thanh trừng đẫm máu đã diễn ra. Đây là giai đoạn củng cố quyền lực của Ayatollah Khomeini, trong đó chế độ mới loại bỏ các đối thủ chính trị, quân đội cũ và những người từng cùng tham gia cách mạng nhưng khác biệt về tư tưởng.    + Xử tử quan chức chế độ cũ (Shah): Trong những tháng đầu tiên, hàng trăm quan chức cao cấp, tướng lĩnh quân đội và cảnh sát dưới thời Shah Mohammad Reza Pahlavi (tên vị Shar cuối cùng) bị bắt giữ và xử tử ngay lập tức bởi các tòa án cách mạng, đứng đầu là giáo sĩ Sadegh Khalkhali (được mệnh danh là "thẩm phán treo cổ"). + Thanh trừng các nhóm đối lập (Cánh tả, Cộng sản, Thế tục): Các nhóm cộng sản (đặc biệt là ĐCSTudeh), các tổ chức XHCN, và những nhóm Hồi giáo cải cách. + "Cách mạng Văn hóa" và trấn áp trí thức: Các trường đại học bị đóng cửa từ năm 1980 đến 1982 để loại bỏ những người có tư tưởng phương Tây, cánh tả hoặc không ủng hộ thần quyền. + Đàn áp sắc tộc và biểu tình: Các cuộc nổi dậy của người Kurd, Turkmen và các dân tộc thiểu số khác đòi quyền tự trị bị trấn áp dã man.    Số lượng nạn nhân: Các ước tính cho rằng số người bị xử tử có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí cao hơn . . Năm 1988, sau chiến tranh Iran-Iraq, dưới lệnh trực tiếp của Khomeini, ít nhất 4.000 đến 5.000 tù nhân chính trị – phần lớn là cộng sản hoặc cánh tả – đã bị hành quyết trong vòng vài tuần. Con số thực tế cao hơn. Đây là cuộc hành quyết tù nhân chính trị lớn nhất trong lịch sử hiện đại Trung Đông, được Tổ chức Ân xá Quốc tế mô tả là “tội ác chống lại loài người”., quy mô và tính chất ngang với diệt chủng Khmer Đỏ ở Campuchia. Về lý luận, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan của Khomeini và chủ nghĩa Marx vô thần là hai hệ .tư tưởng không đội trời chung. Khomeini coi cộng sản là: Vô thần”, “phản Thượng đế”   Chính dách Kinh tế - Khomeini rất ít quan tâm, Ông khẳng định mình coi trọng "tinh thần hơn vật chất".[135]  Ông cũng đã nói rằng: "Tôi không thể tin rằng mục đích của tất cả những sự hy sinh này chỉ là để mua được những quả dưa rẻ tiền hơn".[136] Trong một dịp khác, ông nói: "Có ai muốn con cháu chúng ta tử vì đạo để có được một ngôi nhà tử tế không? Nó không phải là vấn đề quan trọng. Vấn đề quan trọng là thế giới bên kia".[137] Ông cũng đã tuyên bố thẳng thừng rằng "kinh tế là dành cho những con lừa" [138][Note 1]  Tỉ lệ nghèo đói đã tăng gần 45% trong 6 năm đầu cầm quyền của Khomeini.[141]  Ước tính hai đến bốn triệu doanh nhân, chuyên gia, kỹ thuật viên và thợ thủ công lành nghề" của Iran đã di cư sang các nước khác.[143][144].  Họ ra đi, không hề bị cấm đoán.   Luật Sharia rất khắt khe đối với phái nữ. Ly hôn bị cấm đoán, đa thê chấp nhận. Ngoại tình là trọng tội. Tuổi hôn nhân được hạ xuông, là 13 tuổi đối với các bé gái.… _____   Việt Nam Cộng sản sau chiến thắng 30/4/1975 đã hòa quyện thám sát chính trị và thảm sát (cướp bóc) kinh tế. Về chính trị Cộng san CS) lập ra những trại tù học tập cải tạo. Tổng số người bị giam giữ: Ước tính trên 1.000.000 người, bao gồm quân đội, công chức, cảnh sát, nhân viên các cấp của chính quyền cũ và các nhà lãnh đạo tôn giáo, nhân viên làm việc cho người Mỹ bị tập trung học tập. Khoảng 165.000 người tử vong, chết vì bệnh tật, suy dinh dưỡng, lao động khổ sai hoặc hành quyết.    Các trại giam thường nằm ở những khu vực hẻo lánh, khắc nghiệt (thường là miền Bắc hoặc vùng cao nguyên), thiếu vệ sinh, đói khát, thiếu thuốc men và phải lao động rất nặng nhọc. Tra tấn là điều phổ biến trong các trại cải tạo.[6]. Nhân cách và sinh mạng của trại tù viên được các cai tù xem không bằng súc vật. Thời gian: Tình trạng giam giữ được xem vừa là một phương tiện trả thù, vừa là một kỹ thuật tinh vi của đàn áp chính trị và nhồi sọ. Các tù nhân bị giam giữ trong khoảng thời gian từ vài tuần cho đến 18 năm.[7],"học tập về đường lối của chính phủ mới.".  Nhiều trí thức, khoa bảng miên Nam thực ra chỉ cần học trong nửa ngày là quán triệt hơn các ông CS gộc.   Về kinh tế thì Cộng sản (CS) xem miền Nam thuần túy là một chiến lợi phẩm mang tính ‘toàn diện’, quân sự lẫn dân sự. Từng đoàn xe con, xe tải sau ngày 30/4, chất đầy xe đạp, xe gắn mây và các phụ tùng, TV, tủ lạnh, quạt máy, máy may, máy giặt, vải vóc, gạo trắng… cùng với  các máy móc thiết bị trong xí nghệp sản xuất, trong các  bệnh viện, hóa chất, dược liệu… thi đua chở ra Bắc.   Bước kế tiếp với quy mô là đánh tư sản”, “xóa tư bản”, “cải tạo công thương nghiệp”: + Đợt một (X-2), ngày 10/9/1975, nhiều nhà tư sản bị bắt, tài sản bị thu giữ. + Đợt hai chiến dịch đổi tiền (X-3), ngày 22–23/9/1975. Mỗi hộ gia đình chỉ được đổi một số tiền rất hạn chế. Số còn lại gởi ngân hàng, và mất bặt tin tức. + Đợt ba “Nhất võng đả tận”. Một mẻ hốt gọn, bắt hết tóm cổ cả bọn, toàn bộ sa lưới. Năm 1976 và đặc biệt năm 1978, hàng chục ngàn hộ kinh doanh ở Sài Gòn đột ngột bị kiểm kê, niêm phong, tịch thu hoặc buộc chuyển giao tài sản. Không chỉ đại tư sản, cả tiểu thương, chủ xe, chủ xưởng nhỏ, người làm ăn vừa và nhỏ cũng bị cuốn vào vòng “cải tạo”. CS tịch thu được một số lượng rất lớn vàng, đá quý, đô la Mỹ, bất ngờ, không kịp tẩu tán. Trên 130.000 hộ dân và cán bộ miền Bắc vào Nam được phân phối nhà cửa được tịch thu.   Lời Kết: Cách mạng Hồi giáo Iran năm 1979 giết người như ngóe, tạo thảm sát tàn khốc, không đâu sánh bằng. Song họ thực thà, ngay thẳng, không huênh hoang. Họ chỉ bắt buộc tuân thủ luật Sharia và đã thẳng tay xử tử vài ngàn người. CSVN đã tẩm ngầm giết 165.000 người trọng trại tù cải tạo, cọng thêm gần nửa triệu thuyên nhân bỏ mình trên biển cả, "Ta không giết Bá Nhân, song Bá Nhân vì ta mà chết". CSVN rất xảo quyệt, ngụy biện, đạo đức giả.   Chiến thắng 30/4/1975 của CSVN có 2 khuyết điểm, là lỗ thủng lớn. + Một là chiến thắng đó là ủy nhiệm, do sự giúp đỡ toàn diện của Liên Xô và Trung Quốc. Xưa tiền nhân đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, mới là do tự lực. + Hai là chiến thắng đó đã đánh mất ý nghĩa, bị hoen ố vì thực chất là một vụ cướp bóc sạch của cải đồng bào miền Nam.trù phú.   Ngày nay, mỗi độ ngày 30/4 CSVN kỷ niệm thấm dần những hành vi sai trái, ngày càng bị phanh phui.  Về phía chúng ta, những nạn nhân còn sống sót và nay định cư ở nước ngoài thì chung ta kỷ niệm, ôn lại những giây phút đau lòng khi bất lực nhìn thấy cua cải bị vơ sạch, nhà cửa bị chiếm đoạt, bản thân bị uy hiếp ,,,,   Năm nay ngày 30/4 lại đến, lần thứ 51, vẫn là ngày Quốc hận trong tháng tư đen rung rợn..Song nay gió đã đổi chiều và chúng ta từ nay đón nhận ngày 30/4 trong tinh thần phấn khởi. Những lỗi lầm xưa của CS  ngày càng bộc lộ rõ nét thông qua phân tích các hô sơ mật, vạch mặt những khuất dấu. Đặc biệt chứng cứ quan trọng là lời thú nhận ngây ngô của cố Tổng bí thư Đỗ Mười.   Cố Tổng Bí Thư Đỗ Mười (nhiệm kỳ 1991-1997) lúc ông đang là ủy viên ban bí thư Trung Ương Đảng phụ trách đánh tư sản, kiểm kê và tịch thu tài sản nhân dân miền Nam, ngày 20 Tháng Hai, 1976 vào lúc 10 giờ 15 phút, trước sân tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, được kể lại là đã từng tuyên bố: “Giải phóng miền Nam chúng ta có quyền tịch thu tài sản trưng dụng nhà cửa, hãng xưởng, ruộng đất chúng nó [ám chỉ người dân miền Nam], xe chúng nó ta đi, vợ chúng ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ, còn chúng nó thì ta đày đi kinh tế mới và nơi rừng sâu nước độc, chúng nó sẽ chết lần mòn.”   Lê Bá Vận.  
......

Vì sao 51 năm sau 30/4/1975, người Việt vẫn cứ ra đi?

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại một cuộc chiến kéo dài nhiều thập kỷ, mở ra một chương mới cho lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, một câu hỏi vẫn âm thầm tồn tại: vì sao người Việt vẫn tiếp tục rời bỏ quê hương, bất chấp nguy hiểm, nợ nần và tương lai bấp bênh? Trước hết, cần nhìn nhận rằng việc ra đi không chỉ là một hiện tượng kinh tế đơn thuần. Nếu chỉ vì tiền, sẽ khó lý giải vì sao người Việt chấp nhận đến những nơi như Jordan hay Ả Rập Xê Út, những quốc gia thường bị chỉ trích về điều kiện lao động và quyền con người. Cũng không dễ hiểu tại sao nhiều người chọn sống chui lủi ở Thái Lan, nơi họ không có tư cách pháp lý, không được bảo vệ, và luôn đối diện nguy cơ bị bắt giữ hoặc trục xuất. Nếu chỉ là bài toán thu nhập, những lựa chọn này rõ ràng không tối ưu. Vấn đề nằm ở chỗ sâu xa hơn: cảm nhận về cơ hội và tương lai. Nhiều người ra đi không chỉ để “kiếm tiền” mà để tìm một môi trường mà họ tin rằng công sức của mình có thể được đền đáp công bằng hơn. Khi một bộ phận người dân cảm thấy con đường thăng tiến trong xã hội bị hạn chế bởi giáo dục, quan hệ, hay cơ chế thì ra đi trở thành một lối thoát, dù rủi ro. Bên cạnh đó là yếu tố niềm tin. Niềm tin vào thể chế, vào luật pháp, vào khả năng bảo vệ quyền lợi cá nhân. Khi niềm tin này không đủ mạnh, người ta dễ chấp nhận đánh đổi sự an toàn hiện tại để tìm kiếm một nơi khác mà họ hy vọng “dễ thở” hơn. Điều này lý giải vì sao, ngay cả khi đối diện với cảnh sống tạm bợ, bị bóc lột hoặc cô lập, nhiều người vẫn không quay về. Trở về, trong mắt họ, không phải là giải pháp mà là quay lại điểm xuất phát của những bế tắc cũ. Khi làn sóng ra đi đã hình thành, nó tự tạo động lực cho chính nó. Người đi trước mở đường, gửi tiền về, tạo nên hình ảnh về một “cơ hội ở bên ngoài”. Dù thực tế có thể khắc nghiệt hơn nhiều, hình ảnh đó vẫn đủ sức thúc đẩy người đi sau. Gia đình, áp lực cộng đồng, và khát vọng đổi đời đan xen, khiến quyết định ra đi trở nên gần như tất yếu đối với một số người. Cuối cùng, câu hỏi “tại sao không về?” thực chất phản ánh một nghịch lý. Nếu điều kiện sống ở quê nhà thực sự đáp ứng được nhu cầu căn bản về an toàn, cơ hội và phẩm giá, thì không cần phải hỏi câu đó. Việc người ta chấp nhận ở lại trong khó khăn nơi đất khách cho thấy, trong phép so sánh của họ, “ở lại” vẫn tốt hơn “quay về”. 51 năm sau ngày 30 tháng Tư 1975, Việt Nam đã thay đổi đáng kể về kinh tế và vị thế quốc tế. Nhưng sự phát triển vật chất không tự động giải quyết mọi vấn đề về cơ hội, công bằng và niềm tin. Chừng nào những khoảng cách đó còn tồn tại, chừng đó khát vọng ra đi vẫn sẽ tiếp diễn không chỉ như một lựa chọn kinh tế, mà như một tìm kiếm sâu xa hơn về một cuộc sống mà họ tin là xứng đáng./. Lý Sơn
......

Bảy dấu hiệu Tô Lâm đang kéo đất nước về thời bao cấp

Lý Thái Hùng   Trong gần hai năm qua, Tô Lâm liên tục nói về một “kỷ nguyên vươn mình” của Việt Nam, kèm với những mỹ từ rất hấp dẫn: Đột phá kinh tế, tăng trưởng hai con số, tinh gọn bộ máy, quản trị hiện đại, kỷ cương, hội nhập và phát triển. Nhưng nếu nhìn kỹ vào các sắp xếp nhân sự, chính sách và chủ trương gần đây, người ta thấy rằng, bên dưới lớp sơn phát triển ấy không phải là một chương trình khai phóng xã hội, mà là một tiến trình kéo Việt Nam trở lại thời bao cấp.   Nói Việt Nam đang trở lại thời bao cấp ở thế kỷ trước nghe qua có vẻ khó tin. Sau hơn 30 năm mở cửa, người dân đã quen với kinh tế thị trường, siêu thị, ngân hàng số, điện thoại thông minh, mạng xã hội, du lịch, đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân. Bao cấp, trong ký ức nhiều người, là thời tem phiếu, sổ gạo, cửa hàng mậu dịch, hợp tác xã, hộ khẩu, giấy giới thiệu và những hàng người dài chờ mua từng ký gạo, từng gram thịt, từng mét vải… Nhưng nếu hiểu bao cấp chỉ là thiếu hàng hóa thì ta sẽ bỏ sót bản chất sâu hơn của nó.   Bao cấp trước hết là một triết lý cai trị: Nhà nước kiểm soát, phân phối, cấp phép, giám sát và quyết định mọi mặt xã hội. Theo nghĩa ấy, bao cấp không chết. Nó chỉ thay hình đổi dạng và nay tái xuất hiện.   Bao cấp cũ kiểm soát người dân bằng tem phiếu, hộ khẩu, lý lịch, công an khu vực và tổ dân phố. Bao cấp mới kiểm soát người dân bằng căn cước công dân gắn chip, dữ liệu dân cư, camera, tài khoản số, hóa đơn điện tử, giấy phép hành nghề, chế tài hành chính, kiểm soát mạng xã hội và các mạng lưới an ninh cắm sâu xuống tận cấp xã.   Bao cấp cũ buộc dân xếp hàng trước cửa hàng mậu dịch. Bao cấp mới buộc dân xếp hàng trước các cổng thủ tục, hệ thống dữ liệu, quy định thuế, giấy phép và những quyết định hành chính có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Bao cấp cũ làm dân sợ thiếu gạo. Bao cấp mới làm dân sợ bị gọi tên.   Điểm nguy hiểm của mô hình này là nó không xuất hiện như một chính sách duy nhất mà nó hiện ra qua những mảnh ghép tưởng như rời rạc nhưng có liên kết như một mạng lưới. Thật vậy, nếu ta nhìn riêng từng việc, người ta dễ bị đánh lừa. Xây dựng xã, phường “xã hội chủ nghĩa kiểu mẫu” nghe như quy hoạch đô thị. Công an tham gia và bảo đảm tăng trưởng hai con số nghe như giữ gìn trật tự để phát triển. Trao quyền cho chủ tịch UBND cấp xã tước chứng chỉ hành nghề luật sư nghe như phân cấp quản lý. Lập “luật sư công” nghe như trợ giúp pháp lý cho dân nghèo. Siết mạng xã hội nghe như chống tin giả. Mở rộng camera nghe như bảo vệ an ninh.   Nhưng khi ghép tất cả lại, bức tranh hiện ra rất rõ: Xã hội đang bị đặt vào một mạng lưới kiểm soát mới, trong đó công an không chỉ là lực lượng giữ trật tự mà đang trở thành trục chính của quản trị quốc gia, theo kiểu “tín nhiệm xã hội hóa đời sống công dân” mà Bắc Kinh đang áp dụng. Nơi đó con người không còn được nhìn như một chủ thể có quyền, mà biến thành một hồ sơ hành vi, được chấm điểm hạnh kiểm, phân loại và đối xử theo nhu cầu an ninh.   Bảy dấu hiệu sau đây của thời bao cấp xưa, nếu đặt vào cùng một trục quyền lực, sẽ cho thấy một khuynh hướng rõ rệt: Phục hồi bao cấp để phục vụ công an trị trong thời đại kỹ thuật số.   Dấu hiệu thứ nhất là lệ thuộc ngoại bang.    Thời bao cấp, Việt Nam lệ thuộc nặng nề vào các nước xã hội chủ nghĩa về lương thực, vũ khí, xăng dầu, thuốc men, công nghệ. Ngày nay, nguy cơ lệ thuộc trở lại dưới hình thức lệ thuộc vào Trung Quốc về hạ tầng, thương mại, công nghệ, nguyên liệu, vốn vay, và cả phối hợp an ninh. Chỉ trong chuyến thăm Bắc Kinh tháng 4/2026 của Tô Lâm, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác; Trung Quốc hỗ trợ vốn vay, chuyển giao công nghệ và đào tạo cho các dự án đường sắt, trong khi các kênh hợp tác an ninh và thực thi pháp luật cũng được mở rộng. Việt Nam đang xích lại gần hơn với mô hình kiểm soát của Bắc Kinh. Nguy cơ không còn chỉ trong lãnh vực kinh tế mà còn tiến dần tới lằn mức mượn phương tiện Tàu, nhân sự Tàu cai trị dân Việt.   Dấu hiệu thứ hai là bóp nghẹt kinh tế nội địa.    Thời bao cấp, kinh tế tư nhân bị lên án, thị trường bị dẹp bỏ, sản xuất bị trói trong chỉ tiêu, và dân chúng phải xếp hàng mua từng loại nhu yếu phẩm. Ngày nay tư duy quản lý bao cấp đang trở lại qua những lớp thủ tục, kiểm tra, thuế vụ, hóa đơn, giấy phép, chiến dịch hành chính và sự bất định chính sách. Doanh nghiệp tư nhân được gọi là động lực phát triển trong diễn văn, nhưng trên thực tế bị đối xử như đối tượng phải quản lý, truy thu, kiểm tra và răn đe. Khi người làm ăn không biết ngày mai quy định nào sẽ thay đổi, khi một biên bản hành chính có thể làm tê liệt cơ sở kinh doanh, khi công an và thuế vụ trở thành nỗi ám ảnh thường trực, thì tinh thần thị trường bị kéo lùi về tinh thần xin-cho. Bao cấp mới không bắt dân xếp hàng mua gạo, nhưng bắt người dân và doanh nghiệp xếp hàng xin được yên ổn.   Dấu hiệu thứ ba là trấn áp tiếng nói bất đồng.    Thời bao cấp có Nhân Văn Giai Phẩm, có Chống Xét Lại, có lý lịch chính trị và những bản án dành cho người dám nghĩ khác với nhà nước. Ngày nay, hình thức có thay đổi nhưng bản chất vẫn vậy. Một bài viết, một lời bình luận, một nút “like,” một chia sẻ trên mạng xã hội cũng có thể trở thành lý do để bị gọi làm việc, bị phạt tiền, bị đe dọa hoặc bị bắt. Đặc biệt nghiêm trọng là xu hướng kiểm soát nghề luật sư. Khi chủ tịch UBND cấp xã được trao quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư, và khi nhà nước đề xuất mô hình “luật sư công,” thì người bảo vệ pháp lý cho dân cũng bị đưa vào vòng kiểm soát. Luật sư vốn là người đứng giữa công dân và quyền lực nhà nước; nếu luật sư bị chính quyền cơ sở đe dọa nghề nghiệp, thì người dân mất đi một trong những chiếc khiên cuối cùng trước bộ máy hành chính.   Dấu hiệu thứ tư là quyền uy công an gần như tuyệt đối.    Thời bao cấp công an có thể xông vào nhà bất kỳ lúc nào, tùy tiện đặt ra luật lệ tại chỗ, tùy tiện kết luận người dân nào là phần tử xấu, là có tư tưởng phản động. Ngày nay, một lực lượng CA kiêu binh đông gấp 10 lần ngày xưa, bắt đầu xông vào nhà dân tịch thu xe dù ngày hay đêm và dù xe không đang tham gia lưu thông. CA tùy tiện xông vào tiệm, vào nhà dân tịch thu sản phẩm, kể cả sản phẩm do dân tự nuôi hay chế tạo, mà họ bảo là không chứng minh được nguồn gốc. Không chỉ người dân là đối tượng của công an, giới doanh nhân, báo chí, luật sư, trí thức, người hoạt động xã hội đều bị nhìn qua lăng kính an ninh chính trị bằng những cặp mắt hằn thù.   Dấu hiệu thứ năm là tuyên truyền bao trùm xã hội.    Thời bao cấp, hệ thống tuyên truyền xem dân như trẻ em cần được giáo dục, chỉ dẫn và bảo vệ khỏi “tư tưởng độc hại.” Tin tức thế giới bị lọc qua lăng kính ý thức hệ. Báo chí không phải để kiểm soát quyền lực, mà để biện minh cho quyền lực. Ngày nay, dù người dân có Internet và mạng xã hội, nhà nước vẫn tìm cách dựng lại bức tường ấy bằng luật an ninh mạng, kiểm duyệt nền tảng, xử phạt người viết, chặn nội dung bất lợi và buộc truyền thông chính thống đi theo một giọng nói duy nhất. Tuyên truyền thời kỹ thuật số tinh vi hơn tuyên truyền thời loa phường, vì nó không chỉ phát đi thông điệp một chiều mà còn tìm cách bóp nghẹt các nguồn thông tin đa chiều. Và rõ ràng hơn nữa, Tô Lâm đã chính thức đặt Đài Truyền hình, Truyền thanh và Thông Tấn Xã Việt Nam dưới sự kiểm soát và chỉ đạo trực tiếp của Trung ương đảng CSVN.   Dấu hiệu thứ sáu là khuyến khích dân theo dõi lẫn nhau.    Bao cấp cũ có tổ dân phố, công an khu vực, lý lịch, kiểm điểm, báo cáo và những lời rỉ tai chính trị. Con người sống trong tâm thế dè chừng không chỉ hàng xóm, đồng nghiệp, mà cả người trong gia đình. Không khí ngột ngạt bao trùm từng ngõ, từng nhà. Ngày nay, bao cấp mới có camera, dữ liệu dân cư, định danh điện tử, tố giác online, mạng lưới an ninh cơ sở và các chiến dịch khuyến khích báo cáo vi phạm có thưởng. Nhà nước không cần lúc nào cũng hiện diện bằng một cán bộ đứng trước cửa nhà người dân. Nó có thể hiện diện qua con mắt của camera, qua cơ sở dữ liệu, qua thuật toán, qua tài khoản định danh, qua một lời tố giác và qua nỗi sợ bị ghi nhận. Người dân đang từng bước trở về thời kỳ nhìn ai cũng nghi đó có thể là người hại mình.   Dấu hiệu thứ bảy là sự trở lại của phong trào thi đua và mô hình kiểu mẫu.    hời bao cấp, con người bị cuốn vào những phong trào thi đua yêu nước, lao động xã hội chủ nghĩa, làng văn hóa, gia đình văn hóa, đơn vị kiểu mẫu. Bề ngoài là động viên xã hội; bên trong là kiểm soát tư tưởng, hành vi và sự phục tùng.   Ngày nay, khẩu hiệu “kỷ nguyên vươn mình”, “xã phường xã hội chủ nghĩa kiểu mẫu”, “tăng trưởng hai con số”, “tự hào dân tộc” có nguy cơ trở thành những thước đo chính trị mới. Chúng không chỉ nhằm tạo khí thế mà quan trọng hơn là nhằm tạo ra tiêu chí để đo lòng trung thành, để phân biệt ai hưởng ứng và ai im lặng, ai “tích cực” và ai “có vấn đề”.   Từ bảy dấu hiệu ấy, có thể nói mô hình Tô Lâm đang dựng lên không phải là cải cách theo nghĩa khai phóng. Đó là một cuộc phục hồi bao cấp trong hình hài kỹ thuật số. Nhà nước không còn phát tem phiếu, nhưng phát quyền được yên ổn. Nhà nước không còn quản lý dân bằng sổ gạo, nhưng quản lý bằng dữ liệu. Nhà nước không còn cần xếp dân vào hợp tác xã, nhưng có thể xếp dân vào những hồ sơ hành chính và an ninh. Nhà nước cũng không còn cần đóng cửa thị trường như trước, nhưng sẽ làm cho thị trường nghẹt thở bằng kiểm tra đột xuất, thuế vụ và nỗi sợ.   Điều mỉa mai là tất cả đang được thực hiện nhân danh “vươn mình”. Nhưng một đất nước không thể vươn mình nếu người dân bị thu nhỏ lại thành đối tượng cần quản lý chặt chẽ.   Bao cấp thế kỷ 20 làm xã hội tê liệt vì khiến người dân thiếu gạo, thiếu vải, thiếu xăng. Bao cấp thế kỷ 21 làm xã hội tê liệt vì khiến người dân thiếu tự do, thiếu pháp quyền, thiếu không gian thở.   Vì thế, phải gọi đúng tên hiện tượng này. Đó không phải là kỷ nguyên vươn mình. Đó là kỷ nguyên bao cấp 2.0. Và với xu hướng này, Việt Nam sẽ không đi tới tương lai, mà quay trở lại quá khứ — chỉ khác là quá khứ ấy nay có camera, dữ liệu lớn và những khẩu hiệu mới.   25/4/2026  
......

Từ câu chuyện mang tên Hùng Cao

Xuân Sơn Võ Từ hôm qua đến giờ mạng facebook Việt Nam chộn rộn lên vụ ông Hùng Cao được làm Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kì. Họ chộn rộn vì ông là một người gốc Việt. Họ tự hào vì một người gốc Việt trở thành Quyền Bộ trưởng Bộ Hải quân Hoa Kì. Tôi thì nói thật tôi chẳng cảm thấy tự hào gì cho lắm. Ngược lại, mỗi khi một người gốc Việt nào thành đạt ở nước ngoài, tôi lại cảm thấy tủi thân, và tiếc cho những người Việt khác, đã không được sống trong một môi trường giúp họ bộc lộ và phát triển tài năng. Tôi nghĩ, nếu ông Hùng Cao mà không sang Mỹ, ở lại Việt Nam, thì không biết bây giờ ông làm gì? Biết đâu, ba ông phải đi học tập cải tạo, gia đình ông phải đi kinh tế mới, và bây giờ, ông còn đang phải vật lộn kiếm từng bữa ăn. Rồi cái ông Rosler nào đó, hình như đã có lúc làm Bộ trưởng gì đó của Đức. Ở Việt Nam, với vị thế của một trẻ mồ côi, không biết ông sẽ được xã hội này biến thành con người như thế nào? Tôi quen một số Việt Kiều. Khi ở Việt Nam, các anh làm nhân viên dưới trướng những ông sếp có tầm nhìn hạn hẹp, đánh giá thấp các anh. Rồi các anh vượt biên. Ra nước ngoài, người thì là doanh nhân thành đạt, sở hữu những tài sản khổng lồ. Người thì là giáo sư thuộc loại hàng đầu của đất nước họ cư trú, hàng đầu thế giới. Cháu vợ tôi, khi ở trong nước học hành làng nhàng, nhưng khi sang Mỹ, cháu học khá hẳn, rồi trở thành một trong những nhà khoa học nổi tiếng của Mỹ, là niềm tự hào của nhiều người Việt tại Mỹ. Việc những người gốc Việt thành đạt ở nước ngoài chỉ ra rằng, người Việt không ngu muội, người Việt có trí tuệ, người Việt có tài năng. Họ cần có một môi trường biết ươm mầm, biết nuôi dưỡng tài năng, một môi trường mà ở đó tài năng không bị đè nén, không bị kì thị, không bị kềm hãm bởi những thế lực vừa ngu muội, vừa đố kị, vừa thiển cận, nhưng lại thừa quyền lực và đủ nhỏ mọn. Chợt nhớ cái câu mà người ta hay truyền tai nhau: "Giàu thì chúng nó ghét, Nghèo thì chúng nó khinh, thông minh thì chúng nó tiêu diệt"./.
......

Sân bay Long Thành, Đường sắt cao tốc Bắc Nam và tiếng kêu con quốc quốc

Nguyen Ngoc Chu MÀU HỒNG VÀ MẶT KHUẤT Khu vực TP.HCM cần không chỉ một sân bay Tân Sơn Nhất mà cần các sân bay khác nữa. Nhưng sự xây dựng sân bay Long Thành vào năm 2021 có 5 day dứt đá tảng: (1) Chưa khai thác hết khả năng của sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hoà. (2) Sử dụng quá nhiều đất đai. Chỉ cần không quá 1500 héc ta nhưng lại chiếm đến 5000 héc ta. Đây là do đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nếu là đất tư nhân, đã không thể mua được 5000 héc ta cho dự án sân bay. Nên nhớ đến trường hợp sân bay Narita của Nhật Bản – có các hộ nông dân kiên quyết không chịu di dời. Một số mảnh đất nhỏ nằm ngay trong khu quy hoạch sân bay không thể giải tỏa hoàn toàn. Đường băng số 2 (Runway ban đầu phải xây ngắn hơn thiết kế. Đường lăn và bố cục tổng thể bị lệch, uốn vòng để tránh khu đất của người dân không chịu rời đi. (3) Vốn đầu tư bị đẩy lên quá cao, lãng phí tiền đầu tư xây dựng. Với các nước trong khu vực các sân bay có công suất tương tự, vốn đầu tư chỉ trong khoảng 5-8 tỷ USD, nhưng dự toán của Long thành lên đến 16 tỷ USD. (4) Thiết kế khuyết tật. Chưa có các kết nối hợp lý với hạ tầng giao thông, đường bộ, đường sắt, đường tàu điện ngầm, với thành phố, Tân Sơn Nhất và phụ cận. (5) Khởi công chưa đúng thời điểm, trong lúc nguồn lực còn thiếu, là chưa tối ưu hoá việc sử dụng nguồn vốn. Tại sao tồn tại các khiếm khuyết lớn như vậy mà dự án vẫn được cấp tốc triển khai? Có nhiều nguyên nhân, trong số đó có “nghệ thuật tô hồng” và lobby, được thúc đẩy bởi các mục đích che dấu. Để thuyết phục phê duyệt ngay dự án sân bay Long Thành, phải nói đến hạn chế sân bay Tân Sơn Nhất. Nào là 2 đường băng gần, không thể cắt hạ cánh đồng thời. Nào là không thể mở rộng lên phía Bắc. Rằng muốn đạt công suất 50 triệu hành khách/năm cần đầu tư thêm 9,5 tỷ USD. Trong khi đó chỉ đầu tư chưa đến 5 tỷ USD cho sân bay Long Thành giai đoạn 1 đã có thêm 25 triệu hành khách/năm. Trong thực tế, thì để mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất lên 60 triệu hành khách năm, chỉ cần đầu tư thêm không quá 1 tỷ USD. Và có thể mở rộng công suất sân bay Tân Sơn Nhất lên 70-80 triệu hành khách/năm. Bởi vì đất nước cần phát triển nhưng đang thiếu vốn, nên mới cần tận dụng tối đa công suất sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hoà, rồi sau mới xây sân bay Long Thành và các sân bay khác nữa. Không phải không có tầm nhìn, mà là hấp tấp vội vã. Cũng như vậy, các sân bay như Gia Bình, sân bay Ninh Bình, sân bay thứ 2 của Hà Nội phải ra đời đúng thời điểm. Chạy đua địa phương, bộ ngành và tập đoàn trong xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, công cộng – không thể theo phong trào, mà phải dựa vào nhu cầu thực tiễn. Càng không thể dùng dự án để giữ đất. Nhưng vấn đề “dìm sân bay Tân Sơn Nhất” và “tô hồng cho sân bay Long Thành”, tiếc thay không đơn lẻ. Chiến lược đó đang được áp dụng mạnh mẽ cho đường sắt cao tốc Bắc Nam (ĐSCTBN). Năm 2019, khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đề xuất phương án (PA) thứ hai ĐSCTBN chở khách tốc độ 200 – 250 km/h và chở hàng 120 – 150 km/h với tổng mức đầu tư khoảng 26-32 tỷ USD, đối trọng lại phương án chỉ chở khách 350 km/h của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) có tổng đầu tư 58,7 tỷ USD, nhiều người đã thở phào nhẹ nhõm. Các báo, trong đó có VietnamNet (trong chủ đề “Vì Việt Nam hùng cường”) và VnExpress (trong chủ đề “Góc nhìn”) đã đăng nhiều bài phân tích về ĐSCTBN. Đa số đã chỉ ra lợi thế vượt trội của phương án do Bộ KH&ĐT đề xuất. Phương án tốc độ 250 km/h chở khách và 120 – 150 km/h chở hàng đã được Hội đồng thẩm định nhà nước và tư vấn nước ngoài ủng hộ. Nhưng đột ngột “gió đổi chiều”. Tất cả dừng lại. Không thấy truyền thông viết về phương án của Bộ KH&ĐT và HĐTĐNN cùng tư vấn nước ngoài nữa, mà xuất hiện các bài đề cao lợi ích của phương án 350 km/h. Chỉ nêu ra hai ví dụ: a/ Chi phí xây dựng PA 350 km/h cao hơn hơn PA 250 km/h chỉ 8-9% [1].  Trên thực tế, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2014): “High-Speed Railways in China: A Look at Construction Costs” thì tuyến 350 km/h thuần khách có chi phí cao hơn 25-30% so với tuyến 250 km/h hỗn hợp. Trong các nguyên nhân có: Bán kính cong lớn hơn; Độ dốc thấp hơn; Tỷ lệ cầu cạn/hầm cao hơn; Yêu cầu nền móng cứng hơn và Hệ thống điện & tín hiệu cao cấp hơn. Lấy ví dụ trường hợp thực tế Trung Quốc. Tuyến 250 km/h: Yinchuan – Xi’an (250 km/h) có giá thành khoảng 20-22 triệu USD/km. Trong khi tuyến 350 km/h Bắc Kinh – Thượng Hải có giá thành khoảng 30-33 triệu USD/km. Chênh lệch khoảng 35-50%. Chưa nói là nếu tốc độ 350 km/h thiết kế chở hàng thì giá thành còn cao nữa. Còn theo nguồn của Tây Ban Nha, từ báo cáo của Administrador de Infraestructuras Ferroviarias (ADIF) và High Speed Rail Atlas (UIC): 250 km/h hỗn hợp: 12-18 triệu Euro/km; 300-350 km/h thuần khách: 20-28 triệu Euro/km. Chênh lệch 30-50%. b/ Tốc độ 350 km/h thu hút 12,5% lượng khách cao hơn so với tốc độ 250 km/h [1]. Giá vé càng cao, lượng khách càng ít. Chỉ trong một số trường hợp ngoại lệ hy hữu mới có điều ngược lại. Việt Nam là nước có thu nhập thấp, giá vé tàu cao tốc 350 km/h rất đắt. Lấy đâu ra căn cứ để nói PA 350 km/h thu hút 12,5% lượng khách cao hơn PA 250km/h? Thực hư thế nào? Lấy đoạn liên tỉnh ngắn như Hà Nội – Vinh 300 km. Tàu 350 km/h mất 1h, thí dụ giá vé 600 ngàn đồng, tàu 250 km/h mất 1 h 25 phút, giá vé 400 ngàn đồng. Chênh lệch 25 phút mà giá vé gấp rưỡi, đa số người dân thu nhập thấp và trung bình lẫn cả khá đều chọn tàu tốc độ 250 km/h. Như vậy các đoạn liên tỉnh tàu tốc độ 250 km/h sẽ có lượng khách áp đảo so với 350 km/h. Tuyến Hà Nội – Tp HCM 1541 km, tốc độ 350 km/h chạy 5 tiếng, thí dụ giá vé 1,8 triệu; tàu 250 km/h mất 7h, vé 1,2 triệu. Chênh lệch 2 tiếng mà giá vé tăng 150%, thêm 600.000 đồng, đa số người dân cũng sẽ chọn tàu 250 km/h. Vậy tàu 350 km/h thu hút đông khách hơn tàu 250km/h trong trường hợp nào? Với lợi thế ngắn hơn 2 giờ, tàu 350 km/h sẽ thu hút một bộ phận khách hàng trong nhóm người thu nhập cao, cần thời gian cho công việc. Nhưng nhóm khách hàng này chỉ chiếm khoảng 10% lực lượng lao động. Hơn thế nữa, đối với 10% lực lượng lao động này, tàu 350 km/h phải đối mặt với sự giành giật gay gắt của khuyến mại hàng không và hàng không giá rẻ. Cho nên không thể kết luận tàu 350 km/h thu hút 12,5% khách hàng cao hơn so với tàu 250 km/h một cách phiến diện như vậy. Lấy một phân khúc khách hàng hẹp để kết luận chung cho tất cả chỉ là cách tô hồng nguy hiểm cho PA 350 km/h. DỮ LIỆU MÔ PHỎNG Thử đưa ra dữ liệu mô phỏng cho PA 250 km/h hỗn hợp và 350 km/h thuần khách. Tàu 350 km/h vừa chở khách vừa chở hàng chưa có nước nào xây dựng vì không an toàn. Ngay Trung Quốc, nước sở hữu công nghệ tiên tiến bậc nhất, nhiều tuyến ĐSCT nhất, cũng chưa có tuyến nào tốc độ 350 km/h vừa chở khách vừa chở hàng. Châu Âu, Nhật, Mỹ đều chưa có. Việt Nam cần loại trừ PA này. Còn dùng tàu 350km/h chở khách để chở hàng nhẹ, thì đó không phải là tàu chở hàng contener nặng theo nghĩa kinh điển mà thế giới chấp nhận. Giả thiết GDP tăng như sau: 2024 – 2035: 8%/năm; 2036 – 2045: 7%/năm, 2046 – 2055: 6%/năm, 2056 -2095: 5%/năm (đây là giả thiết lý tưởng); ĐSCTBN đưa vào khai thác năm 2035. 2.1. PA 250 km/h hỗn hợp  Thêm các giả thiết sau đây (1) Tổng vốn đầu tư 35 tỷ USD. Suất đầu tư: 35 tỷ USD/ 1541 km = 22,7 1 triệu USD/km. Theo báo cáo tài chính China State Railway Group và dữ liệu dự án công bố công khai, suất đầu tư các tuyến Trung Quốc giai đoạn 2018-2024 cho 250 km/h hỗn hợp như sau: Yinchuan -Xi’an (618 km, 250 km/h): khoảng 20-22 triệu USD/km Hefei -Anqing (360 km, 250 km/h): khoảng 18-21 triệu USD/km. Như vậy suất đầu 35 tỷ USD là hoàn toàn có cơ sở. Nó gần với đánh giá của Bộ KH&ĐT trong khoảng 26-32 tỷ USD. (2) Lãi vay 3% cho 30 năm. (3) Hành khách 15 triệu hành khách năm 2035 cho tuyến Hà Nội –TP.HCM. Giá vé 60 USD. Trục HN-TP.HCM năm 2024 có khoảng 15-17 triệu khách/năm. GDP tăng 8%/năm đến năm 2035 tăng khoảng 2,16 lần. Hệ số vận tải hành khác liên tỉnh theo ADB và WB co giãn trong khoảng 1,2-1,5. Lấy trung bình 1,3 và 16 triệu khách hiện tại, thì tới năm 2035 nhu cầu vận tải tăng 2,7 lên 43 triệu khách. Với tốc độ GDP tăng liên tục 8%/năm, đến năm 2035 GDP/đầu người đạt khoảng 10.000 USD, thì giá vé Hà Nội – TP.HCM cho tàu tốc độ 250 km/h ở mức 60 USD/vé sẽ được số đông chấp nhận. Với giá này, với thời gian khoảng 7 h, lại có thể đi đêm, ngày nên sẽ ấy 30-35% thị phần hàng không, 70-80% đường sắt cũ, 30-40% đường bộ và thu hút khách hàng mới. Nên, rất thực tế là có thị trường từ 14-17 triệu khách/năm. Giá vé 60 USD, khoảng 0,039 USD/km là giá vé rẻ. So với các nước như Trung Quốc: 0,04-0,06 USD/km và Tây Ban Nha: 0,1-0,14 USD/km đều thấp hơn khá nhiều. Mức hoà vốn cho giá vé này khoảng 60% số ghế. Như vậy doanh thu vận chuyển hành khách từ hai đầu cuối sẽ là: 15 triệu x 60 USD = 900 triệu USD. – 26 triệu khách liên đoạn. Giá trung bình 0,045 USD/km. Lượng khách ga đầu – ga cuối năm 2035 là 15 triệu. Thống kê quốc tế cho thấy lượng khách liên đoạn chiếm khoảng 60-70% tổng số khách. Con số 26 triệu khách chiếm khoảng 64% tổng khách 41 triệu. Cự ly trung bình để tính khách liên đoạn là 350 km. Đơn giá trung bình cho khách liên đoạn là 0,045 USD/km. Đơn giá thực tế Trung Quốc/ châu Âu cho tàu 250 km/h trong khoảng 0,045 – 0,065 USD/km. Lấy tối thiểu là 0,045 USD/km. Số lượng hành khách liên đoạn – km (PKM): 26 triệu x 350 km = 9,1 tỷ km/năm; Doanh thu liên đoạn năm 2035: 9,1 tỷ x 0,045 USD = 409,5 triệu USD/năm Như vậy tổng doanh thu hành khách vào năm đầu khai thác 2035 sẽ là: 900 triệu USD + 409,5 triệu USD = 1 tỷ 309,5 triệu USD. (4) Hàng hoá Một cách thận trọng ước lượng hàng hoá 2 đầu cuối vào năm 2035 là 40 triệu tấn thuộc phần đường sắt. Dự báo này dựa trên các dữ liệu cụ thể sau: Hiện tại, vận tải hàng Bắc-Nam, đường bộ chiếm khoảng 1,3-1,5 tỷ tấn/năm còn đường sắt chiếm khoảng 5-6 triệu tấn/năm, tương đương 170-220 triệu tấn/năm. Tuyệt đại đa số hàng hoá đi bằng đường bộ và đường biển. Trục chính Bắc – Nam của đường sắt chỉ vận chuyển 3-4 triệu tấn/năm. Tỷ phần vận tải hàng hoá Việt Nam vô cùng bé, chỉ chiếm khoảng 0,5% trọng lượng và khoảng 4-5% tấn/km. Số liệu tương ứng của Trung Quốc là 14-18% tấn/km và EU trong khoảng 16-18% tấn /km, còn Hoa Kỳ là 27-30% tấn/km. Với tốc độ tăng GDP 8%/năm, đến năm 2035 quy mô kinh tế tăng khoảng 2,16 lần. Độ co giãn vận tải theo GDP thường là 1,1-1,3, lấy trung bình 1,2. Với 200 triệu tấn hiện nay, với mức tăng trưởng như vậy, vào năm 2035 có thể đạt con số 500 triệu tấn (2,16 x 1,2 làm tròn = 2,5; 2, 5x 200 triệu tấn = 500 triệu tấn). Khi có tuyến đường sắt tốc độ 120-150 km/h, kinh nghiệm quốc tế cho thấy nó có thể chiếm 8-15% thị phần trục dài. Lấy 8% của 500 triệu tấn, cho ta con số 40 triệu tấn. Đây là tính toán thận trọng. Chỉ cần tăng lên 12% sẽ là 60 triệu tấn. Điều này rất khả thi khi tuyến vận tải đường sắt Bắc Nam tốc độ cao ra đời, tổ chức logistics container tối ưu, vận chuyển nhanh, giá thấp. Tiếp theo cần xác định giá cho tấn–km. theo thực tế của Trung Quốc là nước có giá thành vận tải hàng hoá thuộc nhóm thấp, thì với tàu 250 km, có tốc độ tàu hàng trong khoảng 120-150km/h, giá thành vận chuyển 1 tấn-km, thì ở Trung Quốc dao động trong khoảng 0,03-0,04 USD, và châu Âu dao động trong khoảng 0,035 – 0,065 USD/tấn-km (IFT- International Transport Forum: “Cost Efficiency in Freight Transport”). Với tuyến Hà Nội – TPHCM lấy giá trung bình 0,04 USD/tấn-km. Giá này cạnh tranh tốt với giá vận tải ô tô hiện đang trong khoảng 0,065-0,09 USD/tấn-km. Như vậy, với dự báo thận trọng 40 triệu tấn năm, doanh thu từ vận tải hàng hoá của hai đầu cuối vào năm 2035 sẽ là: 40 triệu tấn x 1541 km x 0,04 USD = 2tỷ 465 triệu USD (làm tròn). – Hàng hoá liên đoạn: Vận chuyển hàng liên tỉnh là một khâu rất quan trọng. Với dự báo hàng hai đầu cuối là 40 triệu tấn, theo thực tiễn của các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, thì lượng hàng liên đoạn chiếm khoảng 40-60% lượng hàng hai đầu cuối. Từ đó suy ra, vào năm 2035, lượng hàng hoá liên đoạn trung bình khoảng 20 triệu tấn. Khoảng cách liên đoạn là 400 km. Khoảng cách này không cạnh tranh với xe tải ở khoảng cách dưới 200 km, phù hợp với vận chuyển container giữa các trung tâm vùng, và phù hợp với thực tiễn logistics 250-600 km. Như vậy, doanh thu từ vận chuyển hàng hoá liên đoạn vào năm 2035 sẽ là: 20 triệu tấn x 400 km = 8 tỷ tấn–km x 0,04 USD = 320 triệu USD. Tổng doanh thu từ vận chuyển hàng hoá vào năm 2035 dự báo sẽ là: 2 tỷ 465 triệu USD + 320 triệu USD = 2 tỷ 785 triệu USD. (5) Kết quả năm đầu khai thác 2035 – Tổng doanh thu năm đầu (2035) 1,3095 tỷ USD (khách) + 2,786 tỷ USD (hàng) = 4,0955 tỷ USD – Chi phí vận hành và bảo trì (O&M) 3% = 1,05 tỷ USD – Trả nợ: 1,79 tỷ USD – Kết quả 2035: 4,0955 tỷ USD – 1,05 tỷ USD – 1,79 tỷ USD = 1,255 tỷ USD (lãi) PA 250 km/h cho lãi ngay từ năm đầu khai thác, không cần nguồn tiền dự phòng để bù lỗ. Với các giả thiết tăng GDP đã nêu, lượng khách và hàng sẽ tăng như sau: Khách: 7,7% (2035–45) Hàng: 6,3% (2035–45) Sau khi trừ O&M và trả nợ: Năm – Lãi năm đó (tỷ USD) – Lũy kế (tỷ USD) Lợi nhuận lũy kế 2095: khoảng 1.150 tỷ USD (2) PA 350 km/h chở khách và chở hàng nhẹ Tổng mức đầu tư 61 tỷ USD Vay lãi suất 3%/năm cho 30 năm 10 triệu hành khách năm 2035 cho tuyến Hà Nội -TP.HCM. Giá vé 90 USD. Năm 2024: Đường bay HN–TP.HCM ~ 9–10 triệu lượt/năm. Tổng khách trục Bắc-Nam (bay + tàu + xe) ~15-18 triệu. Với giả thiết GDP 2025-2035 tăng 8%/năm bằng khoảng 2,16 lần. Nhu cầu vận tải hành khách thường tăng ≈ 1,1 × GDP bằng khoảng 2,3 lần. Như vậy trục Hà Nội – TP.HCM vào năm 2035 sẽ có khoảng 20 -25 triệu khách. Nhu cầu vận tải tăng khoảng 2,3 lần, đạt khoảng 25 triệu khách vào năm 2035. Với giá vé bằng 75% giá vé máy bay, giả thiết là 75 USD, tàu 350 km/h với thời gian 5 h, có thể có 10 triệu khách vào năm 2035 chiếm 40% thị phần. Giá vé 90 USD dự kiến bằng 75% vé máy bay giá rẻ (100 USD). 15 triệu hành khách liên đoạn: Vì giá vé cao, khách liên đoạn thường chiếm 55-60% tổng số khách. Khách hai đầu cuối chiếm 35-40% số khách. Lấy thống kê tích cực 60% thì có 15 triệu khách liên đoạn. Khoảng cách trung bình liên đoạn vẫn giữ như phương án 250km/h là 350 km. Đơn giá trung bình cho khách liên đoạn là 0,067 USD/km, trong khoảng đánh giá quốc tế 0.06-0,07 USD/km cho tàu cao tốc 320-350km/h. Số lượng hành khách liên đoạn–km: 15 triệu x 350 km = 5,25 tỷ km/năm. Doanh thu hành khách liên đoạn năm 2035: 5,25 tỷ x 0,067 USD = 351,75 triệu USD. Doanh thu chở hàng hoá nhẹ. Số liệu thống kê của Trung Quốc cho thấy chỉ dùng chở hàng hoá nhẹ giá trị cao (e-commerce, linh kiện điện tử, y tế), chạy ban đêm, toa chuyên dụng. Tỷ trọng chiếm 3-8% doanh thu hành khách. Áp dụng cho tuyến 1541 km Hà Nội-TP.HCM, doanh thu chở hàng giá trị cao như sau: 1-2 đoàn tàu đêm chuyên chở hàng nhẹ; 8-12 toa; 40-60 tấn/chuyến; 300-330 đêm/năm. Đơn giá 0,3 USD/tấn/km (Trung Quốc: 0,2-0,4 USD/tấn/km). 2 chuyến/ngày; 50 tấn/chuyến; 320 ngày/năm: 2 x 50 x 320 = 32000 tấn/năm x 1541 km = 49 triệu tấn/km x 0,3 USD = 14,7 triệu USD/năm. Làm tròn 15 triệu USD. Tổng doanh thu cho tàu 350 km/h: – Đầu cuối: 10 triệu khách x 90 USD = 900 triệu USD. – Liên đoạn: 352 triệu USD. – Hàng hoá: 15 triệu USD. – Tổng: 1,117 tỷ USD/năm Doanh thu năm 2035 Hành khách 2 đầu cuối: 0,90 tỷ USD. Hành khách liên đoạn: 0,35175 tỷ USD. Tổng doanh thu hành khách: 1,252 tỷ USD. Doanh thu hàng hoá: 0,015 tỷ USD. Tổng doanh thu 2035: 1,252 + 0,015 = 1,267 tỷ USD Chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M): 3,5% x 61 tỷ USD = 2,135 tỷ USD/năm Trả nợ vay, 61 tỷ, 30 năm, lãi suất vay 3%. Tiền trả hàng năm (annuity) ≈ 3,11 tỷ USD/năm Tổng chi phí năm 2035: 2,135 + 3,11 = 5,245 tỷ USD Kết quả năm 2035: Doanh thu: 1,267; Chi phí: 5,245; Lỗ 3,978 tỷ USD Diễn biến theo tăng trưởng Hệ số co giãn quốc tế: Khách = 1,1 × GDP; Hàng = 0,9 × GDP. Giai đoạn 2035-2045: Khách tăng 7,7%/năm; Hàng tăng 6,3%/năm. Khi nào hòa vốn vận hành? Để không bù lỗ cần doanh thu = 5,245 tỷ. Hiện tại thu được 1,267 tỷ cần tăng ~4,1 lần.Với tăng trưởng ~7,7%/năm: Thời gian cần ≈ 20-22 năm. Khoảng năm 2056-2058 mới bắt đầu hết lỗ vận hành. Tổng bù lỗ giai đoạn 2035–2057. Tính tích lũy: Tổng lỗ khoảng 60-70 tỷ USD (tương đương toàn bộ vốn đầu tư ban đầu). Hoàn vốn? Vì lỗ tích lũy ban đầu rất lớn (~65 tỷ), nên hoàn vốn thực sự vào khoảng 2075-2080. Tức 40-45 năm sau khai thác. Bảng mốc 5 năm (xấp xỉ) PA 350 km/h chở khách + hàng nhẹ sẽ lỗ rất lớn trong 20 năm đầu. Phải bù lỗ khoảng 65 tỷ USD, phụ thuộc vào trợ cấp của ngân sách. Thời gian hoàn vốn rất lâu khoảng 43 năm kể từ khi đưa vào vận hành 2035. TIẾNG KÊU CON QUỐC QUỐC  Dự án ĐSCTBN 350 km/h, nếu cố làm bằng được, thì Nhà nước phải bù lỗ hơn hai chục năm với khoảng tiền khổng lồ trong khoảng 65 tỷ USD cho đến khi hết bù lỗ. Và để hoàn vốn đầu tư và khoản tiền bù lỗ cần đến thời gian vận hành nhiều năm. Tất nhiên, cứ kéo dài vận hành, với GDP tăng trưởng dương, thu nhập nâng cao, lượng hành khách tăng dần, tất đến ngày hết bù lỗ rồi hoàn vốn. Chỉ là khoảng thời gian 30; 50 hay 70 năm. Trong khi đó phương án tốc độ 250 km/h chở khách và 120-150 km/h chở hàng chỉ có tổng vốn đầu không quá 35 tỷ, và có lời ngay từ năm đầu tiên khai thác. Thời gian hoàn vốn không quá 20. Vào khoảng năm 2075 khi PA 350 km có thể hoàn vốn thì PA 250 km đã cho con số lời luỹ kế cả trăm tỷ USD. Sau năm 2080, với tăng trưởng của vận tải hành khách và hàng hoá, PA 250 km/h mang đến khoản lời khoảng 20-24 tỷ USD/năm, trong khi PA 350 km/h cho con số tương ứng là 7-8 tỷ USD/năm. Các tính toán trên chỉ về dòng tiền mà chưa tính đến chiết khấu % để phản ánh giá trị hiện tại ròng (NPV) của tiền. 1 tỷ USD năm 2075 rất khác với 1 tỷ USD năm 2035. Cũng chưa đưa ra tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR – Internal Rate of Return). Chỉ số IRR cho PA 250km/h ước khoảng 8-9% cao hơn NPV 5%. Trong khi PA 350 km/h có IRR khoảng 3-4% thấp hơn chỉ số chiết khấu 5%, không đạt được mức kỳ vọng. Khi đưa suất chiết khấu 5% vào mô hình, kết quả thay đổi đáng kể. Có thể đưa các dữ liệu khác. Có thể chỉ ra những điều chưa chính xác, cần bổ sung hay phải thay đổi. Nhưng xuyên suốt, với các dữ liệu mang tính khoa học, kết quả mô phỏng sẽ đưa đến lợi thế tuyệt đối của PA 250 km/h. Dưới đây là bảng so sánh lũy kế lãi/lỗ (danh nghĩa, chưa chiết khấu) của hai phương án tại các mốc cách nhau 5 năm cho đến năm 2080. Đơn vị: tỷ USD, lũy kế từ năm 2035. Chỉ có bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia mới không thể đo bằng tiền bạc, và phải hy sinh cả xương máu. Còn các dự án xây dựng kinh tế phải dựa trên hiệu quả. Gần là bài học sân bay Long Thành. Xa là bài học Điện Biên Phủ. Quyết định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp rút pháo ra, dừng phương án đánh nhanh thắng nhanh mà chuyển sang phương án đánh chắc, tiến chắc – không chỉ đưa đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mà quan trọng nữa là bớt hy sinh xương máu đồng bào. Hãy dũng cảm xem xét lại phương án tốc độ cho ĐSCTBN. Gánh nợ tài chính, không chỉ kìm hãm sức phát triển của đất nước, mà còn trao cho các hế hệ sau gánh nặng nhọc nhằn. TÀI LIỆU DẪN [1] https://www.vietnamplus.vn/tong-muc-dau-tu-so-bo-cua-duong-sat-toc-do-cao-ba%/nămc-nam-vao-khoang-6734-ty-
......

Nếu là người khác thì tình trạng “lơ ngơ” cũng chẳng khác Tô Lâm mấy

Việc một lãnh đạo Việt Nam trông lúng túng, khép kín, thậm chí “như gà mắc tóc” trong các cuộc gặp cấp cao quốc tế, với tôi, thực ra chẳng có gì lạ. Nó bình thường đến mức… không đáng để ngạc nhiên. Bởi đây không phải vấn đề cá nhân, mà là hệ quả của thể chế và lịch sử. Nhìn lại lịch sử Việt Nam, chỉ có thế hệ chính trị gia cộng sản đời đầu – giai đoạn mới lập quốc – là được học hành bài bản theo chuẩn phương Tây. Còn các thế hệ về sau, nhìn chung đa phần là ít học. Ngược lại, các lãnh đạo thuộc những thể chế không cộng sản ở Việt Nam trước đây (Đế quốc Việt Nam, Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa) phần lớn được đào tạo khá tốt, ngoại ngữ vững, và quen giao tiếp với phương Tây do mối quan hệ đồng minh. Chuẩn giáo dục Pháp thời đó vốn là giáo dục tinh hoa.Chẳng hạn như Võ Nguyên Giáp: tốt nghiệp cử nhân Luật Đại học Đông Dương, học trường Albert Sarraut, trình độ không thua kém trí thức Pháp cùng thời. Ông nói tiếng Pháp trôi chảy, có thể tranh luận trực tiếp. Các ông Phạm Văn Đồng, Trường Chinh cũng tương tự. Riêng Hồ Chí Minh dù bằng cấp không cao, nhưng bù lại bằng trải nghiệm thực tế và nhiều năm sống, hoạt động ở phương Tây. Vì vậy, thế hệ này khi gặp người Tây thì giao tiếp rất “thoáng”, nói chuyện rành mạch, tự tin. Họ cũng có nhiều không gian và cơ hội để đối thoại trực tiếp với phương Tây. Nhưng sang các thế hệ sau, đặc biệt từ thời Lê Duẩn trở đi, lãnh đạo xuất thân công – nông là chủ yếu, trình độ học vấn thấp hơn, cơ hội tiếp xúc với phương Tây rất ít. Họ chủ yếu giao thiệp với các nước “anh em” xã hội chủ nghĩa. Ngoại ngữ chuyển dần sang tiếng Nga, tiếng Trung, hoặc phải thông qua phiên dịch. Chiến tranh Lạnh càng căng thẳng thì khoảng cách với phương Tây càng lớn. Thêm vào đó là nguyên tắc tổ chức lãnh đạo tập thể và sự cảnh giác tuyệt đối trong phát ngôn với “đối phương”. Việc lãnh đạo cộng sản họp báo trực tiếp với báo chí phương Tây vì thế gần như là chuyện xa xỉ. Ngay cả những cuộc họp bắt buộc có mặt báo chí Tây hay đoàn nước ngoài cũng đều phải tập dượt kỹ lưỡng qua nhiều vòng họp trù bị, rồi mới đến phiên họp chính thức. Ngoài thế hệ lãnh đạo đời đầu, chỉ có một lần Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu họp báo trực tiếp với báo chí phương Tây. Còn lại, đa số các lãnh đạo đều tỏ ra dè dặt, thiếu tự tin khi giao tiếp với báo chí hay lãnh đạo phương Tây – ngoại trừ một số nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Có thời gian ông Phạm Bình Minh còn sử dụng Twitter, tương đối giống phong cách của lãnh đạo phương Tây. Nhưng các đời bộ trưởng ngoại giao sau đó thì hầu như không thấy, hoặc có cũng rất hiếm khi dám dùng mạng xã hội để phát ngôn. Các lãnh đạo khác lại càng không. Về ngoại ngữ, ngoài đội ngũ ngoại giao, có lẽ chỉ một số lãnh đạo xuất thân từ giáo dục, công nghệ thông tin, hoặc thế hệ 8x trở về sau mới khá tiếng Anh. Còn lại đa phần không thạo, mà càng ít giao tiếp thì càng kém. Vì vậy, không phải chỉ riêng Tô Lâm. Nếu là người khác đi phương Tây, tình trạng “lơ ngơ” cũng chẳng khác mấy. Có chăng, ai tỏ ra thân thiện, ôm vai bá cổ thì cũng chỉ là cố “diễn” cho hợp không khí. Chứ thực chất, không ai dám – và không ai có thể – nói điều gì quan trọng. Cùng lắm là vài câu xã giao kiểu: “How are you?”, “I’m fine, thank you”, “My name is Phó Rét Bâu”… rồi hết chuyện. Nói chuyện với Lào, Campuchia, Nga hay Trung Quốc thì còn vài câu qua phiên dịch. Chứ báo chí và chính khách phương Tây hỏi toàn câu gài, câu móc, trả lời hớ một cái là họ bới tới cùng, lan truyền khắp nơi. Tóm lại, đây là vấn đề mang tính thể chế. Thể chế buộc lãnh đạo phải cảnh giác, khép kín với phương Tây. Ngoại ngữ đã yếu, lại không có môi trường thực hành, nên “im lặng là vàng”. Mở miệng lỡ lời, họ có thể bị quay lại, trích dẫn mãi như câu: "Rõ ràng, sòng phẳng, mẹ nó, sợ gì", rất là phiền. Chỉ khi nào lãnh đạo Việt Nam có thể tự tin trả lời phỏng vấn trực tiếp, tranh luận công khai với báo chí và lãnh đạo phương Tây, thì hình ảnh lúng túng đó mới dần biến mất. Nếu không thay đổi, nó sẽ còn kéo dài mãi. Hiện tại, nói chuyện với Tây thì vẫn phải cầm giấy đọc, biết trước câu hỏi cho chắc. Ngay cả những người giỏi tiếng Anh hay tiếng Pháp, rốt cuộc cũng chỉ dám nói vài câu xã giao an toàn. Ngu gì nói nhiều và nội dung phức tạp cho nó rủi ro./.   Theo Dương Quốc Chính  
......

Nhiều tranh cãi quanh chuyến đi Mỹ của ông Tô Lâm

Nhân Tuấn Trương   (Góp ý với tác giả Giang Nguyen) (*)   Việc bài bác cá nhân ông (một cựu "trùm công an" từng tạo ra nhiều kẻ thù qua chiến dịch "đốt lò") hoàn toàn không đồng nghĩa với việc bài bác đất nước Việt Nam.   Chuyến đi Mỹ lần này của TL chưa chắc chỉ mang duy nhứt một mục đích tốt đẹp là “tìm lợi ích cho đất nước”. Dưới góc nhìn chính trị, ông Tô Lâm còn có một mục đích thiết thực hơn: Tạo uy tín quốc tế nhằm củng cố quyền lực tối thượng của một Tổng Bí thư ở trong nước, làm bàn đạp vững chắc để tiến tới mục tiêu “đít ngồi hai ghế” – kiêm nhiệm cả chức danh Chủ tịch nước.   Nhìn rộng ra bối cảnh quốc gia, không một người Việt Nam nào muốn đất nước mình mãi kém phát triển. Vấn đề cốt lõi này cần được đặt lại một cách thẳng thắn cho đảng CSVN: Liệu đảng có thực sự muốn thực thi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” như đã từng hùng hồn tuyên bố từ Đại hội Đảng lần thứ X cách đây đã 20 năm hay không?   Thực tế chứng minh, không một cá nhân người dân Việt Nam nào có khả năng làm cho “đất nước khốn đốn”, ngoại trừ chính các đảng viên mang quyền lực. Đại hội X đề ra những mục tiêu vô cùng đẹp đẽ, nhưng cũng chính tại đại hội đó lại mở đường cho phép “đảng viên làm kinh tế, làm giàu không giới hạn”. Rốt cuộc, mục tiêu “đảng viên làm giàu vô giới hạn” đã đạt từ lâu, trong khi viễn cảnh “dân giàu, nước mạnh” vẫn chỉ là một ảo ảnh xa vời. Đất nước hiện đang khốn đốn chính vì tình trạng cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền lực, chức vụ để vơ vét, làm giàu, một quá trình chỉ có thể "thành công" khi họ “ăn của dân không từ một thứ gì”. Trong bối cảnh đó, việc xuất hiện hiện tượng ngay cả “trí thức dòng chính” cũng lên tiếng đả kích ông Tô Lâm là điều dễ hiểu. Câu hỏi đặt ra là ông đã làm gì để đến mức những người trong hệ thống cũng phải chống đối? Suốt một thời gian dài, ông đóng vai trò là “thanh gươm” đắc lực của cố TBT Nguyễn Phú Trọng. Thanh gươm này đã vung lên, nhuốm máu sinh mạng chính trị của rất nhiều cán bộ, đảng viên, quan chức chế độ thông qua công cuộc “đốt lò”. Hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người đã bị tịch thu gia sản và rơi vào vòng lao lý. Kẻ thù của ông Tô Lâm trong chính nội bộ hiện nay có thể nói là “nhiều như muỗi Cà Mau”.   Khi bàn luận về những vấn đề của đất nước, có mặt tốt mặt xấu, nguyên tắc tối thượng là không ai có quyền buộc ai phải “câm mồm”, ngay cả khi sự thảo luận ấy diễn ra trong một thể chế độc tài, công an trị. Nhìn lại 40 năm gọi là “đổi mới”, khách quan mà nói, đó cũng là 40 năm phung phí vô vàn tài lực và thời gian của dân tộc. Sự phí phạm lớn nhứt của thể chế là không chịu tiếp nhận ý kiến của người ngoài đảng, thậm chí sẵn sàng bỏ tù những chuyên gia, trí thức dám nói lên sự thật trái với ý đảng.   Nhiều ý kiến binh vực thường đưa ra luận điệu kiểu thách thức: "Giỏi thì qua Mỹ vận động Nhà Trắng giảm thuế cho hàng Việt Nam xem có làm nổi không?". Tư duy này hoàn toàn sai lệch. Nguyên tắc quản trị quốc gia là: Ai làm không được thì hãy tránh ra, để nhường chỗ cho người khác có năng lực, có tầm nhìn vươn lên gánh vác. Thêm vào đó, việc viện cớ ông Tô Lâm đã 70 tuổi mà vẫn phải lặn lội “lo cho nước, cho dân” để đòi hỏi sự cảm thông là một lập luận không ổn thỏa. Đất nước gần trăm triệu dân đâu thiếu những người trẻ tuổi, tài giỏi, có năng lực hội nhập hơn ông Tô Lâm nhiều lần? Chỉ có một hệ thống bế tắc mới ép một người đã đến tuổi lụm cụm lên nắm quyền lãnh đạo tối cao.   Chuyện ông Tô Lâm kém tiếng Anh hay kỹ năng ngoại giao không phải là điều quan trọng để bàn tới. Nhưng chuyện Việt Nam đang “tụt hậu vài chục năm” so với khu vực, hay nguy cơ hiện hữu “chưa thoát nghèo đã già” là những sự thật cay đắng đang hiển hiện. Vậy, ai sẽ là người phải đứng ra chịu trách nhiệm lịch sử cho những thực trạng này, nếu không phải là Đảng CSVN?   Sử sách rồi đây sẽ rất công bằng khi ghi lại những gì ông Tô Lâm thực sự gặt hái được qua chuyến đi Mỹ kỳ này, cũng như di sản ông để lại. Ông có thực sự “vì dân, vì nước” hay không, thời gian một, hai năm nữa sẽ đưa ra những bằng chứng rõ ràng nhứt./. Nhân Tuấn Trương   ----------------------------- (*) Tác giả Nguyễn Giang vừa có một bài viết bày tỏ sự bất bình trước các ý kiến chê bai chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư Tô Lâm. Tác giả cho rằng những lời công kích này không phải là phản biện mang tính xây dựng mà chỉ thể hiện sự bực tức, phủ nhận nỗ lực của ông Tô Lâm trong việc tìm kiếm lợi ích kinh tế cho đất nước, đặc biệt là tháo gỡ rủi ro từ chính sách thuế của Mỹ. Tác giả nhấn mạnh cần đánh giá khách quan và nhân văn đối với chuyến đi, nhìn vào sự vất vả, áp lực và thiện chí “vì nước vì dân” của một lãnh đạo cao tuổi như ông Tô Lâm phải di chuyển đường dài, làm việc liên tục. Việc chê bai khả năng tiếng Anh hay hình thức bề ngoài bị coi là hời hợt, bởi năng lực lãnh đạo không phụ thuộc vào việc nói tiếng Anh lưu loát. Cuối cùng, bài viết cảnh báo rằng nếu không giảm được thuế quan, hàng chục triệu lao động và doanh nghiệp Việt Nam có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, kéo theo nguy cơ tụt hậu kinh tế. Vì vậy, việc công kích nỗ lực đối ngoại của ông Tô Lâm là khó chấp nhận và thiếu trách nhiệm với vận mệnh chung của đất nước. FB Giang Nguyenhttps://www.facebook.com/giang.b.nguyen.73  
......

Tiếng Anh và lãnh đạo

Nguyễn Huy Vũ Các trường đại học hàng đầu thế giới luôn yêu cầu nghiên cứu sinh (PhD candidates) phải thông thạo tiếng Anh vì hiện nay, phần lớn kho tàng kiến thức nhân loại được lưu trữ và phổ biến chủ yếu bằng tiếng Anh. Theo các ước tính gần đây, khoảng 95–98% các bài báo khoa học được xuất bản trên thế giới là bằng tiếng Anh. Chỉ một thiểu số rất nhỏ các phát minh, nghiên cứu bản địa hoặc kiến thức địa phương được lưu giữ độc quyền bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Hầu hết các tác phẩm quan trọng từ các ngôn ngữ khác (như tiếng Đức, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản...) đều đã hoặc đang được dịch sang tiếng Anh để tiếp cận rộng rãi hơn. Các tạp chí khoa học uy tín nhất thế giới — nơi công bố những phát kiến mới nhất — hầu như đều xuất bản bằng tiếng Anh (Nature, Science, Cell, The Lancet, v.v.). Do đó, nghiên cứu sinh — những người trẻ được kỳ vọng sẽ mở rộng biên giới tri thức — cần nắm vững tiếng Anh để có thể: * tra cứu và tiếp cận kiến thức mới nhất trong lĩnh vực một cách nhanh chóng và đầy đủ; * tương tác và hợp tác với đồng nghiệp quốc tế từ khắp nơi trên thế giới; * và công bố và bảo vệ nghiên cứu của mình: trình bày tại hội nghị, viết bài báo, nhận phản biện và đánh giá từ cộng đồng khoa học toàn cầu. Tại sao lại là tiếng Anh, chứ không phải ngôn ngữ khác? Về mặt thực tế, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung (lingua franca) trong giới học thuật, nghiên cứu và khoa học vì đa số các nhà khoa học sử dụng nó để trao đổi, học hỏi và xuất bản. Ngôn ngữ trước hết là phương tiện truyền tải ý thức; khi một ngôn ngữ được dùng phổ biến nhất, mọi người sẽ tự nhiên theo để tham gia hiệu quả. Nhưng tại sao không phải tiếng Trung, tiếng Đức, tiếng Pháp hay một ngôn ngữ châu Âu khác? Lý do cốt lõi nằm ở lợi ích thực tiễn và lịch sử. Trước Đệ nhị Thế chiến, tiếng Anh chỉ là một trong ba ngôn ngữ khoa học chính (cùng với tiếng Đức và tiếng Pháp). Ở các nước nhỏ châu Âu (như Bắc Âu), sinh viên được khuyến khích học tiếng Đức trước tiên (vì Đức là cường quốc khoa học, công nghệ, kinh tế), rồi tiếng Pháp, và tiếng Anh xếp sau. Nhiều người sang Đức du học và trao đổi. Sau Đệ nhị Thế chiến, tình hình thay đổi chóng mặt. Đức và Pháp suy yếu nghiêm trọng (Đức bị chia cắt, mất uy tín do phát xít; Pháp mất ảnh hưởng thuộc địa). Mỹ và Anh (các nước nói tiếng Anh) thắng trận, trở thành siêu cường kinh tế, quân sự và khoa học. Mỹ dẫn đầu tái thiết châu Âu (Kế hoạch Marshall), phát triển công nghệ (Manhattan Project, máy tính, không gian...), và ảnh hưởng văn hóa (Hollywood, nhạc pop). Các tổ chức quốc tế (Liên Hợp Quốc, NATO, IMF, World Bank...) dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính. Kết quả là tiếng Anh nhanh chóng thay thế, trở thành ngoại ngữ bắt buộc ở nhiều nước (ví dụ: Bắc Âu từ những năm 1950). Ngày nay, người dân Bắc Âu dùng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. Lý do thứ hai: Thương mại và toàn cầu hóa kinh tế Sau Đệ nhị Thế chiến và kết thúc Chiến tranh Lạnh, thương mại tự do bùng nổ. Hầu hết các nước thịnh vượng đều làm ăn lớn với Mỹ — nền kinh tế lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Để tham gia chuỗi cung ứng, tài chính, vận chuyển, thanh toán quốc tế (hệ thống SWIFT, USD làm đồng tiền dự trữ...), mọi người phải dùng hệ thống Mỹ — và do đó là tiếng Anh (luật lệ, hợp đồng, tiêu chuẩn kỹ thuật...). Ngay cả khi các nước không làm ăn trực tiếp với Mỹ, họ vẫn dùng tiếng Anh để giao dịch với nhau vì hệ thống này ổn định, đáng tin cậy, chi phí thấp và hiệu quả cao. Biết tiếng Anh trở thành lợi thế cạnh tranh kinh tế. Ý nghĩa đối với lãnh đạo và chính khách Một nhà lãnh đạo hiện đại không chỉ cần giao tiếp với đồng nghiệp quốc tế mà còn phải trực tiếp nắm bắt diễn biến chính trị, khoa học, và công nghệ mới nhất mà không qua trung gian dịch thuật, vì điều này có thể làm chậm trễ hoặc sai lệch). Vì vậy, thông thạo tiếng Anh ngày nay là một ưu tiên chiến lược đối với bất kỳ chính khách, doanh nhân hay nhà khoa học nào muốn ảnh hưởng hoặc theo kịp thế giới. Tóm lại, tiếng Anh không phải là “ngôn ngữ tốt nhất" về mặt ngôn ngữ học, mà nó thống trị nhờ quyền lực kinh tế, khoa học, văn hóa và lịch sử sau Đệ nhị Thế chiến. Nó là công cụ thiết yếu để tham gia vào "cuộc chơi" toàn cầu — và ai muốn dẫn dắt hoặc theo kịp đều phải nắm vững nó. Nguyễn Huy Vũ  
......

Khó khăn của Tô Lâm với vụ kiện 1:25-cv-03226-CJN và tác động theo Đạo Luật JASTA

Nguyen Ngoc Bao Dựa trên tình hình vụ kiện *John Doe v. Socialist Republic of Vietnam et al.* (số hồ sơ 1:25-cv-03226-CJN) tại Tòa án Liên bang Quận Columbia, và cập nhật đến ngày 19/2/2026, ông Tô Lâm – bị cáo chính trong vụ kiện, hiện là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) – đang đối mặt với các rủi ro pháp lý đáng kể. Ông đã nhận summons (lệnh triệu tập) từ tòa án nhưng không phản hồi, dẫn đến entry of default (phán quyết vắng mặt) chống lại ông ngày 11/2/2026. Ông đang công du Hoa Kỳ từ 18-20/2/2026 để tham dự cuộc họp khai mạc Board of Peace về Gaza tại Washington D.C., mời bởi Tổng thống Donald Trump. Dưới đây là phân tích chi tiết về khó khăn ông Tô Lâm có thể gặp phải trong vụ kiện, quyền miễn trừ (immunity), và tác động theo Justice Against Sponsors of Terrorism Act (JASTA – Đạo luật Công lý Chống Tài trợ Khủng bố, 2016), kết hợp với Foreign Sovereign Immunities Act (FSIA – Đạo luật Miễn trừ Chủ quyền Nước ngoài, 1976). Phân tích sẽ dựa trên luật Hoa Kỳ, thực tiễn tòa án, và tình hình ngoại giao. 1. Khó Khăn Của Ông Tô Lâm Với Vụ Kiện Trong Chuyến Công Du Hoa Kỳ đang diễn ra Ông Tô Lâm đang ở Hoa Kỳ vào ngày 19/2/2026, và vụ kiện đang diễn ra với entry of default chống lại ông (11/2/2026) và Việt Nam (4/2/2026). Các khó khăn bao gồm: – Rủi Ro Bị Bắt Giữ Hoặc Triệu Tập: Theo 28 U.S.C. § 566 (quyền hạn của U.S. Marshals Service – Dịch vụ Cảnh sát Liên bang Hoa Kỳ), tòa án có thể ra lệnh cho Marshals bắt giữ bị cáo để xuất hiện tại tòa nếu có entry of default. Một số nguồn (như bài đăng trên Facebook từ nguyên đơn) gợi ý tòa có thể ra lệnh bắt ông Tô Lâm để buộc xuất hiện. Tuy nhiên, thực tế khó xảy ra vì: – Quyền Miễn Trừ Ngoại Giao (Diplomatic Immunity): Là lãnh đạo quốc gia đang công du chính thức (mời bởi Tổng thống Trump), ông có thể được hưởng miễn trừ tuyệt đối theo Công ước Vienna về Quan hệ Ngoại giao 1961 (Article 29-31), mà Hoa Kỳ là thành viên. Miễn trừ này bảo vệ khỏi bắt giữ, triệu tập, và truy tố trong thời gian công du. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (Department of State) thường cấp “diplomatic visa” hoặc công nhận miễn trừ cho lãnh đạo nước ngoài. – Thực Tế Ngoại Giao: Hoa Kỳ khó bắt lãnh đạo một quốc gia đối tác (Việt Nam là đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ từ 2023) vì rủi ro ngoại giao. Các trường hợp tương tự như vụ bắt cựu lãnh đạo Panama Manuel Noriega (1989) là ngoại lệ, thường liên quan chiến tranh hoặc cáo buộc hình sự nghiêm trọng hơn. Vụ kiện này là dân sự, không phải hình sự. – Hậu Quả Ngoại Giao Và Cá Nhân: – Ảnh Hưởng Chuyến Thăm: Có thể gây căng thẳng ngoại giao, với truyền thông Hoa Kỳ đưa tin (như Reuters, …). Nguyên đơn có thể yêu cầu tòa can thiệp, dẫn đến trì hoãn hoặc hủy lịch trình. Ông có thể bị chất vấn hoặc biểu tình từ cộng đồng người Việt hải ngoại. – Hạn Chế Di Chuyển: Nếu tòa ra lệnh bắt, ông có thể bị hạn chế rời Hoa Kỳ hoặc bị theo dõi bởi Marshals, dù miễn trừ ngoại giao có thể bảo vệ. – Không Hưởng Quyền Miễn Trừ Theo JASTA: JASTA sửa đổi FSIA để loại bỏ miễn trừ chủ quyền cho các quốc gia hoặc quan chức liên quan đến “hành vi khủng bố” trên đất Hoa Kỳ hoặc hỗ trợ khủng bố (18 U.S.C. § 2333). Vụ kiện viện dẫn JASTA vì cáo buộc ông Tô Lâm (lúc là Bộ trưởng Công an năm 2022) liên quan đến bắt cóc, tra tấn (được coi là “hành vi khủng bố” dưới TVPA và ATA), và hỗ trợ proxy Iran. Theo JASTA, miễn trừ bị bác bỏ nếu hành vi gây thương vong cho công dân Hoa Kỳ và liên quan khủng bố, ngay cả với quan chức (không cần quốc gia bị chỉ định là nhà tài trợ khủng bố). Tòa án có thể bác miễn trừ theo FSIA §1605B (ngoại lệ khủng bố). Tuy nhiên, miễn trừ ngoại giao có thể ưu tiên hơn trong chuyến thăm. 2. Tác Động Của Vụ Kiện Sau Khi Ông Tô Lâm Hết Chức Tổng Bí Thư Sau khi hết chức (hết nhiệm kỳ hoặc từ chức), miễn trừ sẽ giảm, và vụ kiện có thể ảnh hưởng cá nhân ông mạnh mẽ hơn: – Miễn Trừ Giảm: – Miễn Trừ Chức Vụ (Functional Immunity): Theo common law Hoa Kỳ (từ phán quyết Samantar v. Yousuf, 2010), quan chức hết chức vẫn có miễn trừ cho hành vi chính thức (official acts), nhưng JASTA có thể bác bỏ nếu cáo buộc là khủng bố. Tòa án có thể coi hành vi năm 2022 là “official acts” (lúc là Bộ trưởng Công an), nhưng JASTA cho phép kiện quan chức cá nhân nếu liên quan hỗ trợ khủng bố (18 U.S.C. §2337, nhưng ngoại lệ cho hành vi khủng bố). FSIA §1605A cho phép kiện “official, employee, or agent” của quốc gia tài trợ khủng bố, nhưng Việt Nam hiện không bị chỉ định là nhà tài trợ khủng bố (chỉ có Iran, Syria, Sudan, Cuba). JASTA mở rộng ngoại lệ cho các quốc gia không chỉ định, nếu hành vi gây hại trên đất Hoa Kỳ hoặc hỗ trợ khủng bố. Nếu tòa chứng minh cáo buộc, miễn trừ có thể bị bác. – Tác Động Cá Nhân: – Bồi Thường Và Tài Sản: Nếu default judgment chuyển thành phán quyết cuối cùng (FRCP 55(b)), ông có thể bị buộc bồi thường (1 tỷ USD), và tài sản cá nhân tại Hoa Kỳ hoặc quốc tế có thể bị phong tỏa. – Hạn Chế Nhập Cảnh Và Du Lịch: Có thể bị cấm nhập cảnh Hoa Kỳ (dưới INA §212(a)(3)(B) cho liên quan khủng bố), hoặc bị bắt nếu đến các quốc gia có thỏa thuận dẫn độ với Hoa Kỳ. – Truy Tố Hình Sự: Vụ kiện dân sự có thể dẫn đến điều tra hình sự (FBI, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ), đặc biệt nếu cáo buộc khủng bố (dưới 18 U.S.C. §2339A – hỗ trợ vật chất cho khủng bố). – Danh Tiếng Và Chính Trị: Ảnh hưởng danh tiếng cá nhân, có thể bị dùng làm lý do trừng phạt Việt Nam (như Global Magnitsky Act, trừng phạt cá nhân vi phạm nhân quyền). 3. Kết luận Theo JASTA, vụ kiện có cơ sở pháp lý mạnh để bác bỏ miễn trừ, vì cáo buộc liên quan “hành vi khủng bố” (bắt cóc, tra tấn công dân Hoa Kỳ) và “tiếp tay tổ chức khủng bố” (hỗ trợ proxy Iran). Tuy nhiên, miễn trừ ngoại giao và lợi ích ngoại giao Hoa Kỳ-Việt (đặc biệt dưới TT Trump, người mời ông Tô Lâm) có thể bảo vệ ông trong chuyến thăm hiện tại. Sau khi hết chức, rủi ro cá nhân tăng cao, vì JASTA ưu tiên công lý cho nạn nhân khủng bố hơn miễn trừ truyền thống. Việt Nam nên xem xét phản hồi tòa để tránh phán quyết cuối cùng, nhưng im lặng hiện tại làm tăng rủi ro./.
......

Tản mạn tân niên Bính Ngọ 2026

Lê Bá Vận Năm Bính Ngọ đến, người già khụ khấp khởi chào đón, được thêm một tuối thêm hi vọng đạt đại thọ, trẻ con vui mừng mặc áo mới, ăn nhiều mứt bánh, đánh bài vụ, lắc bầu cua cá. Số còn lại tuy vui vẻ đón Têt song trong lòng canh cánh nỗi già thêm một tuổi, khó giữ nét thanh xuân.   Năm Bính Ngọ là năm con ngựa, 12 năm sau ‘ngọ’ đến lại, giữ tên song đổi ho, là Mậu Ngọ 2038. Sáu mươi năm trước (một giáp), năm 1966 cũng là Bính Ngọ, tiếp đến Tết Mậu Thân Huế,1968 tang tóc mà rồi đây, hai năm nữa sẽ là Mậu Thân 2028 lễ kỷ niệm.   Người Việt giỏi chữ nho biết ‘ngọ’ là ‘trưa’. Đúng ngọ là 12 giờ trưa. Ngọ phạn, ngọ thụy, ngọ dạ là ăn trưa, ngủ trưa, nửa đêm. Song dù kém đên đâu cũng biết ‘mã’ là ngựa, giỏi thì có đọc quyển “Tam thiên tự”, sách dạy 3.000 chữ Hán: “Thiên là trời, địa đất… gia nhà, quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa …”   Cũng biết được ‘ngưu’ là trâu chứ không phải ‘sửu’ là trâu.   Tết Bính Ngọ năm nay trên văn đàn chuyện về con ngựa thư văn rất phong phú, các năm ‘ngọ’ trước cũng vậy, mọi khía cạnh đã được khai thác đến nỗi hầu như giờ đây không còn gì để viết thêm, vơ vét được chừng nào hay chừng ấy. ---------   I) Ngựa nhà trời. Trước tiên xin nói đến con bọ ngựa, ngựa nhà trời, đứng đầu loài ngựa, trên con ngựa Pegasus  có cánh trong thần thoại Hi Lạp. Trong tập truyện ‘Dế Mèn Phiêu Lưu Ký’ nhà văn Tô Hoài đã khắc họa nhân vật Bọ Ngựa (được gọi là Võ sĩ Bọ Ngựa) là một kẻ hợm mình, kiêu ngạo, hống hách nhưng lại u mê, dễ bị phỉnh nịnh. Võ sĩ Bọ Ngựa luôn nghĩ mình tài giỏi, thích khoe khoang võ nghệ với đôi càng sắc bén như kiếm và khả năng quan sát nhạy bén, nhưng cuối cùng nhận ra sai lầm. Võ sĩ Bọ Ngựa là đối thủ chính của Dế Mèn trong một trận tranh hùng nảy lửa. Trận đấu giữa Dế Mèn và Bọ Ngựa không chỉ là một màn phô diễn sức mạnh mà còn mang ý nghĩa giáo dục về sự khiêm tốn và lòng hướng thiện trong hành trình trưởng thành của các nhân vật.    Bọ ngựa thật ra được xem là loài côn trùng có lợi nhiều hơn có hại vì chúng tiêu diệt nhiều côn trùng có hại, đặc biệt chúng ăn rất nhiều các loài rệp hại cây (Aphididae).[1]. Con cái lớn hơn, dái 48 – 76 mm; đực 40 – 61 mm. Chúng linh tính, vào nhà là điềm tốt. Ở nước ta bọ ngựa có nhiều từ Quảng Bình trở ra. Tôi thấy chúng đậu trên là cây, dài bằng ngón tay nhưng mảnh.   II) Khuyển mã. Sự trung thành, tận tâm: Ví như chó và ngựa, phục vụ chủ không điều kiện. Ngựa văn chương hơn, xuất hiện mọi nơi: thi văn, nhạc, nhân danh, địa danh… thành ngữ, tục ngữ. - “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” – Kiều. - “Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết” (Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in) . Chinh phụ ngâm. - Nhạc điệu ”Tẩu mã” nhạc cổ. - Địa danh: Núi Bạch Mã, Huế. Sông Mã, Thanh Hóa. -  Nhân danh: Mã Viện, họ Tư Mã, Mã Gíám Slnh, Mã Long, Mã Phụng, Mã Ô (Thơ Mụ Đội). Thành ngữ, tục ngữ…  Chỉ sơ lược môt số thường gặp,. Không giải thích dông dài. - Ngựa non háu đá: Thẳng như ruột ngựa: Ngựa quen đường cũ: Đầu trâu mặt ngựa:  Lên xe xuống ngựa:  Cưỡi ngựa xem hoa. Thay ngựa giữa dòng:  Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ: Ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy  - Đĩ ngựa là từ chửi Nam Kỳ ví những người đờn bà dữ tợn, mượn từ Huế“ngựa Thượng Tứ”. Người đờn bà dữ dằn lúc nào cũng lồng lên .động đực.  - ‘Đừng bao giờ nhìn vào mõm ngựa được tặng"  (thành ngữ tiếng Anh) khuyên không nên soi mói, chê bai hay đánh giá khắt khe giá trị của những món quà được tặng miễn phí. - Mặt dài như ngựa: Miêu tả vẻ mặt buồn bã, thất vọng hoặc khi bị bắt quả tang điều gì đó. Fernandel (1903–1971) là danh hài, diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Pháp, được mệnh danh là "mặt ngựa" (gueule de cheval) do khuôn mặt dài đặc trưng, đặc biệt là phần hàm. - Tâm viên ý mã (心猿意馬) là cụm từ ẩn dụ trong triết lý Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, ví tâm trí con người bất định, lăng xăng như con khỉ nhảy nhót (tâm viên) và suy nghĩ hoang dã, nhanh chóng như con ngựa chạy rông (ý mã). Cụm từ này mô tả trạng thái tư tưởng khó kiểm soát, dễ xao nhãng trước ngoại cảnh và đề cao sự tu luyện tĩnh tâm.    III) Chiến mã. Gắn bó với chủ, làm nên sự nghiệp. Sơ lược, bỏ qua các trường hợp ít được nói đến hoặc xa lạ trên thế giơi Vd. Bucephalus, con ngựa huyền thoại của Alexander Đại đế. Marengo: Chú ngựa Ả Rập nhỏ bé của Napoleon Bonaparte.   - Chiến mã Mông Cổ lập công đầu.. Là giống ngựa nhỏ, sức bền bỉ phi thường, đóng vai trò then chốt trong các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn ở thế kỷ XIII. Cao khoảng 1,4m, nặng 350kg, chúng nổi tiếng với khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt, di chuyển nhanh, giúp kỵ binh Mông Cổ áp dụng chiến thuật cung kỵ cơ động, tạo nên đế quốc rộng lớn.  - Trong lịch sử và văn học, đặc biệt thời Tam Quốc, nhiều chiến mã nổi tiếng đã cứu chủ nhân thoát hiểm nhờ sự thông minh, trung thành và sức bền phi thường. Ngựa Đích Lư (Lưu Bị): Trong trận Đàn Khê, Đích Lư nhảy vọt qua suối rộng, cứu Lưu Bị thoát chết. Ngựa Tuyệt Ảnh (Tào Tháo): Trong trận Uyển Thành, mang Tào Tháo thoát khỏi sự truy sát của địch. Ngựa Xích Thố (Lã Bố, Quan Vũ): Nổi tiếng, giúp chủ nhân thoát khỏi vòng vây hiểm nguy nhiều lần. Ngựa Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử (Triệu Vân): Dũng mãnh đã cùng Triệu Tử Long vượt qua vòng vây quân Tào trong trận Đương Dương - Trường Bản. Ngựa Ô Vân Đạp Tuyết (Trương Phi): Từng giúp Trương Phi dũng mãnh trong nhiều trận chiến.  Những chiến mã này thường được miêu tả có "linh tính", biết chủ gặp nguy.. - Chiến mã nổi tiếng nhất gắn liền với Quách Tĩnh trong tiểu thuyết Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung là Hãn Huyết Bảo Mã (hay còn gọi là Hồng Mã) có khả năng chạy nhanh như gió, vượt qua sông sâu lửa cháy, đóng vai trò quan trọng giúp Quách Tĩnh chống quân Kim, thoát hiểm nhiều lần.    IV) Đôi dép lốp chiến mã của Bác Hồ. Đôi dép này cũng được gọi là "dép Cụ Hồ" (Ho Chi Minh sandals), được so sánh với những chiến mã nổi danh và đã đi vào thơ ca, nghệ thuật như một huyền thoại về bước chân của Người.  Đôi dép được làm ra vào khoảng năm 1947,[1] chế tạo từ một chiếc lốp ô tô quân sự của quân đội Pháp và được gửi tặng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh như một vật lưu niệm về chiến thắng. Ông đã sử dụng hơn 20 năm, kể từ năm 1947, và cũng từng theo chân ông đi đến các quốc gia khác như Ấn Độ, và hiện nay được đặt trong Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh như một di vật của ông[4][5] . Trong một lần đi công tác, Bác nói vui với các cán bộ đi cùng:“Đây là đôi hài vạn dặm trong truyện cổ tích ngày xưa. Đôi hài thần đất, đi đến đâu mà chẳng được”. Gặp suối hoặc trời mưa trơn, bùn nước vào dép khó đi, Bác cẩn thận tụt dép xách tay. Mười một năm rồi vẫn đôi dép ấy. Các chiến sĩ cảnh vệ đã đôi ba lần “xin’’ Bác đổi dép,  Bác bảo “vẫn còn đi được’’.   Cho đến lần đi thăm Ấn Độ, khi Bác lên máy bay, ngồi trong buồng riêng thì mọi người trong tổ cảnh vệ lập mẹo giấu dép đi, để sẵn một đôi giầy mới. Máy bay hạ cánh xuống Niu-đê-li, Bác tìm dép. Mọi người thưa:“Có lẽ đã cất xuống khoang hàng của máy bay rồi… Thưa Bác….” Bác đáp: “Bác biết các chú cất dép của Bác đi chứ gì. Nước ta còn chưa được độc lập hoàn toàn, nhân dân ta còn khó khăn, Bác đi dép cao su nhưng bên trong lại có đôi tất mới thế là đủ lắm mà vẫn lịch sự”. Bác ôn tồn nói tiếp. Vậy là các anh chiến sĩ phải trả lại dép để Bác đi vì dưới đất chủ nhà đang nóng lòng chờ đợi.. Trong suốt thời gian Bác ở Ấn Độ, nhiều chính khách, nhà báo, nhà quay phim… rất quan tâm đến đôi dép của Bác. Họ cúi xuống sờ nắn quai dép, thi nhau bấm máy từ nhiều góc độ, ghi ghi chép chép… làm tổ cảnh vệ lại phải một phen xem chừng và bảo vệ “đôi hài thần kỳ” ấy.   Bàn: Bác đi Ấn Độ năm 1958, đôi dép đã được dùng 11 năm, đã được đóng nhiều đinh để giữ quai bị tuột và đế dép đã mòn vẹt làm từ vỏ bánh xe, trông kệch cợm thì có miếng vá. Các quan khách, nhà báo đến bấm máy, quay phim vì thấy chuyện lạ đời, vật kỳ quặc, làm phóng sự, đưa tin chứ không phải để giới thiệu, phổ biến. Một đôi dép lốp mà phải lập một tổ chiến sĩ cảnh vệ để canh phòng ư?     Những năm 1947- 1948 Bác Hồ phải rút lui về Việt Bắc, Quân Pháp truy lùng gắt gao, đôi dép lốp bám sát gót Bác thoát hiểm, sau đó đeo chân Bác suốt đời, giúp Bác làm nên sự nghiệp, rạng danh năm châu. Khác gì những chiến mã xưa xông pha theo phò chúa, lưu danh?   Lê Bá Vận.  
......

TBT Tô Lâm dưới lăng kính của truyền thông phương Tây: Cảnh tỉnh đối với con đường phát triển của Việt Nam

Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng Trong mấy ngày gần đây, các bài phóng sự về Tổng Bí thư ĐCSVN Tô Lâm xuất hiện trên truyền thông Pháp và Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là những câu chuyện về một cá nhân lãnh đạo hàng đầu của Đảng. Nó trở thành biểu tượng cho cách phương Tây đang nhìn nhận quỹ đạo chính trị của Việt Nam. Một đất nước tự tin, cải cách và cởi mở hơn sẽ không cần lo ngại trước bất kỳ ẩn dụ nào – bởi khi thực tế thay đổi, cách nhìn cũng sẽ thay đổi theo. Đừng quên một tư tưởng từ Nho gia, nhưng đã trở thanh minh triết của dân gian: “Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng!” Khi Tạp chí Courrier international (Pháp) sử dụng đến ẩn dụ “Frankenstein lai tạp giữa Tập Cận Bình và Vladimir Putin” (1), hay khi The New York Times (Mỹ) nhấn mạnh đến xu hướng tập trung quyền lực cao độ (2) để nói về Tổng Bí thư Tô Lâm, điều này không chỉ phản ánh phong thái tự do và chuộng giật gân của nền báo chí phương Tây. Nó phản ánh mối hoài nghi sâu sắc và cố hữu về con đường và thể chế mà Việt Nam đang lựa chọn để tiến bước. Độc giả nào muốn đọc hai bài báo trên qua bản dịch, phần nào có thể tham khảo ngay tại chú thích dưới bài viết này, mục (3) & (4). Dịch không hẳn là phản (hay xuyên tạc) theo như quan niệm của văn hóa Pháp, “traduire, c’est trahir!” (Dịch thuật đôi khi phản lại nguyên tác!) Nhưng rõ ràng nếu đọc được hai bản gốc thì mới có thể cảm thấu hết những “nuance” (độ tinh vi về sắc thái) hay nói như các cụ ở ta – Ý tại ngôn ngoại (lire entre les lignes). Điều đáng suy nghĩ là Cộng hòa Pháp và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đều là những “đối tác chiến lược toàn diện” (CSP) của Việt Nam. Trong logic ngoại giao, là cấp độ hợp tác cao nhất. Nhưng báo chí ở các nước này lại không ngần ngại đưa ra những nhận định gay gắt. Sự “thiếu thiện cảm” ấy không xuất phát từ ác ý, mà từ một hệ giá trị khác biệt. Trong môi trường truyền thông tự do, quyền lực càng tập trung thì càng bị soi xét. Khi họ quan sát thấy sự gia tăng vai trò cá nhân và sự “soán ngôi hiếm thấy” của bộ máy an ninh trong quản trị quốc gia, họ diễn giải điều đó theo khuôn mẫu quen thuộc: xu hướng “độc tài toàn trị” và thu hẹp không gian chính trị. Nếu tham khảo thêm trên cả báo chí Anh quốc, thì bài viết gần đây của Reteurs cũng cho thấy một bức tranh chính trị tập trung quyền lực lớn hơn, với Tô Lâm là một nhà lãnh đạo mới được củng cố vị thế, đặt ra cả cơ hội nhưng cũng nhiều rủi ro khi dự đoán về chính sách và ảnh hưởng tới hình ảnh của Việt Nam đối với quốc tế và các nhà đầu tư nước ngoài (5). Những cấu trúc tương đồng Khi các tác giả nói trên so sánh Hà Nội với Bắc Kinh hay Moskva, không chỉ vì Việt Nam là quốc gia có nhiều “duyên nợ” với hai nước ấy, mà vì phương Tây nhìn thấy những đặc điểm cấu trúc tương đồng: đàn áp trong nước khắc nghiệt dưới mũ “ưu tiên ổn định chính trị” và vai trò nổi trội của các cơ quan an ninh. Tuy nhiên, điều nghịch lý là với Bắc Kinh hay Moskva, phương Tây thường viết về các đối tượng ấy trong tư thế đối đầu chiến lược dài hạn; còn đối với Hà Nội, họ viết trong tâm thế vẫn còn kỳ vọng là quốc gia này vẫn còn cơ hội để tiếp cận tới chuẩn mực pháp quyền và minh bạch. Nghịch lý thay, chính vì kỳ vọng ấy mà giọng điệu truyền thông của họ trở nên gay gắt hơn khi họ cho rằng Việt Nam đang đi theo chiều hướng ngược lại các xu thế tiến bộ. Trong một nền kinh tế phụ thuộc sâu vào đầu tư và thị trường quốc tế, quyền lực không thể chỉ dựa vào sự kiểm soát nội bộ; nó còn phụ thuộc vào mức độ minh bạch và niềm tin mà quốc gia đó tạo ra đối với thế giới. Một nền kinh tế phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài không thể tách rời khỏi cách mình được bên ngoài nhìn nhận như thế nào. Khi báo chí quốc tế thẩm định hình ảnh Việt Nam như một “mô hình lai ghép cứng rắn”, điều đó có thể không làm thay đổi ngay các thỏa thuận chiến lược, nhưng rõ ràng nó sẽ ảnh hưởng đến niềm tin dài hạn của giới đầu tư, học giả và công luận quốc tế. Vì thế, thay vì phản ứng bằng tâm thế phòng thủ hay quy kết cho “thiên kiến kiểu phương Tây”, có lẽ điều cần thiết hơn là một sự tự vấn nghiêm túc. Một đảng cầm quyền tự tin vào tính chính danh của mình không cần phải dựa quá nhiều vào cơ chế kiểm soát để duy trì ổn định. Ổn định bền vững trong thế kỷ XXI không chỉ đến từ kỷ luật và trật tự, mà từ minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia rộng rãi của xã hội. Nên thoát khỏi lối sống trong nghịch lý Lời kêu gọi ở đây không phải là từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà là nên tái định nghĩa vai trò của đảng theo hướng phù hợp với một quốc gia đã hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu. Nếu tiếp tục siết chặt không gian chính trị trong khi mở rộng cánh cửa kinh tế, Việt Nam sẽ phải sống trong nghịch lý: muốn thu hút niềm tin quốc tế nhưng lại tạo ra ấn tượng thiếu cởi mở về thể chế. Sự mâu thuẫn ấy, nếu kéo dài, có thể trở thành lực cản nội tại. Tương lai của Tổng Bí thư Tô Lâm và của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đánh giá của phương Tây nhiều khả năng sẽ tiếp tục mang tính hai mặt. Một mặt, Việt Nam được xem là đối tác chiến lược quan trọng trong cân bằng khu vực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Mặt khác, những lo ngại về tập trung quyền lực và tự do chính trị sẽ vẫn là chủ đề thường trực trong báo chí và giới học giả. Phương Tây có thể tiếp tục hợp tác vì những lý do thực dụng, nhưng hình ảnh “đối tác chiến lược toàn diện đáng tin cậy” chỉ thực sự bền vững khi đi kèm với cải cách thể chế tương thích với chuẩn mực quốc tế. Không ai có thể đưa ra con số phần trăm để đoán định khả năng thay đổi mô hình quản trị ở Việt Nam. Nhưng lịch sử nhiều lần cho thấy, những hệ thống biết điều chỉnh để thích nghi sẽ tồn tại lâu dài hơn những hệ thống khép kín. Trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt về vốn, công nghệ và nhân tài, quyền lực tập trung có thể tạo ra quyết đoán ngắn hạn; nhưng pháp quyền và minh bạch mới tạo ra sức mạnh dài hạn. Nếu coi các bài viết trên báo chí phương Tây là những lời cảnh báo, đấy chưa hẳn là những tiếng nói thù địch. Đôi khi, sự phê phán từ bên ngoài chính là cơ hội để nhìn lại mình. Một Việt Nam tự tin, cải cách và cởi mở hơn sẽ không cần lo ngại trước bất kỳ ẩn dụ nào – bởi khi thực tế thay đổi, cách nhìn cũng sẽ thay đổi theo. Đừng quên một tư tưởng từ Nho gia, nhưng đã trở thanh minh triết của dân gian:“Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng!” Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng  (Dự án Mỹ – Việt, CRT) ……………… Tham khảo: https://www.nytimes.com/2026/02/09/world/asia/vietnams-leader-has-new-power-and-hes-in-a-hurry.html https://www.courrierinternational.com/article/politique-au-vietnam-l-ambitieux-to-lam-se-reve-en-monstre-de-frankenstein-mi-xi-jinping-mi-poutine_239501 https://dcvonline.net/2026/02/11/lanh-dao-viet-nam-nam-them-quyen-luc-va-dang-voi-va/?utm_source=chatgpt.com (Bài trên NYT) https://mail.google.com/mail/u/0/?pli=1#inbox/FMfcgzQfBkQvhJqnpHnskXtnGGZSHxWQ (“Au Vietnam, l’ambitieux To Lam se rêve en “monstre de Frankenstein” mi-Xi Jinping, mi-Poutine”, Bản lược dịch do AI Gemini thực hiện từ Tạp chí “Courrier international”) https://www.reuters.com/world/asia-pacific/vietnam-political-shake-up-consolidates-power-2025-xx-xx/    
......

Câu đối Tết Bính Ngọ 2026

Hà Sĩ Phu 1. CẢM HỨNG TRƯỚC ĐẠI HỌA CỦA DÂN TỘC Cuối năm con Rắn Ất Tỵ, thiên tai bão lụt hòa với nhân tai xả lũ, cuốn đi mấy nghìn sinh mạng, bao nhiêu làng mạc, cơ man nào là tài sản cùng gia súc gia cầm. Đại họa đã đến đúng lúc thời cuộc chính trị khẩn trương, các cán bộ cao cấp bị hút vào cuộc phân chia quyền lực trước Đại hội 14 của đảng, việc cấp cứu trước đại họa khiến dân phải tự lo cho nhau là chủ yếu. Tình cảnh ấy khiến tôi buột ra mấy dòng như sau: Cơn xả lũ to, bồi thêm THỦY QUÁI Thương bao DÂN ĐEN chết đúng quy trình! Cuộc chia bè trùm làm yếu SƠN TINH Trách các TƯỚNG ĐỎ họp chia quyền chức! Nhân tai khốn cùng hòa với Thiên tai, Đại họa xót thương thành cơn BĨ CỰC! Mong lời nói hay biến thành hiện thực, Để nước thanh bình, vẹn cuộc THÁI LAI! Bài thơ 8 chữ ấy có thể cắt đôi thành các câu thơ 4 chữ: Cơn xả lũ to bồi thêm Thủy quái. Thương bao dân đen chết đúng quy trình! Nạn chia bè trùm làm yếu Sơn tinh. Trách các tướng đỏ bận chia quyền chức! Nhân tai khốn cùng hòa với thiên tai. Đại họa xót thương thành cơn BĨ CỰC. Mong lời nói hay biến thành hiện thực. Đất nước thanh bình, nên cuộc THÁI LAI! Bài thơ có thể rút gọn thành Câu đối: – Cơn xả lũ bồi thêm THỦY QUÁI, bao DÂN ĐEN chết đúng quy trình! – Cuộc chia bè làm yếu SƠN TINH, các TƯỚNG ĐỎ bận chia quyền chức! Trước cơn đại họa của Dân tộc đã có những lời hứa rất đẹp, rất hay, nhưng những việc làm lại khiến người dân lo sợ. Điều ấy chẳng có gì mới mẻ, xin minh chứng bằng câu tục ngữ dân gian: Việt Nam là nước sùng kính con Rồng, coi Rồng như vị Thiên tử tài ba quẫy sóng biển Đông. Nhưng dân gian lại có câu “ĂN NHƯ RỒNG CUỐN, NÓI NHƯ RỒNG LEO, LÀM NHƯ MÈO MỬA!”. Ăn như Rồng cuốn là hưởng thụ đến ghê người. Nói như Rồng leo là nói lời đẹp đẽ tài tình. Nhưng làm như Mèo mửa thì việc làm lại kinh tởm, không ngửi được, chỉ đáng buồn nôn. Thói đời thường vẫn vậy, dân biết hết mà, dẫu chẳng dám nói ra, vẫn phải coi Rồng là bậc Thiên tử tối cao, như vị Sơn tinh cứu dân thoát khỏi bàn tay Thủy quái. 2. NHÂN LỜI SẤM CỦA TRẠNG TRÌNH Cuối thế kỷ 15, nước ta xuất hiện một nhà văn hóa đặc biệt Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙 (1491–1585). Ông giỏi thơ văn và tinh thông thuật số nên có tài tiên đoán những biến cố xã hội xảy ra theo chu kỳ. Sấm rằng: Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh Can qua xứ xứ khổ đao binh Mã đề Dương cước anh hùng tận Thân Dậu niên lai kiến thái bình Lời Sấm có tính chất tiên đoán theo chu kỳ, ví dụ rất đúng với đại chiến 2 của thế giới, cũng từ cuối năm Rồng đầu năm Rắn (Long vĩ Xà đầu 1940-41) và kết thúc năm Khỉ năm Gà (Thân Dậu 1944-45). Trước khi kết thúc thế nào cũng có thời kỳ‎ khốc liệt tàn hại những tinh hoa (Mã đề Dương cước 1942-43). Nếu như lời Sấm ứng nghiệm với thời kỳ mới của nước ta thì tương ứng sẽ như sau (tưởng tượng thế cho vui): – Long vĩ xà đầu (Giáp Thìn-Ất Tỵ 2024-2025 ): Khởi chiến tranh, can qua xứ xứ khổ đao binh! (Chu kỳ này không thấy có chiến tranh, chỉ có những đấu tranh nội bộ). – Mã đề Dương cước (Bính Ngọ-Đinh Mùi 2026-2027 ): Anh hùng tận! – Thân Dậu niên lai (Mậu Thân-Kỷ Dậu 2028-2029): Kiến thái bình! Nghĩa là đến 2029 mới được yên ổn và hưởng thái bình! Nếu lời Sấm ứng nghiệm thì như thế! Lời Sấm ấy đã gợi hứng cho câu đối: – RẮN uốn thân mấy khúc lượn vòng vo, may thoát nạn “XÀ đầu long vĩ”! – NGỰA che mắt một chiều phi thẳng tuột, có đến bài “MÃ đáo thành công”? 3. MỘT VÀI CÂU ĐỐI KHÁC: a/ Tranh tối tranh sáng: – Tranh tối tranh sáng là lúc nhá nhem, đem TRÍ TUỆ soi đèn, THẬT GIẢ đôi đường mau tách biệt! – Thích mác thích lê ấy lũ bạo tàn, lấy LƯƠNG TÂM làm luật, CHÍNH TÀ mọi ngả sẽ phân minh! b/ Điều trớ trêu của lịch sử: Những điều kiện VẬT CHẤT thì ngày càng phong phú, nhưng những giá trị TINH THẦN của con người thì ngày càng suy kém đi! Con người ngày càng tinh khôn thì những tấm lòng cao cả lại ngày càng hiếm thấy. – VẬT CHẤT cứ say mê, HÀNG HÓA TƯNG BỪNG nhiều kẻ hám!  – TINH THẦN sao lép vế, NGHĨA NHÂN CHUYỆN LỚN ít ai bàn! c/ Nuôi ong tay áo, kẻ thù xâm nhập tự bên trong: – Tốn của tốn công, nuôi ong mãi chẳng biết… “Ong tay áo”! – Mong trời mong biển, rước ngựa về nay rõ…“Ngựa thành tơ-roa”! d/ Ba bè nhưng một duộc vì lỗi hệ thống: – Trên bảo dưới không nghe, dưới dưới trên trên cùng MỘT DUỘC!  – Dưới làm trên chẳng biết, trên trên dưới dưới… đến BA BÈ! 4. BA CHUYỆN VUI CƯỜI TRƯỚC TẾT CON NGỰA           a/ Thơ Tàu và thơ ta: Trong Đường thi Trung Quốc có câu “Hồ mã tê Bắc phong,Việt điểu sào Nam chi” 胡馬嘶北風,越鳥巢南枝, nghĩa là, những con ngựa gốc từ vùng Hồ (một vùng phía Bắc Trung Quốc) thì cứ thấy gió phương Bắc thổi là nó h‎í lên, những con chim xứ Việt thì cứ chọn cành phía Nam làm tổ. Con vật còn biết thương nhớ nơi quê hương đã sinh ra nó. Nhưng các địa danh của Việt Nam cũng trùng với địa danh Trung Quốc nên nhiều người ‎‎‎tưởng câu thơ ấy là của Việt Nam. Câu “Ngựa Hồ hí gió Bắc” lại được hiểu là “những con ngựa của họ Hồ (ở Việt Nam) cứ hí lên sung sướng khi ngọn gió từ Bắc quốc thổi sang”! Thực ra câu thơ ấy không liên quan gì đến những chuyện của Việt Nam. b/ Độc tài là tuyệt vời: Nói chung ai cũng ghét sự ĐỘC TÀI và mong Dân chủ (vì Dân chủ Đa nguyên mới sàng lọc để chọn được bộ máy cai trị ưu việt), nhưng có một trường hợp hãn hữu thì lại xuất hiện một NGHỊCH LÝ: Trong xã hội rối ren nếu “Trời cho” xuất hiện một MINH QUÂN thì lại mong có sự ĐỘC TÀI để khỏi cần sự can thiệp của những ý ‎kiến không tốt. SỰ ĐỘC TÀI CỦA MINH QUÂN lại đem hạnh phúc và Dân chủ cho nhân dân, thực tế ở Singapore chứng minh điều đó. Vì thế nếu có bọn HÔN QUÂN cũng lấy tấm gương của Singapore để chứng minh “sự ĐỘC TÀI là phương pháp cai trị ưu việt” thì đó chỉ là chuyện ngụy biện thật nực cười. Xin nói chuyện giả định như vậy để mua vui nhân Tết con Ngựa! c/ Con Ngựa và niềm vui giờ Triết học: Giờ Triết học, thầy giảng về “đấu tranh giai cấp”. Giai cấp Vô sản ưu việt phải coi giai cấp Tư bản bẩn thỉu là kẻ thù không đội trời chung. Một học sinh lễ phép nêu thắc mắc: – Thưa thầy, em thấy các quan chức Cộng sản đều mua nhà sang trọng ở bên Mỹ, mà Mỹ là trùm Tư bản, là kẻ thù số 1 chứ ạ? Thầy giáo dõng dạc cắt nghĩa: – Bài trước thầy đã nói về “Con ngựa thành Troy” là một mẹo xâm lược, các em còn nhớ chứ? Đấy, họ là những con ngựa thành Troy mà đảng Vô sản đã cài vào nước Mỹ làm nội ứng để Cộng sản hóa toàn nước Mỹ. Họ đi làm nhiệm vụ thiêng liêng đấy các em ạ. Marx đã tiên đoán toàn thế giới sẽ thành “Thế giới đại đồng”, tức Thiên đường Cộng sản. Thế giới đại đồng sẽ không cần các chính phủ nữa mà để người lao động tự điều hành tất cả! Nước ta có vinh dự đã vươn mình đi tiên phong, nhưng ta sẽ không đến Thiên đường đó một mình đâu, mà với lòng nhân ái CS ta sẽ dẫn dắt cả thế giới loài người cùng đi theo các em ạ… Cả lớp lặng người đi, có lẽ vì xúc động, có tiếng khúc khích cười, một ngày trước Tết con Ngựa. ***  MỜI ĐỐI 1/ Mời đối 1: – Hết khoe MÃ một thời, NGỌ ngoạy lắm cũng ra vành móng NGỰA! 2/ Mời đối 2: – Bính NGỌ đã sang, vài chú NGỰA non còn háu đá! (thành ngữ Ngựa non háu đá) 3/ Mời đối 3: – Chủ nghĩa vị TIỀN, hai nốt ĐÔ-LA đè quốc sự!  
......

Những phản xạ từ cuộc thanh trừng ở Trung Nam Hải đối với quốc phòng Việt Nam

Hoàng Trường   Lịch sử quân đội Việt Nam từng ghi nhận những thời điểm chuyển pha quyền lực gắn liền với sự ra đi đột ngột của các tướng lĩnh trụ cột. Năm 1986, chỉ trong một thời gian ngắn trước Đại hội VI, quân đội mất đi hai nhân vật có uy tín và thực quyền lớn: Đại tướng Hoàng Văn Thái và Đại tướng Lê Trọng Tấn. Khi chứng kiến các tướng Trung Quốc hôm nay “bị trảm” đúng thời điểm chính trị nhạy cảm, sự liên tưởng đến năm 1986 không phải là ngẫu nhiên, mà là một phản xạ lịch sử…   ------------------------   Việc hàng loạt tướng lĩnh cao cấp của Trung Quốc bị “cho nghỉ việc”, bị điều tra hoặc biến mất khỏi chính trường trong thời gian ngắn không còn là chuyện đồn đoán bên lề, mà đã trở thành một thực tế chính trị hiển nhiên tại Trung Nam Hải (1). Đối với thế giới, đó là một chỉ dấu cho thấy quyền lực tại Bắc Kinh đang được siết chặt theo mô hình cá nhân hóa cao độ. Nhưng đối với Việt Nam, câu chuyện ấy không chỉ mang ý nghĩa quan sát từ xa.   Câu hỏi đặt ra là: tướng Trung Quốc bị triệt, thì tướng Việt có lo hay không? Câu trả lời ngắn gọn là: Có!   Và không phải chỉ lo một điều, mà ít nhất có ba nỗi lo chồng lấn lên nhau, vừa mang tính địa – chính trị, vừa mang tính an ninh – quân sự, lại vừa đụng đến cân bằng quyền lực nội bộ.   Lo thứ nhất: Trung Quốc “đại loạn" thì thiên hạ khó “đại trị”   Lịch sử Á Đông cho thấy một quy luật gần như bất biến: mỗi khi Trung Quốc rơi vào bất ổn nội bộ, thì các nước láng giềng khó có thể đứng ngoài vòng xoáy. Với Việt Nam, nỗi lo này lại càng hiện hữu, bởi mối quan hệ địa lý “núi liền núi, sông liền sông” không cho phép Hà Nội có đặc quyền lựa chọn các khoảng cách an toàn.   Một Trung Quốc bất ổn không chỉ là câu chuyện đấu đá trong thượng tầng chính trị. Nó kéo theo những hệ lụy rất thực tế: dòng người di cư, làn sóng lao động tự phát, thương nhân, thậm chí cả những nhóm người tìm cách “ở lại lâu dài” khi tình hình trong nước họ trở nên khó lường. Chỉ riêng bài toán quản lý dân cư, kiểm soát biên giới, an ninh xã hội ở các tỉnh phía Bắc đã đủ khiến bộ máy Việt Nam phải căng mình.   Trong bối cảnh đó, lo ngại của giới quân sự Việt Nam không nằm ở những kịch bản viễn tưởng, mà ở những tình huống rất cụ thể, rất đời thường, nhưng tích tụ lâu ngày có thể trở thành bất ổn chiến lược (2).   Lo thứ hai: Khi Trung Quốc choảng nhau, căng thẳng thường bị “xuất khẩu”   Nếu nỗi lo thứ nhất còn mang tính phòng thủ – quản trị, thì nỗi lo thứ hai mới thực sự chạm đến thần kinh quân sự.   Trung Quốc có một tiền lệ không dễ chịu đối với các nước láng giềng: mỗi khi nội bộ rơi vào trạng thái căng thẳng, Bắc Kinh thường có xu hướng “xuất khẩu xung đột” ra bên ngoài, bằng các hành động quân sự cục bộ, va chạm biên giới, hoặc gây sức ép chiến lược ở những điểm nóng quen thuộc.   Biên giới phía Bắc Việt Nam, vì thế, chưa bao giờ là một đường biên hoàn toàn yên tĩnh. Đối với Phan Văn Giang, nỗi lo này không phải là lý thuyết sách vở. Ông xuất thân là một sĩ quan trưởng thành từ thời chiến tranh biên giới, từng trực tiếp chứng kiến cách mà căng thẳng nội bộ Trung Quốc có thể chuyển hóa thành áp lực quân sự đối với Việt Nam.   Trong bối cảnh các tướng lĩnh Trung Quốc bị thanh trừng, đặc biệt là trong các binh chủng chiến lược, khả năng xảy ra những hành động “thử phản ứng” ở biên giới hoặc trên Biển Đông là điều mà giới hoạch định quốc phòng Việt Nam không thể không tính đến (3). Không cần một cuộc xung đột quy mô lớn; chỉ vài sự cố nhỏ, được đẩy lên bằng tuyên truyền và quân sự hóa, cũng đủ để tạo ra hiệu ứng dây chuyền về tâm lý và an ninh.   Lo thứ ba: Bóng đè nội bộ – các tướng Việt Nam có “nghĩ tới đường xa”?   Nỗi lo thứ ba có thể bị một số người xem là “lo xa”, bởi Việt Nam không phải Trung Quốc, và văn hóa chính trị Việt Nam lâu nay vẫn được mô tả là “có lý có tình”, ít khi đẩy mâu thuẫn nội bộ lên mức thanh trừng khốc liệt như Bắc Kinh.   Tuy nhiên, chính trị không vận hành bằng cảm tính, mà bằng so sánh, đối chiếu và phản xạ tâm lý. Khi chứng kiến các tướng lĩnh Trung Quốc – từng là trụ cột quyền lực – bị triệt hạ nhanh chóng, không qua nhiều quy trình công khai, câu hỏi tự nhiên sẽ xuất hiện trong đầu không ít sĩ quan cao cấp Việt Nam: liệu điều đó có thể xảy ra ở đây hay không, và trong hoàn cảnh nào?   Câu hỏi ấy trở nên nhạy cảm hơn trong bối cảnh mối quan hệ giữa quân đội và công an tại Việt Nam đang mất cân đối rõ rệt (4). Trong những năm gần đây, công an được trao thêm quyền, thêm nguồn lực, thêm vị trí trong bộ máy quyền lực, trong khi quân đội – dù vẫn giữ vai trò truyền thống – lại có cảm giác bị đặt vào thế phòng thủ chính trị.   Lịch sử quân đội Việt Nam từng ghi nhận những thời điểm chuyển pha quyền lực gắn liền với sự ra đi đột ngột của các tướng lĩnh trụ cột. Năm 1986, chỉ trong một thời gian ngắn trước Đại hội VI, quân đội mất đi hai nhân vật có uy tín và thực quyền lớn: Hoàng Văn Thái (5) và Lê Trọng Tấn (6). Đây đều là những tướng lĩnh gắn với chiến tranh quy ước, với tư duy quân sự truyền thống, và quan trọng hơn, là những người mang ký ức trực tiếp về xung đột với Trung Quốc. Sự ra đi của họ, dù được giải thích bằng lý do sức khỏe, đã vô tình tạo ra một khoảng trống thế hệ, mở đường cho việc tái cấu trúc vai trò của quân đội trong hệ thống quyền lực thời hậu chiến.   Điều đáng chú ý không nằm ở giả thuyết “bị loại bỏ”, mà ở hệ quả chính trị: sau 1986, quân đội dần rút sâu hơn về vai trò chuyên môn – quốc phòng thuần túy, trong khi quyền lực an ninh – nội chính bắt đầu được phân bổ lại theo hướng tập trung hơn vào các cơ quan kiểm soát xã hội. Ký ức về sự chuyển pha ấy, dù không được nói ra công khai, vẫn tồn tại như một lớp trầm tích trong tâm lý giới tướng lĩnh Việt Nam. Khi chứng kiến các tướng Trung Quốc hôm nay bị “cho nghỉ” đúng thời điểm chính trị nhạy cảm, sự liên tưởng đến năm 1986 không phải là ngẫu nhiên, mà là một phản xạ lịch sử: quân đội có thể không bị thanh trừng, nhưng hoàn toàn có thể bị đặt ra ngoài trung tâm quyền lực nếu cán cân chính trị thay đổi.   Tác động tâm lý từ Trung Nam Hải đến Ba Đình   Cuộc thanh trừng ở Trung Nam Hải, vì thế, không chỉ tác động đến Việt Nam ở cấp độ đối ngoại, mà còn tạo ra hiệu ứng tâm lý nội bộ. Nó khiến giới tướng lĩnh Việt Nam nhìn lại vị trí của mình trong cấu trúc quyền lực hiện tại, và tự hỏi liệu cán cân ấy có còn bền vững hay không.   Sự bất mãn âm ỉ của một bộ phận giới quân đội đối với Tô Lâm không phải là bí mật. Việc ưu ái công an hơn quân đội, xét về dài hạn, không chỉ là vấn đề phân bổ quyền lực, mà còn là vấn đề niềm tin chính trị trong nội bộ hệ thống.   Điều này không đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ sao chép mô hình Trung Quốc. Nhưng trong chính trị, những gì xảy ra ở nước lớn thường tạo ra chuẩn tham chiếu cho các nước nhỏ, dù là trong ý thức hay vô thức. Khi mô hình “lãnh đạo mạnh tay với quân đội” được thực thi ở Bắc Kinh, nó buộc Hà Nội phải cân nhắc kỹ hơn về cách quản trị mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và sức mạnh vũ trang.   Giữ ổn định hay chấp nhận rủi ro?   Trước ba nỗi lo chồng lấn kể trên, câu hỏi đặt ra cho lãnh đạo Việt Nam, cả dân sự lẫn các lực lượng vũ trang, không phải là có nên lo hay không, mà là lo bằng cách nào. Lo để giữ ổn định, hay lo trong tâm thế đề phòng lẫn nhau?   Về mặt lý trí, Việt Nam không có lợi ích gì khi đẩy các mối quan hệ quân đội – nội chính – công an vào thế căng thẳng. Nhưng về mặt thực tiễn, nếu sự phân bổ quyền lực và lợi ích ngày càng tiếp tục lệch về một phía, thì những bất mãn âm thầm rất khó được “xả áp” bằng các cơ chế mềm.   Trong bối cảnh quốc tế đầy biến động, một Trung Quốc bất ổn, một khu vực Đông Nam Á đang tái cấu trúc, và một nội bộ Việt Nam sau Đại hội XIV chưa hoàn toàn định hình, việc giữ cho quân đội cảm thấy an toàn về chính trị có thể quan trọng không kém việc tăng cường năng lực quốc phòng thuần túy.   Kết luận:   Các tướng Trung Quốc bị triệt, các tướng Việt Nam chắc chắn là có lo, và nỗi lo ấy không phải là phản xạ yếu đuối, mà là biểu hiện của một hệ thống đang cố gắng tự điều chỉnh trước những cú sốc từ bên ngoài lẫn bên trong. Ba nỗi lo – từ bất ổn khu vực, nguy cơ căng thẳng biên giới, đến bóng đè nội bộ – đang đan xen và tác động lẫn nhau.   Trong quản trị quốc gia, điều nguy hiểm nhất không phải là lo, mà là coi thường nỗi lo của những người đang nắm trong tay súng đạn. Việt Nam từng trả giá cho những tính toán sai lầm trong quá khứ — từ cuộc chiến kéo dài trên đất Chùa tháp đến hơn mười năm căng thẳng biên giới phía Bắc. Những bài học ấy, nếu còn được ghi nhớ, sẽ buộc giới lãnh đạo hiện nay phải thận trọng hơn trước những gì đang diễn ra ở Trung Nam Hải — và ngay cả trong chính sân nhà của mình.   Tham khảo thêm:   (1) https://chantroimoimedia.com/2026/01/30/viec-truong-huu-hiep-bi-giam-giu-bi-mat-phoi-bay-cuoc-khung-hoang-sau-sac-trong-quan-doi-trung-quoc/   (2) https://nghiencuuchienluoc.org/quyen-luc-thuong-tang-quan-doi-trung-quoc-duoc-dinh-hinh-lai-tac-dong-va-van-de/?utm_source=chatgpt.com   (3) https://asia.nikkei.com/politics/xi-jinping-s-historic-purge-of-china-s-military-5-things-to-know   (4) https://bristoluniversitypressdigital.com/edcollchap/book/9781529229349/ch007.xml  (The Architecture and Evolution of Civil–Military Relations in Vietnam)   (5) https://en.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_V%C4%83n_Th%C3%A1i?utm_source=chatgpt.com  (Hoàng Văn Thái)   (6) https://www.upi.com/Archives/1986/12/07/Gen-Le-Trong-Tan-Vietnams-army-chief-of-staff/3154534315600/?utm_source=chatgpt.com (Lê Trọng Tấn)    
......

Chính sách chống di dân ở Mỹ đã “đuổi” hai nhà toán học Việt Nam

Trung Ngôn Thông tin về hai nhà toán học gốc Việt hàng đầu thế giới là GS Ngô Bảo Châu và GS Vũ Hà Văn sẽ rời nước Mỹ để gia nhập Đại học Hong Kong, không chỉ là một tin học thuật đơn thuần mà nó mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, phản ánh những hệ lụy ngày càng rõ hơn về chính sách chống di dân và bầu không khí chính trị – xã hội khắc nghiệt mà nước Mỹ đã và đang tự tạo ra cho chính mình. Trong nhiều thập niên, Hoa Kỳ là “miền đất hứa” của khoa học toàn cầu. Sức hút của các trường đại học Mỹ không chỉ đến từ ngân sách nghiên cứu dồi dào, cơ sở vật chất hiện đại, mà quan trọng hơn là tinh thần cởi mở: Những người có tài, có khát vọng, đều có cơ hội. Những tên tuổi lớn trong khoa học Mỹ – từ Albert Einstein, Enrico Fermi cho đến vô số nhà khoa học gốc Á và gốc Âu sau này – đều là minh chứng cho một nước Mỹ được xây dựng bởi di dân. Chính sách nhập cư, dù chưa bao giờ hoàn hảo, nhưng nó vẫn là động cơ nuôi dưỡng “quyền lực mềm” của Mỹ về khoa học và tri thức. Thế nhưng, trong gần một thập niên trở lại đây, đặc biệt dưới tác động của các phong trào dân túy và chủ nghĩa bài ngoại của MAGA, bức tranh ấy đã đổi màu. Chính sách siết chặt visa, sự nghi kỵ mang màu sắc an ninh đối với giới học thuật, cùng không khí chính trị đầy chia rẽ đã khiến nhiều nhà khoa học cảm thấy không còn được chào đón. Trong bối cảnh đó, việc GS Ngô Bảo Châu là người đoạt giải Fields, biểu tượng của đỉnh cao toán học sẽ rời Đại học Chicago sau 15 năm gắn bó; và GS Vũ Hà Văn, giáo sư kỳ cựu của Yale, chủ nhân các giải thưởng toán học danh giá, quyết định chuyển sang Hong Kong, là một tín hiệu không thể xem nhẹ. Rõ ràng đây không phải là câu chuyện “đãi ngộ” nhân tài bởi cả hai giáo sư đều đang làm việc tại hai trường đại học hàng đầu thế giới, có vị thế học thuật vững chắc và đời sống ổn định. Do vậy, quyết định ra đi của họ phản ánh những yếu tố sâu xa hơn: Cảm giác bất an về tương lai, sự mệt mỏi trước những rào cản hành chính, và có lẽ cả nỗi thất vọng khi nhận ra rằng môi trường từng tôn vinh tri thức, bây giờ lại đặt nghi vấn lên chính những con người làm ra tri thức đó. Việc rời khỏi nước Mỹ đến Hồng Kông của hai vị giáo sư, không chỉ cho thấy sự thất bại của nước Mỹ thời Trump, mà còn là sự thắng lợi của Tập Cận Bình. Đại học Hồng Kông không chỉ mời gọi hai nhà toán học gốc Việt bằng vị trí “chair professor” danh giá, mà còn bằng thông điệp: Khoa học được coi trọng như một tài sản quốc gia, và nhà khoa học được nhìn nhận bằng năng lực, chứ không phải bằng hộ chiếu. Trung Quốc và các trung tâm học thuật châu Á khác đang đầu tư mạnh mẽ vào khoa học cơ bản, không chỉ để nâng cao thứ hạng đại học, mà còn để khẳng định vị thế trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về tri thức. Đối với Hoa Kỳ, sự ra đi của các nhà khoa học như Ngô Bảo Châu và Vũ Hà Văn là một dạng “chảy máu chất xám” đặc biệt nguy hiểm. Đây không phải là những nhà khoa học trẻ mới khởi nghiệp, mà là các “đỉnh” trong học thuật, bởi họ là những người có khả năng dẫn dắt và đào tạo thế hệ kế tiếp, và tạo ra ảnh hưởng lâu dài. Khi họ bỏ đi, đó là sự mất mát không chỉ vài công trình nghiên cứu, mà là cả một hệ sinh thái tri thức gắn với họ. Ở góc độ cộng đồng người Việt, câu chuyện này còn gợi lên một nghịch lý cay đắng. Hai trí thức gốc Việt đạt tới đỉnh cao khoa học thế giới, được vinh danh ở những trung tâm học thuật lớn, nhưng lại buộc phải rời khỏi nước Mỹ, nơi từng được xem là không gian lý tưởng cho tự do học thuật. Điều này đặt ra câu hỏi: Liệu nước Mỹ có còn trung thành với những giá trị đã từng làm nên sức mạnh của mình hay không? Sự kiện này cần được nhìn nhận như một lời cảnh báo: Khoa học không thể phát triển trong bầu không khí sợ hãi và nghi kỵ. Tri thức không có quốc tịch cố định mà nó sẽ tìm đến nơi nào biết trân trọng và bảo vệ nó. Nếu nước Mỹ tiếp tục theo đuổi các chính sách chống di dân cực đoan, coi trí thức ngoại quốc là một đe dọa thay vì là nguồn lực, thì việc mất thêm nhiều người như GS Ngô Bảo Châu và GS Vũ Hà Văn khác chỉ còn là vấn đề thời gian. Và khi đó, cái giá phải trả sẽ không chỉ là uy tín học thuật, mà là sự suy giảm lâu dài của chính nền tảng quyền lực mềm mà nước Mỹ đã từng tự hào./.
......

Hà Nội đang lên kế hoạch cho một cuộc xâm lược thứ hai của Mỹ

Dịch từ The Independent (Fb Henry Quang Vu) Một năm sau khi Việt Nam nâng cấp quan hệ với Washington lên mức cao nhất về ngoại giao, một tài liệu nội bộ vừa được hé lộ cho thấy quân đội Việt Nam đồng thời chuẩn bị cho kịch bản Mỹ tiến hành một “cuộc chiến tranh xâm lược” và coi Hoa Kỳ là một cường quốc thích chiến tranh. Sự mâu thuẫn rõ rệt này, được nêu trong một báo cáo công bố hôm thứ Ba, không chỉ phơi bày cách tiếp cận “hai mặt” của Hà Nội đối với Mỹ, mà còn xác nhận một nỗi lo sâu xa trong giới lãnh đạo cộng sản của quốc gia Đông Nam Á này. Trung tâm của nỗi lo ấy là viễn cảnh các thế lực bên ngoài có thể kích động một cuộc nổi dậy nhằm lật đổ chế độ – kịch bản thường được gọi là “cách mạng màu”. Mối lo này gợi lại các sự kiện như Cách mạng Cam tại Ukraine năm 2004 hay Cách mạng Vàng tại Philippines năm 1986. Phân tích của The 88 Project, một tổ chức nhân quyền chuyên theo dõi các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, cho biết nhiều tài liệu nội bộ khác cũng lặp lại những quan ngại tương tự về động cơ của Mỹ. Ông Ben Swanton, đồng giám đốc của The 88 Project và là tác giả báo cáo, nhận định: “Có một sự đồng thuận rộng rãi trong toàn bộ bộ máy nhà nước, trải dài qua nhiều bộ, ngành khác nhau. Đây không phải là quan điểm của một nhóm bên lề hay của vài phần tử hoang tưởng trong Đảng hay chính phủ.” Kế hoạch xâm lược Tài liệu gốc của Việt Nam, mang tiêu đề “Kế hoạch xâm lược Việt Nam lần thứ hai của Mỹ”, được Bộ Quốc phòng hoàn tất vào tháng 8/2024. Tài liệu cho rằng, trong nỗ lực “tăng cường răn đe đối với Trung Quốc”, Mỹ và các đồng minh “sẵn sàng áp dụng các hình thức chiến tranh phi truyền thống và can thiệp quân sự, thậm chí tiến hành các cuộc xâm lược quy mô lớn nhằm vào những quốc gia và vùng lãnh thổ ‘đi chệch khỏi quỹ đạo của họ’”. Dù thừa nhận rằng “hiện nay nguy cơ chiến tranh chống lại Việt Nam là thấp”, các nhà hoạch định quân sự Việt Nam vẫn cảnh báo rằng “do bản chất hiếu chiến của Mỹ, chúng ta cần phải cảnh giác cao độ để ngăn chặn Mỹ và các đồng minh ‘tạo ra cái cớ’ nhằm phát động một cuộc xâm lược đất nước ta”. Các nhà phân tích quân sự Việt Nam mô tả một quá trình kéo dài qua ba đời tổng thống Mỹ – từ Barack Obama, đến nhiệm kỳ đầu của Donald Trump, rồi tới thời Joe Biden – trong đó Washington ngày càng đẩy mạnh quan hệ quân sự và chiến lược với các quốc gia châu Á nhằm “hình thành một mặt trận chống Trung Quốc”. Lo ngại Mỹ muốn “áp đặt các giá trị của mình” Trong nhiệm kỳ của ông Biden, vào năm 2023, Mỹ và Việt Nam ký kết Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, đưa quan hệ song phương lên mức cao nhất, ngang hàng với Nga và Trung Quốc, như những “đối tác tin cậy với tình hữu nghị dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau”. Tuy nhiên, trong tài liệu quân sự năm 2024, các nhà hoạch định Việt Nam lại cho rằng, dù Mỹ coi Việt Nam là “một đối tác và một mắt xích quan trọng”, Washington vẫn muốn “truyền bá và áp đặt các giá trị của mình về tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tôn giáo”, qua đó từng bước làm thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Trong bài phân tích của mình, ông Swanton viết: “‘Kế hoạch xâm lược Việt Nam lần thứ hai của Mỹ’ mang lại một trong những cái nhìn tỉnh táo nhất từ trước đến nay về chính sách đối ngoại của Việt Nam. Nó cho thấy rằng, thay vì coi Mỹ là đối tác chiến lược, Hà Nội xem Washington là một mối đe dọa mang tính sống còn và hoàn toàn không có ý định tham gia vào liên minh chống Trung Quốc của Mỹ.” Bộ Ngoại giao Việt Nam không phản hồi các email yêu cầu bình luận về báo cáo của The 88 Project cũng như tài liệu được nêu trong đó. Bộ Ngoại giao Mỹ từ chối bình luận trực tiếp về “Kế hoạch xâm lược lần thứ hai”, nhưng nhấn mạnh ý nghĩa của thỏa thuận đối tác mới, khẳng định rằng quan hệ này “thúc đẩy thịnh vượng và an ninh cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam”. “Một Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng, độc lập và có khả năng tự cường sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước, đồng thời góp phần bảo đảm khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ổn định, an toàn, tự do và rộng mở,” Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố. Căng thẳng nội bộ lộ diện Ông Nguyễn Khắc Giang, thuộc Viện Nghiên cứu ISEAS–Yusof Ishak tại Singapore, cho rằng các kế hoạch này phản ánh những căng thẳng tồn tại lâu dài trong giới lãnh đạo chính trị Việt Nam, nơi phe bảo thủ gắn chặt với quân đội trong Đảng Cộng sản từ lâu đã luôn ám ảnh bởi các mối đe dọa bên ngoài đối với chế độ. “Quân đội chưa bao giờ thực sự thoải mái với việc tiến xa trong Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với Hoa Kỳ,” ông Giang nhận xét. Những căng thẳng này đã lan ra không gian công luận vào tháng 6/2024, khi một bản tin của truyền hình quân đội cáo buộc Đại học Fulbright – một cơ sở giáo dục có liên hệ với Mỹ – là đang kích động một “cuộc cách mạng màu”. Bộ Ngoại giao Việt Nam khi đó đã lên tiếng bảo vệ trường đại học này, vốn được cả quan chức Mỹ lẫn Việt Nam nhắc đến như một biểu tượng tích cực khi hai nước nâng cấp quan hệ. Ký ức chiến tranh và nỗi ám ảnh “cách mạng màu” Giáo sư Zachary Abuza thuộc Trường Cao đẳng Chiến tranh Quốc gia Mỹ tại Washington cho rằng quân đội Việt Nam vẫn mang trong mình “một ký ức rất dài” về cuộc chiến với Mỹ kết thúc năm 1975. Trong khi nhiều nhà ngoại giao phương Tây thường cho rằng Hà Nội lo ngại nhất trước khả năng Trung Quốc gây hấn, tài liệu này củng cố nhận định trong các văn bản chính sách khác rằng nỗi sợ lớn nhất của giới lãnh đạo Việt Nam là một “cuộc cách mạng màu”. Niềm tin giữa hai nước còn bị bào mòn thêm bởi việc chính quyền Tổng thống Donald Trump cắt giảm ngân sách dành cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), làm gián đoạn nhiều dự án quan trọng, trong đó có nỗ lực xử lý hàng tấn đất nhiễm dioxin độc hại từ chất độc da cam, cũng như bom mìn và vật liệu nổ chưa nổ còn sót lại từ chiến tranh. “Cảm giác bất an thường trực về các cuộc cách mạng màu thật sự gây bực bội, bởi tôi không hiểu tại sao Đảng Cộng sản lại thiếu tự tin đến vậy,” ông Abuza nói. “Họ có rất nhiều điều để tự hào: đã đưa hàng triệu người thoát nghèo, kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, và trở thành điểm đến được giới đầu tư nước ngoài ưa chuộng.” Trung Quốc: đối thủ, nhưng không phải mối đe dọa sống còn Dù Việt Nam và Trung Quốc đang tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, các tài liệu mô tả Trung Quốc chủ yếu như một đối thủ khu vực, chứ không phải là mối đe dọa mang tính tồn vong như Mỹ. “Trung Quốc không gây ra mối đe dọa tồn tại đối với Đảng Cộng sản (của Việt Nam),” ông Abuza nói. “Thật vậy, người Trung Quốc biết rằng họ chỉ có thể đẩy Việt Nam đến mức nào đó, bởi vì họ sợ rằng Đảng Cộng sản VN không thể đáp trả mạnh mẽ với Trung Quốc (và sẽ) trông yếu đuối (trước mắt dân chúng) và nó sẽ gây ra một cuộc nổi dậy quần chúng.” Trung Quốc là đối tác thương mại hai chiều lớn nhất của Việt Nam, trong khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất. Điều này buộc Hà Nội phải thực hiện một thế cân bằng tinh tế: vừa duy trì quan hệ ngoại giao – kinh tế, vừa phòng ngừa rủi ro chiến lược. “Ngay cả một số lãnh đạo tương đối tiến bộ cũng nhìn Mỹ và nói rằng: ‘Đúng, họ thích chúng ta, họ hợp tác với chúng ta, họ là đối tác tốt ở thời điểm hiện tại. Nhưng nếu có cơ hội xảy ra một cuộc cách mạng màu, người Mỹ chắc chắn sẽ ủng hộ nó,’” ông Abuza cho biết. Nhiệm kỳ hai của Trump: bớt lo điểm này, tăng lo điểm khác Dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, người trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam vào khoảng thời gian tài liệu được soạn thảo, Việt Nam đã đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, đặc biệt là dưới thời ông Trump, theo ông Nguyễn Khắc Giang. Ông Tô Lâm vừa được tái bổ nhiệm làm Tổng Bí thư vào tháng trước và nhiều khả năng sẽ kiêm luôn chức Chủ tịch nước, điều có thể biến ông thành nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Dưới sự lãnh đạo của ông, doanh nghiệp gia đình Trump đã khởi công một tổ hợp sân golf và bất động sản hạng sang trị giá 1,5 tỷ USD mang thương hiệu Trump tại tỉnh Hưng Yên. Gần như ngay lập tức, ông Tô Lâm chấp nhận lời mời của ông Trump tham gia Board of Peace – một quyết định được ông Giang đánh giá là “khá bất thường” trong bối cảnh các bước đi đối ngoại của Việt Nam thường được tính toán rất kỹ để tránh phản ứng tiêu cực từ Bắc Kinh. Tuy nhiên, chiến dịch quân sự của ông Trump nhằm bắt giữ cựu Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro lại cung cấp thêm lý do cho phe bảo thủ tại Việt Nam củng cố sự hoài nghi đối với việc xích lại gần Washington. Bất kỳ hành động quân sự nào của Mỹ liên quan đến Cuba – một đồng minh thân cận của Hà Nội – đều có thể làm xáo trộn thế cân bằng chiến lược của Việt Nam. “Cuba là vấn đề cực kỳ nhạy cảm,” ông Giang nói. “Nếu có chuyện xảy ra ở Cuba, nó sẽ gây chấn động mạnh trong giới tinh hoa chính trị Việt Nam. Nhiều người trong số họ có mối quan hệ rất sâu sắc, mang tính cá nhân với Cuba.” Nhìn chung, năm đầu nhiệm kỳ hai của ông Trump có thể khiến Việt Nam phần nào yên tâm vì Mỹ tập trung vào Tây Bán cầu, nhưng đồng thời cũng làm Hà Nội bối rối trước những diễn biến khác, theo ông Abuza. “Người Việt sẽ cảm thấy khó hiểu trước chính quyền Trump …” Dịch từ The Independent (Fb Henry Quang Vu)
......

Hãy nhớ

Một người phụ nữ đang hấp hối nói với một người lính rằng cô là người Do Thái. Câu trả lời chỉ ba chữ của anh đã thay đổi cuộc đời họ mãi mãi. Ngày 7 tháng 5 năm 1945, Volary, Tiệp Khắc. Cô đứng ở cửa một nhà máy. Gầy trơ xương. Gần như sắp chết. Hai mươi tuổi — nhưng không còn trông giống một con người. Chỉ còn 30 ký. Tóc bạc trắng vì đói. Quần áo rách nát, đầy chấy rận. Ba năm không được tắm rửa. Sau lưng cô, 119 phụ nữ khác nằm la liệt trên mặt đất, thoi thóp thở. Họ là những người còn sót lại cuối cùng. Ba tháng trước đó, 4.000 phụ nữ Do Thái bị ép phải đi bộ. Một cuộc hành quân tử thần từ Đức sang Tiệp Khắc. 560 km giữa mùa đông. Không áo khoác. Gần như không có thức ăn. Ai ngã xuống — bị bắn chết tại chỗ. Gerda Weissmann đã chứng kiến 3.880 phụ nữ chết dọc đường. Bạn thuở nhỏ. Những người xa lạ rồi trở thành chị em. Tất cả đều chết. Cô vẫn tiếp tục bước đi. Không phải vì cô mạnh hơn. Không phải vì còn hy vọng. Mà vì trong túi áo cô có một tấm ảnh duy nhất của gia đình. Và chừng nào còn bước tiếp, họ vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Cha mẹ. Anh trai. Tất cả đều đã bị giết trong các trại tập trung. Cô là người cuối cùng còn sống. Ba năm trước cuộc hành quân, Gerda đã sống sót qua các trại lao động của phát xít Đức. Đói khát. Bệnh tật. Sự tàn bạo không thể diễn tả. Nhưng cô giữ được một thứ mà Đức quốc xã không thể cướp đi: Danh tính của mình. Ngày 7 tháng 5 năm 1945, cô nghe thấy tiếng xe tiến lại. Lính Mỹ. Một viên trung úy trẻ bước xuống từ chiếc jeep. Ánh mắt anh chạm vào ánh mắt của cô gái gầy gò, kiệt quệ — trông già hơn tuổi rất nhiều. Gerda nói bằng tiếng Anh ngập ngừng, câu duy nhất cô có thể thốt ra: “Chúng tôi là người Do Thái.” Người lính dừng lại. Rồi nói hai chữ: “Tôi cũng vậy.” Anh tên là Kurt Klein. Một người Do Thái gốc Đức, đã chạy sang Mỹ năm 1937. Anh gia nhập quân đội Mỹ để chiến đấu chống lại chế độ đã phá hủy thế giới của mình. Và giờ đây, anh đứng trước mặt một cô gái đang hấp hối. Điều Kurt làm tiếp theo, Gerda sẽ nhớ suốt 77 năm. Anh giữ cửa cho cô. Một cử chỉ rất nhỏ. Nhưng là điều cô chưa từng được cảm nhận từ năm mười lăm tuổi. Phẩm giá. Sự tôn trọng. Tính người. Sau này Kurt nói: “Cô ấy bước về phía tôi, và tôi đã gặp người vĩ đại nhất mà tôi từng biết.” Trong những tuần tiếp theo, anh giúp chăm sóc các nạn nhân sống sót. Anh và Gerda trò chuyện. Giữa cái chết, sự tàn phá, nỗi kinh hoàng không thể tưởng tượng… một điều bất ngờ đã xảy ra. Sự kết nối. Sau khi Kurt được điều đi nơi khác, họ viết thư cho nhau. Lời nói thành cảm xúc. Cảm xúc thành sự chắc chắn. Ngày 18 tháng 6 năm 1946, Paris. Họ kết hôn. Họ chuyển đến Buffalo, New York. Kurt đi làm. Gerda nuôi ba đứa con. Họ xây dựng một cuộc đời từ tro tàn. Nhưng Gerda không thể quên 3.880 người còn lại. Năm 1957, bà xuất bản hồi ký: All But My Life — Mất tất cả, trừ mạng sống. Cái tên đã nói lên tất cả. Đức quốc xã đã lấy đi gia đình bà. Tuổi thơ. Sức khỏe. Quá khứ. Nhưng không lấy được mạng sống. Cuốn sách trở thành một tư liệu quan trọng về Holocaust. Được giảng dạy ở trường học, đại học. Hàng triệu người đọc. Gerda trở thành tiếng nói cho những người không còn tiếng nói. Bà đi khắp nơi nói chuyện. Không mệt mỏi. Suốt nhiều thập kỷ. Thông điệp của bà không bao giờ thay đổi: Hãy nhớ. Hãy lên tiếng trước thù hận. Hãy bảo vệ tự do — mong manh. Hãy chọn phẩm giá và lòng trắc ẩn. Năm 1995, bộ phim tài liệu One Survivor Remembers đoạt giải Oscar. Năm 2010, Tổng thống Obama trao cho bà Huân chương Tự do Tổng thống. Kurt qua đời năm 2002. Họ có 56 năm hôn nhân. Gerda tiếp tục một mình. Tiếp tục nói. Tiếp tục dạy. Tiếp tục nhắc thế giới phải nhớ. Cho đến ngày 3 tháng 4 năm 2022. Bà 97 tuổi. Bà đã sống sót qua điều tưởng như không thể sống sót. Biến chấn thương thành chứng nhân. Biến nỗi đau thành mục đích sống. Và tất cả bắt đầu từ hai chữ: “Tôi cũng vậy.” Một người lính giữ cửa cho một cô gái đang hấp hối. Rồi dành 56 năm sau đó để tiếp tục giữ cửa cho cô — cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Họ không chỉ sống sót sau Holocaust. Họ đã chiến thắng nó. Không phải bằng cách quên đi. Mà bằng cách ghi nhớ. Và xây dựng một cuộc đời có ý nghĩa từ đống đổ nát của diệt chủng. 4.000 phụ nữ bắt đầu cuộc hành quân vào tháng 1 năm 1945. 120 người sống đến tháng 5. Gerda dành 77 năm để tưởng nhớ 3.880 người không sống sót. Đó không chỉ là sống sót. Đó là biến bi kịch thành mục đích. Biến điều tồi tệ nhất của loài người thành cuộc đấu tranh cho điều tốt đẹp nhất. Bà đã ra đi. Nhưng tiếng nói của bà còn đó. Lời chứng của bà còn đó. Và lời nhắc của bà vẫn còn: Hãy nhớ. Đừng bao giờ quên. Không bao giờ tái diễn nữa. Gerda Weissmann Klein (1924–2022) Bà mất tất cả, trừ mạng sống. Và rồi bà dành chính mạng sống ấy cho những người đã mất. Và chúng ta sẽ nhớ. Bởi sau tất cả những gì bà đã sống sót, và tất cả những gì bà đã trao lại cho nhân loại, đó là điều tối thiểu chúng ta phải làm. TG Văn Chương    
......

Tự bảo vệ quyền lợi trước các quyết/nghị định của đảng CSVN

Dưới đây là tổng hợp các quyết định, nghị định, luật và chính sách của Đảng CSVN và Nhà nước Việt Nam từ tháng 01/2025 đến nay (cuối 2025 / đầu 2026) có ảnh hưởng rõ rệt đến đời sống hàng ngày của người dân, phân theo các nhóm chủ đề lớn như thuế, giao thông, vàng, bảo vệ môi trường, chuyển đổi số, hành chính – giấy tờ, y tế, giáo dục, lao động & xuất khẩu lao động. Với mỗi mục bài sẽ tóm tắt nội dung chính, nêu ảnh hưởng đối với dân (có lợi / bất lợi), rồi đề xuất cách công dân có thể bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm trong khung pháp luật Việt Nam. 1) Thuế & Kinh tế – Quy định mới quan trọng Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 (Luật số 67/2025/QH15) Được Quốc hội CSVN thông qua ngày 14/6/2025, có hiệu lực từ 01/10/2025. Mở rộng đối tượng miễn giảm, ưu đãi cho DN nhỏ và vừa, xác định lại mức thuế suất dựa trên doanh thu, tăng minh bạch quản lý thuế doanh nghiệp. (Luật sư Việt Nam) Ảnh hưởng với người dân: Lợi: Doanh nghiệp nhỏ được ưu đãi thuế (giảm chi phí sản xuất, giá dịch vụ có thể tốt hơn). Bất lợi: Hộ kinh doanh cá thể chưa nâng cấp lên DN có thể khó hưởng ưu đãi. Việc kê khai thuế phức tạp hơn dẫn đến lệ phí dịch vụ kế toán tăng. Bảo vệ quyền lợi: Yêu cầu cơ quan thuế hướng dẫn rõ cách khai báo, điều khoản cụ thể bằng văn bản để tránh phạt do sai kê khai. Thuế thu nhập cá nhân & lương tối thiểu vùng (từ 01/01/2026,số 109/2025/QH15) Nhiều thay đổi về thuế TNCN, bao gồm điều chỉnh bậc thuế và các quyền miễn giảm cùng tăng lương tối thiểu vùng qua Nghị định 293/2025/NĐ-CP (1/1/2026). (baochinhphu.vn) Ảnh hưởng với người dân: Lợi: Thu nhập thấp – trung bình có thể hưởng mức miễn giảm tốt hơn, tiền lương tối thiểu tăng giúp cải thiện chi tiêu cơ bản. Bất lợi: Người lao động phải có hiểu biết về thủ tục quyết toán thuế để không bị tính sai. Bảo vệ quyền lợi: Theo dõi bảng thu nhập – thuế năm, đối chiếu với quy định để yêu cầu chỉnh sửa nếu kê khai sai. Loại bỏ độc quyền vàng miếng (Nghị định 232/2025/NĐ-CP, từ 10/10/2025) Xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, mở rộng kinh doanh vàng. (baochinhphu.vn) Ảnh hưởng với người dân: Lợi: Tăng cạnh tranh, nhiều lựa chọn mua bán vàng hơn. Bất lợi: Giao dịch vàng sẽ cần tuân thủ các quy định thanh toán chặt chẽ, giấy tờ rõ ràng, dẫn đến thủ tục phức tạp hơn. Bảo vệ quyền lợi: Khi mua/bán vàng, giữ hóa đơn, biên lai đầy đủ để tránh tranh chấp hoặc phạt vi phạm thuế. 2) Giao thông & Giấy phép – Trật tự, phí, giấy tờ Nghị định 168/2024 (tăng mức phạt giao thông – hiệu lực từ 01/01/2025) Sửa đổi mức phạt vi phạm giao thông: phạt vượt đèn đỏ, đi sai phần đường… tăng mạnh, trừ điểm giấy phép lái xe. (vnexpress.net) Ảnh hưởng với người dân: Lợi: Có tác dụng giảm vi phạm, nâng ý thức, mong giảm tai nạn giao thông. Bất lợi: Mức phạt cao khiến người dân cảm thấy gánh nặng nếu không nắm rõ quy định. Bảo vệ quyền lợi: Luôn giữ biên lai, bằng chứng xử phạt; nếu có sai sót, yêu cầu thông tin bằng văn bản để khiếu nại theo luật. Chuyển đổi tài khoản thu phí – Nghị định 119/2024/NĐ-CP (trước 1/10/2025) Chủ phương tiện bắt buộc chuyển sang tài khoản giao thông kết nối thanh toán điện tử, không còn dùng tài khoản thu phí cũ. (Báo Nhân Dân điện tử) Ảnh hưởng: Lợi: Hệ thống thanh toán sạch, minh bạch qua tài khoản – giảm gian lận. Bất lợi: Người dân phải làm thủ tục chuyển đổi – nếu không chuyển, không thể qua trạm thu phí. Bảo vệ quyền lợi: Làm sớm, giữ biên lai giao dịch; yêu cầu hướng dẫn bằng văn bản từ trung tâm dịch vụ để khiếu nại nếu bị thu sai. Đổi mới Giấy phép lái xe (luật số 36/2024/QH15) Từ 01/3/2025, mẫu GPLX mới có mã QR, thay đổi hạng GPLX từ 01/01/2025. (LuatVietnam) Ảnh hưởng: Lợi: Hợp lệ quốc tế, dễ kiểm tra thông tin. Bất lợi: Thay đổi thủ tục khiến người dân phải đi lại nhiều làm mới, chịu lệ phí và thời gian. Bảo vệ quyền lợi: Khi thi/học lái xe, yêu cầu danh mục tài liệu hướng dẫn cập nhật bằng văn bản từ Sở GTVT. 3) Bảo vệ môi trường & quy định sinh hoạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt (Thông tư 05/2025/TT-BTNMT) Các cơ sở dịch vụ lưu trú, nhà trọ… phải tuân thủ tiêu chuẩn nước thải. (Báo và Phát thanh, Truyền hình Nghệ An) Ảnh hưởng: Lợi: Giảm ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Bất lợi: Chủ dịch vụ phải đầu tư hệ thống xử lý nước, chi phí tăng. Bảo vệ quyền lợi: Nếu bị thu phí môi trường, yêu cầu biên lai chi tiết và căn cứ thông tư để xác định đúng mức phí. 4) Chuyển đổi số, dữ liệu & hành chính công Luật Công nghệ số / Luật về ngành công nghệ số (hiệu lực 01/01/2026 số 71/2025/QH15 ) Xác lập khung pháp luật cho ngành công nghệ số,·định nghĩa tài sản số, AI, dữ liệu… (Vietnam Briefing) Ảnh hưởng: Lợi: Tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế số, cơ hội nghề nghiệp mới. Bất lợi: Người dân phải học công nghệ mới; rủi ro thiếu kiến thức dẫn đến lừa đảo trực tuyến. Bảo vệ quyền lợi: Bảo vệ dữ liệu cá nhân: yêu cầu cơ quan, doanh nghiệp phải công khai chính sách bảo mật theo luật. Chính sách giảm thủ tục hành chính – Quyết tâm cải cách (Nghị Quyết 139/KH-CP) Đặt mục tiêu cắt 30% điều kiện kinh doanh và đơn giản hóa thủ tục trong lãnh vực đất đai, thuế, hải quan, đầu tư… theo Nghị quyết 139/KH-CP. (HanoiTimes) Ảnh hưởng: Lợi: Rút ngắn thời gian nộp hồ sơ, giảm chi phí hành chính. Bất lợi: Trong giai đoạn chuyển tiếp, dễ “hỗn loạn” hồ sơ – dẫn tới việc cán bộ áp dụng không nhất quán. Bảo vệ quyền lợi: Lưu tất cả chứng nhận nộp hồ sơ trực tuyến; khi bị trì hoãn vô lý, gửi khiếu nại theo Luật Khiếu nại 2023. 5) Giáo dục – thi cử & chương trình học Quy định mới về thi tốt nghiệp, dạy thêm – học thêm (Thông tư 24/2024/TT-BGDĐT từ 08/02/2025) Điều chỉnh quy chế thi TN THPT, chính sách dạy thêm/học thêm có hiệu lực năm 2025. (xaydungchinhsach.chinhphu.vn) Ảnh hưởng: Lợi: Quy chế nhất quán, dự báo rõ hơn kỳ thi. Bất lợi: Phụ huynh – học sinh phải thích nghi với thay đổi, chi phí học thêm có thể tăng. Bảo vệ quyền lợi: Yêu cầu nhà trường cung cấp văn bản quy định khi bắt buộc phụ huynh mua dịch vụ học thêm. Dạy học bằng tiếng nước ngoài (Nghị định 222/2025/NĐ-CP từ 25/09/2025) Cho phép một số môn học được giảng dạy bằng tiếng nước ngoài. (Đồng Nai : Cổng thông tin điện tử) Ảnh hưởng: Lợi: Mở rộng cơ hội học tập kỹ năng song ngữ. Bất lợi: Chi phí học tập tăng nếu dịch vụ tư nhân hóa. Bảo vệ quyền lợi: Các cơ sở ngoài công lập phải công khai học phí và quy định; phụ huynh có quyền lựa chọn không tham dự dịch vụ không bắt buộc. 6) Y tế & lao động – hợp đồng điện tử, bảo hiểm Hợp đồng lao động điện tử (Nghị Định số 337/2025/ND-CP) Cho phép sử dụng hợp đồng lao động điện tử từ giữa 2026. (en.baochinhphu.vn) Ảnh hưởng: Lợi: Thuận tiện quản lý, giảm thời gian ký kết. Bất lợi: Yêu cầu về chứng thực điện tử, kiến thức pháp lý mới. Bảo vệ quyền lợi: Giữ bản sao bằng giấy, lưu chứng thư số nếu ký điện tử; khi tranh chấp, dựa vào nguyên tắc pháp lý về hợp đồng điện tử. Bảo hiểm xã hội – thay đổi đóng & hưởng (thông tin thực tế từ nhiều nguồn người dân chia sẻ, chưa có văn bản tập trung được trích) Có ý kiến về mở rộng đóng BHXH bắt buộc cho hộ kinh doanh và chủ DN nhỏ từ 01/07/2025. Tuy chưa có văn bản chính thống trích dẫn, nhưng nếu có, thì ảnh hưởng là tăng chi phí cố định hàng năm. (Reddit) Bảo vệ quyền lợi: Kiểm tra quyền và lợi ích ghi trong bảo hiểm; nếu đóng bắt buộc, yêu cầu biên lai rõ ràng để đảm bảo quyền hưởng trợ cấp. 7) Bình luận tổng quát: Có lợi – Bất lợi Lợi (Tích cực) Tăng quy chuẩn môi trường, an toàn giao thông, bảo vệ người tiêu dùng. Thuế, lương tối thiểu và giáo dục từng bước hướng đến công bằng hơn. Chuyển đổi số làm đơn giản hóa hồ sơ, giảm thời gian nộp giấy tờ. Bất lợi (Thực tế/Quan liêu) Nhiều thủ tục đòi hỏi nhiều vòng kiểm tra giấy tờ, mất thời gian – dễ dẫn đến lợi dụng “trách nhiệm giải trình” để trì hoãn hoặc thu thêm phí dịch vụ của tư vấn kế toán/luật. Mức xử phạt giao thông tăng cao khiến người dân dễ bị phạt ngay cả khi chưa kịp hiểu luật. Chuyển đổi số nhanh nhưng nhiều người già, lao động phổ thông khó tiếp cận – tăng rủi ro bị yêu cầu chứng từ vô lý. 8) Đề xuất các bước để người dân bảo vệ quyền lợi & nhân phẩm (trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam) 1) Tránh đối đầu trực tiếp Để bảo vệ nhân phẩm, tránh bị trấn áp thô bạo bởi công an 2) Yêu cầu văn bản hướng dẫn rõ ràng Khi cán bộ hành chính/thuế/giáo dục yêu cầu “chưa đúng”, hãy yêu cầu ghi bằng văn bản (email / công chức) kèm căn cứ luật/decree cụ thể trước khi sửa hồ sơ. 3) Lưu trữ hồ sơ & biên lai Giữ lại mọi chứng cớ cần thiết để đối chiếu khi có tranh chấp (biên lai, biên bản, hợp đồng, băng ghi âm, tin nhắn trên điện thoại, hình ảnh, chứng nhân ...) 4) Sử dụng dịch vụ công trực tuyến Nộp hồ sơ qua Cổng dịch vụ công Quốc gia, theo dõi tiến triển, giảm tiếp xúc trực tiếp – hạn chế ngẫu hứng trong xử lý. Ưu tiên xử dụng kênh trực tuyến để giảm rủi ro. Tùy nghi phổ biến công khai hay kín đáo hơn trên mạng xã hội. 5) Hiểu rõ quyền khiếu nại & tố cáo Nếu bị gây khó vô lý, lập hồ sơ khiếu nại theo Luật Khiếu nại 2023, nêu rõ yêu cầu, căn cứ pháp lý, thời hạn xử lý. Người dân có quyền khiếu nại tập thể (Điều 10 Luật Khiếu nại), sử dụng báo chí để giám sát (Luật Báo chí 2016), hoặc tòa án hành chính nếu quyền lợi bị xâm phạm. 6) Tham gia cộng đồng, xử dụng AI Tham gia nhóm pháp lý / kế toán / doanh nghiệp nhỏ để cập nhật các thay đổi và kinh nghiệm xử lý. Cần tìm kiếm những người chung quanh đã phải chịu sách nhiễu, đối xử bất công, đòi tiền tham nhũng, để cùng ghi danh khiếu kiện tập thể. Trong một xã hội mà pháp quyền không được thực thi, cần phải kết tụ lại số đông, thì mới mong vấn đề được quan tâm và giải quyết. Cần xử dụng AI (chatGPT, Gemini, Copilot, grok, perplexity, claude,…), trí tuệ nhân tạo để cố vấn về các bước cần làm. Cung cấp càng nhiều chi tiết càng tốt trong câu hỏi. Bàn với người thân, không nên giữ riêng. 7) Bất tuân dân sự Sau khi thẩm định mức độ vi phạm của chính cá nhân, có thể tiến hành một số hình thức bất tuân dân sự, như trì hoãn thời hạn trả tiền phạt, viện lý cớ tương đối xác đáng để tạm thời từ chối không tuân thủ được nghị định, quyết định vì quá hành chánh, lợi dụng bởi CA để moi tiền người dân… Nếu cần chi tiết văn bản cụ thể, độc giả có thể truy cập thuvienphapluat.vn hoặc chinhphu.vn./.
......

Rối như dây mây leo chằng chịt và nỗi lo về ông Tô Lâm

Phạm Đình Bá Hơn một nghìn năm trước, khi vua Lê Đại Hành hỏi chuyện “vận nước”, Thiền sư Pháp Thuận đã ứng khẩu bốn câu kệ nổi tiếng mở đầu bằng hình ảnh “Quốc tộ như đằng lạc”. Ông là một cao tăng đời Tiền Lê, họ Đỗ, được nhà vua tin dùng làm cố vấn, sống đúng vào thời đoạn đầy biến động sau vụ Đinh Tiên Hoàng bị sát hại và chiến tranh với nhà Tống, khi “vận nước” thực sự rối ren như dây mây leo chằng chịt. Trong bối cảnh đó, lời khuyên của Pháp Thuận – “vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh” – là một tuyên ngôn trị quốc: nếu triều đình biết cầm quyền trong tinh thần vô vi, thuận lòng dân, thì mới mong dập tắt được đao binh và mở ra thái bình cho cõi trời Nam. Một nghìn năm sau, vận nước rối như dây may leo chằng chịt: quyền lực tập trung chưa từng có vào ngành công an, khẩu hiệu “kỷ nguyên vươn mình” đi cùng những quyết sách gây lo ngại, và Đại hội XIV đang đến gần theo kiểu “vừa chạy vừa xếp hàng”. Trong bối cảnh đó, cụ Nguyễn Khắc Mai – một trí thức từng ở trong hệ thống – mượn khái niệm “tiền nghiệp – hậu nghiệp” để đặt câu hỏi: con đường mà ông Tô Lâm đang chọn sẽ để lại hậu nghiệp gì cho đất nước, cho Đảng, và cho chính cá nhân ông. Không chỉ là chuyện nhân sự hay các dự án “thế kỷ”, nỗi lo sâu xa nằm ở chỗ quyền lực đang được bảo vệ bằng cách siết chặt mọi tiếng nói phản biện, kể cả của người dân thường. (1)  “Quốc tộ như đằng lạc” trong nhãn quan Nguyễn Khắc Mai Cụ Mai được xem là một trong những tiếng nói trí thức độc lập rất uy tín trong đời sống chính trị – văn hoá Việt Nam đương đại. Trước khi nghỉ hưu, cụ từng nhiều năm làm việc trong hệ thống nhà nước, sau đó sáng lập và điều hành các tổ chức nghiên cứu về “minh triết Việt Nam”, kiên trì kêu gọi đổi mới văn hoá chính trị, tôn trọng xã hội dân sự và đối thoại dân chủ. Ở tuổi ngoài 90, cụ vẫn tiếp tục viết, giảng và góp ý công khai với giới lãnh đạo. Trong bài “Đại hội XIV và hậu nghiệp của Tô Lâm” gây nhiều chú ý gần đây, cụ Mai ghi nhận một mặt tích cực: tầm nhìn “vươn mình” với năm trọng tâm cải cách như đổi tư duy quyền lực, cải cách hành chính, phát triển kinh tế tư nhân và xã hội dân sự, ngoại giao cây tre. Nhưng đồng thời, cụ chỉ rõ những lệch hướng xuất hiện ngay trong năm đầu ông Tô Lâm cầm quyền: địa phương chủ nghĩa quanh Hưng Yên, bản vị công an với những biểu tượng phô trương, phong cách quyết sách duy ý chí, và đặc biệt là thiếu cơ chế tiếp nhận – tôn trọng phản biện xã hội. Theo cụ, nếu không sửa ngay, “hậu nghiệp” ấy sẽ khó trở thành “thiện nghiệp”, vì nó tái tạo mô thức quyền lực cũ: trấn áp thay vì đối thoại, che giấu thay vì minh bạch, nghi ngờ thay vì đồng hành với dân. (1) Ba lớp đàn áp tiếng nói người dân dưới thời Tô Lâm Từ góc nhìn dài hơn, có thể thấy một đường tuyến đàn áp kéo dài ít nhất một thập niên, trong đó vai trò của ông Tô Lâm – từ Bộ trưởng Công an đến Tổng bí thư – là sợi chỉ đỏ nối ba giai đoạn khác nhau. (2) Giai đoạn 1 (2016–2018) gắn với Formosa và các vụ như Nguyễn Văn Đài, Hoàng Đức Bình: Đảng – nhà nước dùng các điều “an ninh quốc gia” và 258/331 để đánh vào luật sư, nhà hoạt động, người ghi hình biểu tình, đặt nền cho mô thức vừa án rất nặng, vừa triệt phá tổ chức. Giai đoạn 2 (2019–2023) siết báo chí độc lập và xã hội dân sự: các án 117/331 với Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn cho thấy quyền “nói và viết” bị hình sự hóa trên diện rộng, với khung án 9–15 năm cho hoạt động nghề nghiệp. Giai đoạn 3 (2024 đến sát Đại hội XIV) đánh dấu bước trượt mới: theo Human Rights Watch, từ 2018 đến 2/2025 đã có ít nhất 124 người bị kết án nặng dưới Điều 331, và phạm vi áp dụng luật này mở rộng từ giới bất đồng chính kiến sang “người dân bình thường” – những người chỉ lên mạng than phiền tham nhũng, đất đai, công an đánh người. Trường hợp bà Hoàng Thị Hồng Thái – một phụ nữ buôn bán nhỏ, viết Facebook phê phán bất công – bị bắt theo Điều 117 đầu 2026 là một “án điểm” cho cách quyền lực đối xử với tiếng nói từ đáy xã hội. (3) Như vậy, ngay khi khẩu hiệu “vươn mình” được nêu lên, mô hình đàn áp thực tế lại cho thấy một xu thế ngược: hạ thấp ngưỡng chịu đựng xuống với cả người dân thường, và dùng pháp luật để “căng lưới” khắp không gian số. Đây là “tiền nghiệp” của ông Tô Lâm về việc người dân góp ý cho việc chung. Khi tiếng chuông cụ Mai cũng bị dập tắt Trong bức tranh đó, số phận tiếng nói của cụ Mai trở thành một biểu tượng đặc biệt. Sau bài viết góp ý “hậu nghiệp Tô Lâm”, công an nhiều cấp đã đến nhà cụ – một người gần 90 tuổi – “làm việc”, yêu cầu cụ gỡ bài, và gây áp lực đến mức cụ phải nhờ các trang mạng giúp gỡ để “làm yên lòng cơ quan công quyền”. Ở một cực khác là bà Hoàng Thị Hồng Thái, bị khởi tố – bắt giam vì những status Facebook “dân dã” nói về bất công, tham nhũng, nhân quyền, từng được cộng đồng mạng xem như tiếng nói chân chất của một người mẹ đơn thân. Ở giữa là những nhà báo, luật sư, blogger bị án 10–15 năm tù chỉ vì tổ chức hội độc lập hay xuất bản sách chính trị. Đặt cạnh nhau, ba kiểu tiếng nói – trí thức già ôn hoà, nhà hoạt động – nhà báo, và người dân thường – đều bị coi như “vấn đề an ninh” thay vì “đối tác đối thoại”, đúng như HRW mô tả: Điều 331 và 117 trở thành “công cụ tiện tay” để trừng phạt mọi ai dám công khai nói về tham nhũng, sai phạm, hay yêu cầu chính quyền giải trình. Điều đó khiến hình ảnh “quốc tộ như đằng lạc” của Pháp Thuận, và khái niệm “hậu nghiệp” của cụ Mai, vang lên như một lời cảnh tỉnh kép: rối rắm không chỉ nằm ở kinh tế, nhân sự, mà nằm ngay trong cách quyền lực đối xử với sự thật và người nói ra sự thật. Hậu nghiệp được quyết định bởi cách đối xử với sự thật Nếu “tiền nghiệp” giải thích vì sao ông Tô Lâm lên được đến đỉnh quyền lực, thì “hậu nghiệp” sẽ được quyết định bởi cách ông và bộ máy dưới quyền đối xử với sự thật, với phản biện, và với người dân thường. Những số liệu của các tổ chức nhân quyền cho thấy đàn áp đã vượt ra ngoài phạm vi “đối lập chính trị” để chạm tới người dân bình thường – từ cụ già viết bài góp ý đến một người phụ nữ buôn bán lên Facebook than phiền bất công. Trong bối cảnh đó, lời kêu gọi của cụ Mai về minh bạch, tham vấn, tôn trọng xã hội dân sự không chỉ là một đoạn văn chính luận, mà là lời nhắc rằng không thể xây một “kỷ nguyên vươn mình” trên nền sợ hãi và im lặng. Phạm Đình Bá ……………… Nguồn: 1.       Nguyễn Khắc Mai. Tạp Chí Thế Kỷ Mới – Đại hội XIV và Hậu Nghiệp của Tô Lâm 09/12/2025  https://thekymoi.media/nguyen-khac-mai-dai-hoi-xiv-va-hau-nghiep-cua-to-lam-21870/. 2.       Quynh-Vi Tran. The Vietnamese – A Decade of Repression: How Việt Nam Jailed Dissidents, Journalists, and Rights Defenders 08/01/2026 https://www.thevietnamese.org/2026/01/a-decade-of-repression-how-viet-nam-jailed-dissidents-journalists-and-rights-defenders/. 3.       VNTB. HRW – Việt Nam: Gia tăng bắt bớ trước kỳ Đại hội Đảng 18/01/2025 https://vietnamthoibao.org/hrw-viet-nam-gia-tang-bat-bo-truoc-ky-dai-hoi-dang/.  
......

Từ Tố Hữu đến Anh Tú: Đảng CSVN và những “sản phẩm” xu nịnh thượng thừa

Ca khúc “Thưa Đảng” ra đời nhân dịp chào mừng Đại hội Đảng lần thứ 14 đang gây xôn xao dư luận, không chỉ vì yếu tố âm nhạc mà bởi nó được xem như minh chứng mới cho nghệ thuật nịnh hót phục vụ tuyên truyền. Từ Tố Hữu của thế hệ trước đến Anh Tú của hiện tại, nhiều người cho rằng Đảng CSVN vẫn liên tục sản sinh ra những hình mẫu nghệ sĩ lấy xu nịnh làm lý tưởng sáng tạo. Sự việc ca sĩ Anh Tú công khai ca tụng Đảng bằng ca khúc “Thưa Đảng” lan truyền mạnh trên mạng xã hội. Trong mắt không ít cư dân mạng, đây không đơn thuần là hành vi của một nghệ sĩ cá nhân, mà là sự xuất hiện của một “tượng đài nịnh bợ” thế hệ mới. Lời ca ngọt lịm, cách xưng hô với Đảng như đứa trẻ thưa gửi mẹ hiền khiến nhiều người đánh giá là trơ trẽn đến mức không còn biết ngượng. Theo những phân tích lan truyền, bài hát không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là một công cụ tuyên truyền tinh vi, nơi người ca sĩ trở thành mắt xích trong guồng máy vận hành niềm tin lẫn nỗi sợ. Nhiều ý kiến lo ngại rằng từ năm 2026, khi “Thưa Đảng” được phát đều đặn trên loa phường, trong trường học hay công sở, nó sẽ góp phần tạo ra một thứ “đồng phục tư duy”. Từ học sinh đến cán bộ, mọi người buộc phải nghe, phải hát theo, phải thưa gửi. Khi đó, việc ca ngợi Đảng không còn là lựa chọn hay tự do biểu đạt, mà biến thành một nghi lễ bắt buộc, lặp đi lặp lại để nhắc nhở rằng quyền lực tuyệt đối nằm trong tay giới cầm quyền, còn người dân chỉ là đối tượng bị quản lý. Mạng xã hội cũng cảnh báo về hệ quả lâu dài: sự bào mòn tư duy phản biện, quá trình “tẩy trắng” nhận thức của thế hệ trẻ, khiến họ học cách chấp nhận quyền lực mà không đặt câu hỏi. Những giai điệu tươi sáng, ca từ ngọt ngào vô tình (hoặc hữu ý) che giấu thông điệp kiểm soát: nịnh bợ được nâng thành chuẩn mực đạo đức, ca tụng trở thành nghĩa vụ, và cả xã hội dần quen với im lặng cùng thỏa hiệp.  
......

Hiến kế cho anh Tô Lâm…

Dương Tự Lập Trước hết, xin được chia buồn sâu sắc cùng vợ chồng anh Tô Lâm qua biến cố long trời lở đất: Vợ chồng người bạn “chí cốt, chí kim” của anh – Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro và phu nhân Cilia Flores – vừa bị bọn “đế quốc Mỹ hung ác” đột nhập thẳng vào tư gia giữa thủ đô Caracas, bắt đi gọn ghẽ vào rạng sáng ngày 3-1-2026. Một hành động vừa trắng trợn, vừa thiếu tôn trọng tình hữu nghị cách mạng kiểu mẫu mà ta vẫn thường tự hào đem khoe khắp năm châu. Tôi tin anh, với trí nhớ sắc bén của một nhà lãnh đạo an ninh lừng danh, hẳn chưa quên vụ Nguyễn Văn Trỗi bị bắt vào một buổi tối tháng 5 năm 1964 tại cầu Công Lý, Sài Gòn, khi đang “thực thi nhiệm vụ thiêng liêng” là đặt mìn ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara. Chỉ tiếc thay, nếu quả mìn hôm ấy nổ thật thì chưa chắc vị Bộ trưởng Mỹ mất sợi lông chân nào, nhưng dân đen vô tội qua cầu thì có lẽ đã “lên đường” đủ cả. Dẫu sao, xét theo luật pháp quốc tế “tư bổn thối nát”, hành vi ấy vẫn bị xếp vào loại… khủng bố – một thứ tội danh mà xưa nay, hình như chẳng có quốc gia văn minh nào dám công khai nhận là của mình. Ngày ấy, đất nước Venezuela anh em nghe tin dữ, đã nghĩa hiệp ra tay bắt ngay một tên “giặc Mỹ tàn bạo” giữa lòng Caracas để đòi đổi mạng cho “người hùng” Trỗi. Một nghĩa cử thật cảm động, rất đúng tinh thần quốc tế vô sản. Chỉ tiếc là thương vụ đổi người không thành, và ít ngày sau, Trỗi vẫn bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa đem ra xử bắn, để lại bao tiếc thương và thơ phú. Nhà thơ “nhớn” Lành – tên cúng cơm là Nguyễn Kim Thành – lập tức có bài “Hãy nhớ lấy lời tôi!”, khắc sâu vào lòng người những câu bất hủ: Anh đã chết, anh Trỗi ơi, có biết Máu kêu máu, ở trên đời, tha thiết! Du kích quân Ca-ra-cát đã vì anh Bắt một tên giặc Mỹ giữa đô thành. (Tháng 10/1964) Sáu mươi năm sau, đọc lại, vẫn thấy hào hùng như mới hôm qua! Anh Tô Lâm ạ, ngót chục năm trước, anh từng khiến cả châu Âu phải ngả mũ thán phục khi cho đàn em sang tận nước Đức văn minh, bắt gọn Trịnh Xuân Thanh đưa về nước an toàn, bất chấp luật pháp quốc tế và sự bối rối của mật vụ Đức. Một chiến công để đời, ghi danh vào giáo trình phản gián toàn cầu. Bởi vậy, lần này mà thiếu anh, e rằng không ai gánh nổi trọng trách lịch sử. Nếu anh còn nhớ chút ơn xưa nghĩa cũ của “du kích quân Venezuela” hơn 60 năm trước, thì lúc này đây, thời điểm này đây, chỉ có anh – và duy nhất anh – mới đủ tầm, đủ tâm, đủ… nghiệp vụ để “trả nghĩa”. Cách làm thì cũng không có gì mới mẻ. Anh chỉ cần cho đàn em an ninh tinh nhuệ rình sẵn trước cổng Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội. “Thằng Mỹ ác ôn” nào sơ hở bước ra ngoài, thì lập tức ập vào, gô cổ, khóa tay, xích chân – xích chặt, chắc chắn, chuyên nghiệp như từng xích “Ngân 98” – rồi đưa thẳng về đại bản doanh. Sau đó, ta ung dung phát giá, thương lượng sòng phẳng với bọn Mỹ tham tàn để đổi mạng cho Tổng thống Nicolas Maduro. Một cuộc trao đổi đúng chuẩn “nhân đạo cách mạng”. Nếu việc thành, thì Venezuela sẽ mang ơn Việt Nam đến muôn đời, nhân dân thế giới lại có thêm một câu chuyện cảm động về tình đoàn kết chống đế quốc. Còn anh, anh chẳng mất gì cả. Trái lại, tên tuổi anh sẽ vang vọng bốn biển, sự nghiệp anh sẽ bước sang trang mới huy hoàng, để rồi dân tộc ta lại có dịp hô vang khẩu hiệu quen thuộc: “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”! Ý nghĩ nhỏ nhoi, thô thiển của một kẻ thảo dân nơi đầu đường xó chợ, xin anh rộng lòng đừng bỏ ngoài tai, mà hãy giúp cho dân ta nở mặt nở mày…  
......

Dân chủ tập trung

Dương Quốc Chính Hôm trước có bạn hỏi mình về quy trình bầu bí thư, tổng bí thư. Chuyện này khá là phổ biến, vì đảng ta lãnh đạo tuyệt đối. Tuy nhiên, mình cho rằng không phải đảng viên nào cũng hiểu thế nào là dân chủ tập trung. Dân thiện lành lại càng không hiểu. Nếu hiểu rõ vấn đề này thì sẽ hiểu tại sao hội nghị TƯ 15 này nó lại gay cấn và lắm tin giả như vậy. Nhiều người thắc mắc không rõ thế nào là DC tập trung. Thì đợt đại hội đảng các cấp chính là ví dụ kinh điển nhất về DCTT. DC tập trung tức là dân chủ cho 1 nhóm người, đại khái là “con vật nào cũng bình đẳng, nhưng có 1 số con được bình đẳng hơn”. Nền dân chủ theo chuẩn mực phương Tây, kể cả dân chủ đại diện hay trực tiếp, là phải từ dưới lên. Tức là lãnh đạo đảng được bầu bởi các đảng viên sau quá trình tự vận động tranh cử công khai. Ứng viên của đảng sẽ được đảng đề cử cho dân bầu trực tiếp hay gián tiếp, tuỳ mỗi nước. Còn với thể chế CS thì nhóm chóp bu của mỗi cấp uỷ sẽ tự lựa chọn lãnh đạo cho khoá sau, trong đó tiếng nói của bí thư là cao hơn cả, danh sách được cấp trên lựa chọn này sẽ được đưa ra đại hội để các đại biểu bỏ phiếu. Gọi là danh sách chứ chức bí thư hay TBT thì thường chỉ có 1 UCV duy nhất mà thôi. Về lý thuyết thì cũng bỏ phiếu như Tây, nhưng thực tế thì rất hiếm khi lựa chọn của nhóm chóp bu bị đại hội phủ nhận. Sự lệch pha, nếu có, thường chỉ ở các vị trí không mấy quan trọng. Thường là được cấp trên bật đèn xanh cho anh em bỏ phiếu chống! Các đồng chí trung uỷ chính thức sẽ bầu ra các UV BCT và thành viên Ban bí thư, quy trình y chang như vậy. Tức là BCT khoá hiện tại sẽ lên danh sách các ứng viên khoá sau để cho anh em trung uỷ mới bỏ phiếu. Kết quả cũng như vậy, gần như khớp hoàn toàn với tin đồn, chắc cũng do các đồng chí chủ đồng tung tin ra ngoài thôi chứ bố thằng KOL nào tự nhiên đoán trúng được danh sách 19 người. Kết quả khớp có nghĩa là các trung uỷ có tính kỷ luật cao, hoàn toàn đồng thuận với lựa chọn của BCT khoá trước! Hay nói cách khác là các anh em mang tiếng đi ĐH đảng cho nó oai chứ lá phiếu hầu như không có ý nghĩa gì. Đấy là chưa kể việc kiểm phiếu cũng do lãnh đạo cấp uỷ kiểm soát. Để kiểm soát việc vận động tranh cử lậu, toàn bộ các đại biểu đã được sắp xếp chỗ ăn ở tập trung, kể cả đoàn HN. Điều đó sẽ khiến cho các đoàn hầu như không có cơ hội giao lưu, bàn tán, vận động hành lang, tìm cơ hội lật kèo bằng lá phiếu mà trên lý thuyết là hoàn toàn có thể xảy ra. Nhưng thực tế lật kèo là rất hiếm khi xảy ra. Ở Mỹ là do tiền lệ bất thành văn (có bang thành văn), còn ở VN mà bỏ phiếu lệch chỉ đạo là khá rủi ro, nếu bị phát hiện. Bởi có đại biểu nào dám chắc là lá phiếu của mình có bị cấp trên giám sát hay không? Do bộ phận kiểm phiếu không phải độc lập. Khoá 11 đã có trường hợp đồng chí X đã lật được kèo khi TBT chấp nhận cho các trung uỷ bỏ phiếu về việc kỷ luật đồng chí X, trong khi BCT đã xác định là sẽ kỷ luật. Đối với đảng, đó là 1 sự suy thoái, nền dân chủ tập trung đã bị lung lay, có triệu chứng thành dân chủ đại trà kiểu TB giãy chết. TBT NPT đã phải rớt nước mắt khi nói về “1 trường hợp” mà CTN TTS gọi là “đồng chí X”! Không ai dám nói thẳng tên. Từ kinh nghiệm đó, TBT đã siết chặt dân chủ tập trung, để chuyện lật kèo không thể xảy ra tại ĐH 12. Nhưng thực tế ĐH 12 cũng diễn ra vô cùng kịch tính đến phút cuối, vì người ta vẫn hi vọng vẫn có lật kèo khi các trung uỷ bỏ phiếu xem đồng chí X có nghỉ hay không. Cuối cùng là đồng chí X tự xin rút, để giữ kỷ luật đảng (không được BCT giới thiệu thì không được ứng cử). Kết quả bầu cử ở ĐH đảng trên lý thuyết mới chỉ để xác định các vị trí trong đảng. Còn các chức danh trong chính quyền (các bộ...) hay các cánh tay nối dài của đảng, thì vẫn phải thông qua các cuộc bầu cử khác, như bầu Quốc hội. Nhưng thực tế thì mâm bát cũng đã sẵn sàng rồi. Anh nào thủ tướng, bộ trưởng, thậm chỉ cả chủ tịch QH đã được xác định cơ bản bởi hội nghị TƯ 15 sắp tới. Nên kết quả ở HN TƯ 15 này thực ra còn quan trọng hơn cả ĐH đảng diễn ra sau đó. Bầu QH sẽ là 1 màn trình diễn khổng lồ nhất khi nhân dân cả nước nô nức đi bầu cử hộ nhau để chọn lấy vị đại biểu mà mình chẳng biết là ai! Sau đó đại biểu QH bầu ra UB thường vụ QH (là 1 dạng BCT của QH) rồi mới bầu CTN, TTg, phê duyệt các bộ trưởng... Nói tóm lại, 18 đồng chí UV BCT đứng đầu là TBT, mới được bầu, sẽ là những người nắm quyền sinh sát, vận mệnh QG, đường lối phát triển. Ở các tỉnh thì có các vị trong thường vụ tỉnh uỷ (cũng tương tự BCT cấp tỉnh) đứng đầu bởi bí thư, nắm quyền sinh sát ở tỉnh. Việc bầu bán ở các kỳ đại hội hay HĐND, QH chỉ là để cấp uỷ xem có cấp dưới nào có mầm mống suy thoái tư tưởng hay không. Dân chủ là phải tập trung như vậy, dân chủ mà đại trà là dân chủ của bọn phản động. Chính vì thế, TBT NPT mới có câu “...trúng cử với số phiếu rất tập trung” chứ không nói là “số phiếu rất cao”! Đỉnh cao nhất của DCTT là bỏ phiếu bằng cách giơ thẻ đảng. Bố đồng chí nào dám cưỡng! Vì đó không hề là bỏ phiếu kín, đồng ý hay không là lộ ngay. Chính vì kiểu dân chủ tập trung này mà HĐND TP HN vừa mới bầu CT UBND nhưng sau 10 ngày chính họ lại dễ dàng bỏ phiếu miễn nhiệm vị CT đó! Là do cấp ủy định hướng hết đó./.  
......

Chuyện Tô Lâm và lũ lụt miền Trung

Lê Bá Vận   Nguyễn Phú Trọng qua đời ngày 19 tháng 7, 2024. Bộ trưởng Công an Tô Lâm (sinh 1957), chủ tịch nước (5-10/2024) tạm đảm nhiệm thay thé, rồi chính thức được bầu Tổng bí thư (TBT) ngày 3 tháng 8, đến nay đã được trên một năm.   Truyên thông dòng chính nhà nước ca ngợi Tô Lâm là vị TBT có viễn kiến nhất, quyết đoán nhanh cải cách, đổi mới, hội nhập đươc toàn đảng, toàn dân hết lòng ủng hộ.   Tuy nhiên TBT Tô Lâm thuộc dòng công an gốc nên hành xử trong cai trị khó thoát phong cách công an điều tra, theo dõi, khủng bố, bắt bớ. Là người thu tóm được quyền lực, ông đã bóp chết những tranh đấu về nhân quyền.   Để hiểu rõ con người của ông, tâm tư, hoài bão, ta xét việc ông làm, bỏ qua lời ông nói.   Chung quy có 4 sự kiện nổi bật: 3 hảo sự, là việc tốt lành và 1 xú sự, là tai ương.   *1) Hảo Sự Thứ Nhất – Kỷ Nguyên Vươn Mình Của Dân Tộc (KNVMCDT hoặc KNVM). Là khẩu hiệu chính trị dấu ấn của Thời đại Tô Lâm.   TBT Tô Lâm giải thích, Dec 31, 2024 - KNVM là kỷ nguyên phát triển bứt phá, tăng tốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xã hội xã hội chủ nghĩa.   Nghe bùi tai song khổ nỗi đã do Đảng lãnh đạo thì không đời nào có dân chủ công bằng. Người dân thấm đòn sau 80 năm trải nghiệm Cộng sản đã quá dư biết.   Để xây dựng thành công KNVM, TBT Tô Lâm đề ra bảy định hướng chiến lược, gồm *Cải tiến sự lãnh đạo, *Tăng cường tính Đảng, *Tinh gọn tổ chức, *Phát triển cán bộ, *Chống lãng phí, *Sử dụng kỷ thuật số, *Kinh tế xây dựng mô hình cnxh giàu mạnh.   Thao tác 7 chiến lược này Tô Lâm đã loại bỏ được các đối thủ chính trị và thay thế với người phe phái của mình, tăng nhân số và quyền lực.   Song ‘Chống tham nhũng’, nay đổi hướng sang ‘Chống lãng phí’ mới là tuyệt chiêu. Lãng phí là việc sử dụng nguồn lực không hiệu quả do kém điều hành, yếu quản lý trong khi Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ để trục lợi, làm giàu.    Mặc lòng, cán bộ tham nhũng là những người kiên trì bảo vệ chế độ, là rường cột của Đảng. Tham nhũng mạnh thì Đảng vững, yếu thì Đảng mất, số phận ràng buộc.   *2) Hảo Sự Thứ Hai – TBT Tô Lâm công du nước ngoài. Từ tháng 8/2024 nhậm chức đến 28/10/2025, TBT Tô Lâm đã công du kỷ lục 20 quốc gia trên thế giới: Mông Cổ, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hoa Kỳ và ĐHĐ LHQ, Cuba, Pháp (Chính phủ), Pháp (Hội nghị Pháp ngữ thứ 19 – 10/2024), Indonesia, Singapore, Cộng Hòa Séc, Hungary, Nga, Azerbaijan, Kazakhstan, Belarus, CHDCND Triều Tiên, Phần Lan, Ireland, Nga (dự lễ duyệt binh), Ban Thư ký ASEAN, Hàn Quốc, Vương Quốc Anh, và sẽ thăm Lào (ngày 1 đến 2/12/ 2025). Trước đó: Ân Độ 4/2023, Iran 5/2023.   Chứng tỏ tân TBT rất năng động, ham học: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.   Trùng hợp sở thích của ông, rong chơi, ăn uống trong câu chuyện miếng bò dát vàng.   *3) Hảo Sự Thứ Ba – Tô Lâm chủ tọa 2 lễ diễu binh lớn trong năm 2025.   Ngày 30.4/2025 diễu binh, diễu hành tại TPHCM kỷ niệm 50 năm chống Mỹ cứu nước kinh tế kiệt quệ, xóa tên Sài Gòn, thu tóm của cải, giải phóng và Bắc thuộc miền Nam.   Ngày 2/9/2025 diễu binh, diễu hành ở Hà Nội kỷ niệm Quốc khánh thứ 80. Tham dự diễu binh có 4 quốc gia bạn. Tổng chi phí cho lễ kỷ niệm vượt quá 11.000 tỷ đồng.   *4) Thứ tư: Xú Sự – Lũ lụt miền Trung và Tô Lâm.   Tuy Tô Lâm làm tốt các hảo sự song lúc gian nan hoạn nạn: “Tri nhân tri diện bất tri tâm” Miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam vừa trải qua trận lũ lịch sử, khiến ít nhất 108 người chết và mất tích, tính đến 7 giờ ngày 27/11/2025.   Mưa lũ đã khiến hơn 400 ngôi nhà bị sập đổ, 2.066 nhà bị hư hỏng, 272.666 nhà bị ngập. Theo tính toán của chính quyền Việt Nam tới sáng ngày 26/11, thiệt hại kinh tế sơ bộ là 14.352 tỷ đồng. Đường bộ, đường sắt qua miền Trung bị sạt lở, tê liệt. 79.908 ha lúa và hoa màu cùng 100.014 ha cây trồng lâu năm bị thiệt hại, hơn 3,2 triệu con gia súc, gia cầm bị chết hoặc cuốn trôi, và 1.157 ha thủy sản bị ảnh hưởng. Thiệt hại kinh tế này sẽ có ảnh hưởng sâu dài đến nền nông nghiệp và kinh tế địa phương. (Cả nước từ đầu năm 2025 đến nay 11/2025, cả miền Bắc: Lũ lụt khiến 409 người chết, thiệt hại hơn 85.000 tỷ đồng). Trong trận lũ lụt này, công tác cứu hộ được đánh giá là chậm trễ.   Một trong những vấn đề khiến người dân bức xúc là việc thủy điện xả lũ, đặc biệt là thủy điện Sông Ba Hạ (tỉnh Phú Yên) - mức xả lũ đạt 16.000 m3/giây vào ngày 19/11 chỉ trong khoảng 1 tiếng đồng hồ, nước dâng rất nhanh khiến nhiều hộ dân không kịp trở tay.   Điều tấu xảo, KNVMCDT kích hoạt lũ lụt cực đoan [sic] vươn mình theo.   ‘Đời cha ăn mặn, đời con khát nước’, các đời trước ra sức phá hoại tài nguyên quốc gia đến cạn kiệt – phần lớn vì tư lợi – đến đời Tô Lâm hứng trọn hậu quả nnân tai. Nay thì cả nước kỳ vọng vào TBT Tô Lâm quan tâm đến nhân dân hoạn nạn và đích thân giải quyết hạn chế các tác hại của lũ lụt, lũ quét.   Tô Lâm sốt sắng thì cấp dưới buộc phải làm việc hết mình chống lụt.   Tô Lâm đang mãi lơ là vô cảm thì ai dám năng nổ, vượt trội?   Rốt cuộc trách nhiệm chống lụt giao địa phương, dân làm chủ, tự lo, tự cứu.   Trong các tháng 10 và 11/2025 lũ lụt gây thiệt hại nặng nhất ở 4 tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Khánh Hòa. Nhất trí là do thiên tai, thường xảy. Song đó chỉ là gần một nửa sư thật. Hơn nửa sự thật kia là do Nhân tai gây lũ quét khủng khiếp, sạt lở đất, đá… Từ bao nhiêu năm là hậu quả nạn phá rừng vô tội vạ, xây các đập thủy điện tư lợi tràn lan, dưới tiêu chuẩn, điều hành kém cõi, xả lũ vô trách nhiệm, không tính toán kỹ tác hại.   Phải chi lúc đó TBT Tô Lâm cầm đầu đoàn công tác cao cấp chóp bu Trung ương xuất phát từ Hà Nội, bõ công trước tiên ghé thăm các tỉnh bị lũ quét, chia sẻ hoạn nạn với người dân, trên đường đi An Giang ngày 20/11, làm việc với bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Hải quân, Tỉnh ủy An Giang, khấn vái trước tượng đài chủ tịch Hồ Chí Minh, nghĩa trang liệt sĩ. Đoạn đi tiếp ra thăm đảo Phú Quốc trồng cây vú sữa cổ thụ lưu niệm tại bộ Tư lệnh Hải quân (Nov 20,2025 baoangiang.com.vn). Trồng cây thì để họ làm cũng được. Song ước gì TBT Tô Lâm biết nghĩ đến dân, đem trồng các cây ấy ở núi rừng các tỉnh miền Trung lũ lụt!   TBT Tô Lâm còn bao nhiêu việc trọng đại phải làm: quảng bá chiến lược KNVM, công du nước ngoài, tổ chức diễu binh, diễu hành 30/4, 2/9... kìm hãm đối thủ nội bộ giành quyền. Bận tâm chuyên nhỏ thì làm hư đại sự. Lũ lụt khoán trắng địa phương lo liệu.   Đảng súng có, quyền có, lầm lỗi không, trách nhiệm không. Cần dân yêu ư? sợ là đủ.   Thử vươn mình nhìn qua Thái Lan, cùng lúc cũng có lũ lụt. Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul công khai xin lỗi nhân dân Thái, nhận trách nhiệm bồi thường, không phải là “hỗ trợ”. Bên ta dân lên tiếng và nói ra sự thật thì bịt miệng dân, bắt dân xin lỗi - đừng mơ nhà nước làm điều này - bắt phạt hoặc bỏ tù.   Sự khác biệt là chính phủ, thủ tướng họ do dân bầu ra. Ta thì súng bầu, súng cử.   Lê Bá Vận.  
......

Ông trời nổi giận

Trần Mai Trung Trong năm 2025, đời sống người dân Việt Nam có nhiều thay đổi. Bắt đầu là Nghị định 168 về giao thông của nhà cầm quyền được ban hành ngày 26-12-2024 và được áp dụng trên đường phố ngày 1-1-2025, tức là chỉ sau 5 ngày. Ở các nước Âu Mỹ, tiền phạt giao thông trung bình bằng tiền lương 1 ngày của người dân. Tại Việt Nam, theo luật 168 thì tiền phạt giao thông trung bình bằng tiền lương 15 ngày của người dân. Quá cao. Nhiều người cho rằng luật 168 không phải để bảo vệ giao thông mà là để nhà nước lấy tiền của nhân dân. Tháng 5-2025, nhà cầm quyền cho tiến hành kiểm tra hàng giả, bắt buộc các hàng quán nhỏ lẻ phải có hóa đơn điện tử từ ngày 1-6-2025, các tiểu thương phải đóng thuế theo doanh thu vào đầu năm 2026. Hàng giả đã có ở Việt Nam mấy chục năm qua, đám quản lý thị trường và trật tự đô thị có lãnh lương nhưng không làm việc để hàng giả tràn lan khắp nơi. Nhiều hàng giả được sản xuất ở nước lạ rồi vào Việt Nam qua đường biên giới phía Bắc, đám quản lý thị trường và trật tự đô thị nên được gởi đi kiểm tra hàng giả ở biên giới tốt hơn là đợi người dân mua hàng về rồi bị kiểm tra mất hàng và mất tiền. Ở các nước Âu Mỹ, một số người lớn tuổi vẫn chưa quen với các nhu liệu điện toán, họ vẫn khai thuế trên giấy. Chính phủ khuyến khích chứ không bắt buộc mọi người phải khai hồ sơ điện tử và gởi thẳng cho sở thuế. Chính phủ phải viết ra nhu liệu đọc các bản khai trên giấy để cập nhật vào hệ thống chung. Tại Việt Nam thì khác, chính phủ giành phần tiện lợi cho họ và đẩy các rắc rối khai báo về phía người dân. Tháng 7-2025, nhà cầm quyền ra Chỉ thị 20 cấm xe máy xăng đi vào Hà Nội từ tháng 7-2026, người lao động làm việc trong Hà Nội bị bế tắc. Xe máy xăng có thể mua với giá vài triệu đồng nhưng xe máy điện thường có giá 15 triệu đồng trở lên. Với cán bộ thì đó là số tiền nhỏ nhưng với nhân dân lao động thì phải làm việc cả năm mới để dành được. Cán bộ ở nhà riêng nên xạc điện dể dàng, người lao động thường ở nhà thuê đông người nên việc xạc điện xe máy cũng phức tạp. Đảng cộng sản độc quyền cai trị mấy chục năm, tự cho là ông vua ở thế kỷ 21, ra chỉ thị là người dân phải làm theo, không cần biết nó xa rời thực tế và gây khổ sở cho người dân như thế nào. Trịnh Bá Phương sinh năm 1985 trong một gia đình nông dân ở Dương Nội, ngoại ô Hà Nội. Ông lớn lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa và chưa từng ra nước ngoài, ông là "nhân dân" chính hiệu. Năm 2008, Phương 23 tuổi, gia đình Phương và nhiều nông dân khác bị nhà cầm quyền cưỡng chế thu hồi đất. Phương cùng nhiều người phản đối mức đền bù quá thấp nhưng không thành công. Tháng 1-2020, 3.000 công an nhân dân dùng súng đạn tấn công nhân dân xã Đồng Tâm ở ngoại ô Hà Nội, làm cho 1 nông dân và 3 công an bị chết. Phương đã chia sẻ các thông tin về cuộc tấn công tồi tệ này. Tháng 6-2020, Phương bị nhà cầm quyền bắt giam vì chia sẻ các thông tin đó. Bị giam đến tháng 12-2021 thì bị tòa án của đảng cộng sản kết án 10 năm tù. Ngày 27-9-2025, nhà cầm quyền đưa Phương ra tòa án một lần nữa vì họ tìm thấy trong hành lý một tờ giấy cở A4 (21x30 cm) có dòng chữ "đả đảo cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền". Tòa án cộng sản kết án Phương thêm 11 năm tù. Kết án 11 năm tù vì dòng chữ đả đảo trên một tờ giấy để trong hành lý!!! Bạn có tin được không? Mọi người lắc đầu ngao ngán cho cái tòa án xã hội chủ nghĩa. Có thể nói luật pháp thời cộng sản tàn ác hơn luật pháp thời thực dân. Nhân dân oán thán và ông trời nổi giận. Hai ngày sau, 29-9-2025, bão số 10 Bualoi thổi vào Nghệ An làm cho nhiều nơi ở miền Bắc bị ngập lụt và hơn 50 người chết. Hà Nội cũng bị ngập nước, nhiều nơi trong thành phố bị ngập 2 ngày, có nơi bị ngập đến 5 ngày. Vài ngày sau, ông trời vẫn còn giận, đang lúc Trung ương đảng cộng sản họp lần 13, ngày 7 tháng 10 bão số 11 Matmo tràn vào Bắc phần, Hà Nội bị ngập thêm một lần nữa, có nơi bị ngập tới 1 mét. Tại Thái Nguyên có 200.000 ngôi nhà bị ngập. Chưa ngừng ở đó, bão số 12 Fengshen thổi vào Huế và Hội An vào cuối tháng 10. Trong tuần lễ từ 26-10 đến 4-11-2025 do mưa lớn và các đập thủy điện xả lũ, Huế và Hội An bị ngập đi ngập lại 3 lần, nhiều nơi bị ngập từ 0,5 tới 1 mét, 100.000 căn nhà bị ngập nước, Đại nội Huế cũng bị ngập. Ngày 17 tháng 11 do mưa nhỏ và các đập thủy điện xả lũ, Huế bị ngập lần thứ 4. Cùng ngày 17-11-2025, do có mưa và các đập thủy điện xả lũ, mực nước sông Cái lên cao, phía tây Nha Trang bị ngập hơn 0,5 mét. Trong trận lũ lụt này người dân phía tây Nha Trang phải sống với nước ngập 4 ngày. Trong lúc đó, tình hình ở Phú Yên thê thảm hơn, lý do là các đập thủy điện trên sông Ba xả nhiều nước hơn. Tối 19 tháng 11 tại xã Hòa Thịnh, mực nước dâng nhanh tới nóc nhà chỉ trong vài giờ, người dân không kịp chạy, chỉ kịp leo lên mái nhà và nhiều người ngồi đó mấy ngày mà không được cứu giúp. Nhớ lại những buổi lễ "hoành tráng" A50 đánh chiếm Sài Gòn với xe tăng sản xuất ở Liên Xô, Trung Quốc, A80 cướp Hà Nội từ chính phủ Trần Trọng Kim (khi đó thực dân Pháp đã mất quyền kiểm soát Việt Nam hơn 5 tháng, vua nước Nhật đã tuyên bố đầu hàng Mỹ và đồng minh vào ngày 15-8-1945), thì thấy trực thăng bay đầy trời. Nhưng trong lũ lụt miền Trung, người dân ngồi trên mái nhà mấy ngày không thấy trực thăng đến cứu ! Theo nguồn tin chính thức của nhà nước thì Phú Yên có hơn 100 người chết. Nhưng theo các binh sĩ đến vùng lũ lụt thì có hàng ngàn người chết. Có những hình ảnh cho thấy khi nước ngập trên đầu gối, người dân đến Trạm y tế còn khô ráo xin vào tạm trú thì bị cán bộ từ chối. Khi nước vừa rút, người dân thiếu đói đến Kho lương thực còn đầy đủ thì cán bộ khóa cửa không phát cho dân. Trong lũ lụt, chỉ thấy người dân đi phát lương thực cho đồng bào. Đảng và nhà nước đã phát miễn phí bao nhiêu lương thực cho người dân? Hay là chỉ bán cho Mặt trận tổ quốc để lấy tiền từ thiện của mọi người. Lũ lụt ở Bắc phần và Trung phần, bên cạnh số người chết còn có nhiều thiệt hại vật chất. Mấy trăm ngàn ngôi nhà bị hư hại vì lũ lụt, mấy trăm ngàn xe cộ bị hư hại vì ngập nước, mấy trăm ngàn mẫu ruộng lúa và hoa màu bị ngập úng, mấy triệu gia súc gia cầm bị nước cuốn đi, nhiều hạ tầng giao thông bị tàn phá. Thảm họa quá to lớn và đã xảy ra mấy lần rồi. Nếu đảng và nhà nước xem trọng tính mạng và tài sản của nhân dân thì phải thành lập một ủy ban độc lập cấp quốc gia điều tra sự việc lũ lụt vừa qua, tìm ra các khuyết điểm của cái "qui trình" để thay đổi nó. Không phải các qui trình của đảng và nhà nước khi nào cũng đúng, ép buộc nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp là một thí dụ của sự sai lầm. Nếu không có ủy ban điều tra thì có nghĩa là đảng và nhà nước khinh thường nhân dân. Nếu không tìm ra các khuyết điểm của cái qui trình thì cho thấy đảng và nhà nước bất tài, thảm họa sẽ xảy ra lần nữa. Cần so sánh các lợi ích của đập thủy điện với các thiệt hại do nó gây ra. Nếu các thiệt hại to lớn hơn các lợi ích thì nên dẹp bỏ nó. Mấy năm qua, các nước Âu châu đã dẹp bỏ mấy trăm đập thủy điện có lợi ích nhỏ hơn sự thiệt hại do nó gây ra. Việt Nam nên nghiêm chỉnh nghiên cứu và thực hiện theo hướng này. Trong khi Bắc phần và Trung phần bị lũ lụt thì Nam phần cũng không sung sướng gì. Năm nay triều cường lên cao hơn các năm trước, mùa nước nổi không chỉ đem nước về đồng ruộng mà tràn cả vào nhà dân. Từ tháng 10-2025, nhiều người dân ở miền Tây nam phần bị nước tràn vào nhà hơn 30 cm. Tình trạng này đã kéo dài hơn 1 tháng, sinh hoạt bất tiện, cuộc sống khổ sở, hoa màu hư hại. Không thấy đảng và nhà nước có chương trình nào để giải quyết vấn đề và hổ trợ người dân miền Tây nam phần. Không chỉ ở đồng quê, các thị xã Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, ... đã mấy lần rơi vào tình cảnh không mưa cũng ngập do triều cường lên cao, gây thiệt hại vật chất cho người dân và cản trở các hoạt động kinh tế. Nhà nước thâu vào nhiều tiền thuế, tiền phí nhưng không nhận trách nhiệm về các thiếu sót của cơ sở hạ tầng, người dân phải gánh hết chi phí sửa chữa tài sản khi nước từ ngoài đường tràn vào nhà. Tại Sài Gòn, triều cường lên cao, đường phố lại bị ngập nước như mấy năm qua. Trước đây 30 năm, Liên hiệp quốc đã cảnh báo nhiệt độ trái đất ấm lên làm băng đá ở Bắc cực và Nam cực tan ra, khiến cho nước biển dâng lên khoảng 1 cm/năm. 30 năm dài trôi qua, đảng cộng sản tự xưng là tài tình đã không giải quyết được vấn đề nước tràn vào thành phố. Tệ hại hơn nữa, dưới sự độc quyền lãnh đạo của đảng, Sài Gòn bị lún thấp xuống 2 cm/năm. Trong 10 năm từ 2005 đến 2014, quận Bình Tân bị lún xuống 73,3 cm/10 năm. Tối 24-10-2025 khu Thanh Đa bị ngập nặng do triều cường. 10 ngày sau, nhiều nơi ở Sài Gòn bị ngập nước, đường Bùi Viện ở quận 1 bị ngập 20 cm, đường Trần Hưng Đạo ở quận 5 bị ngập 40 cm, đường Trần Xuân Soạn ở quận 7 bị nặng hơn nữa. Từ đó, các đường phố ở quận 7 gần như bị ngập mỗi ngày, kéo dài cả tháng, Hồ Chí Minh biến thành Hồ Chứa Mưa. Đảng cộng sản làm những điều trái lòng người, bất tài và tham nhũng mà cứ đòi độc quyền lãnh đạo, còn đi phá hoại các tôn giáo, làm cho người dân Việt Nam bị họa lây. Trần Mai Trung Tháng 12-2025
......

Nỗi đau

Võ Xuân Sơn Một trong các thắc mắc mà mấy anh em chúng tôi cứ hỏi nhau hoài, là làm sao có thể tính được thiệt hại vật chất trong vụ lũ lụt vừa qua ở những nơi chúng tôi đến, tại Khánh Hòa, tại Phú Yên? Mất sạch. Có lẽ đó là khái niệm chung nhất của bà con ở những vùng lũ lụt nặng. Nhưng mất sạch theo quan niệm chung, là mất những cái “động sản”, còn những thứ thuộc về “bất động sản” thì đâu có mất đi đâu. Nhưng không. Truyền thông đưa tin, nơi có 7 cái trang trại nuôi heo bò gà vịt đã bị biến thành một dòng sông. Ngay cả bất động sản cũng bị lũ cuốn trôi luôn. Mất sạch ở đây cần được hiểu rằng, có gì mất nấy. Có ít mất ít, có nhiều mất nhiều. Có càng nhiều mất lại càng nhiều. Sau lũ, ai cũng trắng tay, ai cũng bắt đầu lại với hai bàn tay trắng… bệch. Cứu trợ bao nhiêu cho đủ, đền bù bao nhiêu cho đủ. Tiền tỉ mang ra đó, cũng chỉ như muối bỏ biển, chẳng thấm tháp vào đâu. Cái gì cũng phải mua lại, từ cây kim, sợi chỉ, đến xoong nồi, chén dĩa, đũa muỗng… Anh Toàn, chủ một cơ sở bida thuộc hàng top đầu ở Tuy Hòa, Phú Yên với 20 cái bàn bida phải bỏ đi, phải thay mới hoàn toàn. Đi trên đường Võ Nguyên Giáp ở Nha Trang, bạt ngàn xe hơi chờ sửa sau khi bị ngập. Ngay trong thành phố Nha Trang, cứ chỗ nào thấy xe hơi xếp hàng dài, lớp trong lớp ngoài, là y như rằng ở đó có cái garage, xe xếp hàng đó để chờ đến lượt vô sửa. Đi trên cao tốc, ngoài các chuyến xe cứu trợ có gắn bandrole, thì nhiều thứ nhì là những chuyến xe cứu hộ, kéo những chiếc xe bị lũ đi từng đoàn, từng đoàn… theo hướng ngược lại. Nhiều tỉnh đã phải điều xe rác đến Khánh Hòa, Phú Yên để giúp dọn rác. Dân ở đây làm gì mà lắm rác vậy? Không, đó là của cải, là tài sản, là mồ hôi, là nước mắt… của bao nhiêu người dân, bị lũ lụt biến thành rác. Chứng kiến một chỗ người ta đốt rác, trong đó lỏng chỏng tủ lạnh, TV… Không chỉ có cảm giác xót ruột. Của cải, tài sản không phải của mình, nhưng sống mũi cứ cay cay, lái xe nhìn đường cứ nhòe đi. Đặt mình vào vị trí người dân ở đây, có lẽ sẽ cảm thấy đau lắm, khi phải chịu mất mát, mà không phải do mình ẩu, cũng không phải do Trời phạt mình. Mất chỉ vì thằng khác ẩu. Mà nó không ẩu để gây hậu quả cho nó, cho cha mẹ nó, cho vợ con nó. Nó ẩu mà nó gây hậu quả cho bà con mình, cho bản thân mình, và gia đình mình… Nó lời một đồng, nó làm người ta mất hết tài sản. Nó ăn một miếng, còn người ta thì mất mạng. Đau hơn nữa, là biết vậy, mà vẫn cứ phải cắn răng chịu mất, cứ phải chống mắt nhìn nó ăn, nhìn nó kiếm tiền, nhìn bà con mình bỏ mạng, nhìn của cải, đồ đạc mất sạch, nhìn hai bàn tay trắng bệch…
......

Tội ác

FB Mai Quốc Ấn   Ông Tạ Anh Tuấn, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nói các hồ thủy điện trên sông Ba không có khả năng chống lũ và sẽ kiến nghị Thủ tướng về quy trình vận hành hồ chứa trên sông Ba. Tôi đọc đi đọc lại ý kiến này. Càng đọc càng thấy kinh sợ những kẻ đã thiết kế, phê duyệt những thủy điện biết “ăn” người. Có 5 hồ thủy điện trên sông Ba gồm thuỷ điện Sông Ba Hạ, thủy điện Sông Hinh, thủy iện Krông H’Năng, thủy điện Ayun Hạ, thủy điện An Khê – Ka Nak. Trong đó, Đại biểu Quốc hội Huỳnh Thành-Phó trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai đã phát biểu rằng thủy điện An Khê – Ka Nak là một “công trình sai lầm thế kỷ”. 5 hồ thủy điện “không có khả năng chống lũ”-nói như Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, là một tội ác về quy hoạch thủy điện lẫn vận hành thủy điện và người lãnh hậu quả là nhân dân dưới các thủy điện. Hậu quả rất cụ thể là sinh mệnh nhân dân, tài sản nhân dân mất đi không chỉ trong năm nay mà nhiều năm qua. Đó là một tội ác khiến cả trời và người đều phẫn nộ! Lợi nhuận từ điện chỉ phục vụ cho một nhóm nhỏ còn hậu quả lớn và “đều đặn” thì “dành cho” nhân dân. Lợi nhuận ấy thực sự biết “ăn sinh mệnh” người, “ăn” tài sản đồng bào chắt chiu, “ăn” luôn cả thuế dân qua những công trình nhà nước bị hư hại vì bão lũ. Nó “ăn” luôn cả nguồn lực quốc gia năm nào cũng cứu trợ vì thứ nhân hoạ khoác vỏ bọc thiên tai. Và nó “ăn” sạch cả tim óc của những kẻ mạt sát người lên tiếng vì sự thật này. (Không biết chúng có dám mạt sát ông Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk vì nói ra sự thật về thủy điện không?) Sự thật đã rõ đến mức nếu không có một phương thức xử lý nghiêm cho cả kẻ quy hoạch lẫn kẻ vận hành thủy điện trên sông Ba thì khó mà yên được lòng dân. Quy hoạch và vận hành như vậy là gây ra tội ác mà so với những sát thủ như Lê Văn Luyện, Nguyễn Hải Dương còn kinh khủng hơn rất nhiều. Rất rất rất nhiều!  
......

Chúng mày ác lắm

Đàm Ngọc  Có lẽ chỉ có dân miền Trung, nhưng phải ở chính những vùng lũ lụt năm nào cũng có, mới thấu hiểu được triệt để mỗi khi nước dâng về một màu trắng xóa tang thương. Còn ngược lại, tôi xin nói thẳng, tất cả chỉ nghe hay xem qua những thước phim mà thôi. Nên xin đừng vội kết luận điều chi, khi mà bản thân chúng ta chưa hề tường tận thực tế. Bạn đã bao giờ ngồi co ro trong lạnh lẽo và đói, mắt dán vào mực nước ngày càng dâng lên, tay chân tím tái, cứ nước càng dâng lên cảm giác lo sợ sinh mạng của bạn dần rút ngắn lại? Chưa đúng không? Bạn đã bao giờ lao vào dòng nước, khi nước vẫn đang lên, cùng phụ giúp nhà hàng xóm, kéo con heo, con bò, kê cao giường tủ, cho nó ngồi lên đó chưa? Chưa đúng không? Bạn đã bao giờ nhìn thấy nhà đối diện, dòng nước hung hãn chảy mạnh như thác, chỉ vài tiếng thôi, thì căn nhà ấy bật ngược phần hiên trước lên, rồi đổ ập xuống chưa? Chưa đúng không? Bạn đã bao giờ, được cha của bạn, đặt bạn trên lưng, rồi bơi xéo ngược dòng, đưa bạn thoát đến gò đất cao hơn, để bạn được sống. Rồi cha của bạn, lại nhảy vào dòng nước mênh mông cố bơi về đưa những thành viên khác. May mắn, lần trở về đưa được người cuối cùng thoát ra khỏi căn nhà, thì cũng là lúc nó đổ sập xuống. Chưa đúng không? Và còn nhiều hơn những kinh hoàng như thế. Bạn có thể chưa, chứ tất cả những thứ ấy, tôi đều đã trải qua nhiều lần trong đời, từ khi còn rất nhỏ, và cả sau này. Những ngày qua, tôi điện thoại về cho mẹ tôi ở quê nhà, hằng ngày cả chục lần, chỉ để hỏi nước có lên không? Và tôi nói với mẹ tôi rằng, năm nay quê mình (Quảng Ngãi) có lẽ may mắn hơn những tỉnh khác. Chứ Phú Yên, Khánh Hòa, với lượng mưa, kèm lưu lượng xả lũ như vậy, những địa phương ấy sẽ là thảm họa.   Tờ Tuổi Trẻ đưa tin: "Ông Lê Văn Thìn - Bí thư Đảng ủy phường Đông Hòa - cho biết phần lớn diện tích phường ngập sâu trong nước, không thể tiếp cận ở nhiều vị trí dù biết có người cầu cứu. Ngay cả quốc lộ 1, nơi cao nhất, cũng ngập nhiều đoạn khiến xe cộ kẹt dài. Hàng chục ngàn người dân đang mắc kẹt, chưa thể tiếp cận vì sóng lớn, nước xiết. Phương tiện đường bộ không vào được, mà ca nô cũng cực kỳ khó di chuyển", ông Lê Văn Thìn nói. Theo ông Thìn, thiệt hại do trận lũ kinh hoàng này là "vô cùng lớn". Đến thời điểm này, phường đã ghi nhận ít nhất 7 người chết, còn số mất tích vẫn chưa thể thống kê. Theo ông Thìn, mưa lũ khiến toàn bộ địa bàn vẫn ngập sâu, chia cắt hoàn toàn. Nước đã rút khoảng 1,5m so với đỉnh điểm, nhưng nhiều khu vực vẫn chưa thể tiếp cận. Đến nay trên tổng số 48.000 dân của phường thì mới cứu hộ và sơ tán được về khoảng 100 người, con số quá nhỏ nhưng công tác cứu hộ vẫn còn gặp nhiều khó khăn".   Đọc những thông tin này, tôi tin rằng bất kì người dân miền Trung nào, đã từng sinh ra, lớn lên trong bão lũ, đều thấu hiểu vì sao mọi thứ lại tồi tệ đến vậy? Đều thấu hiểu chính quyền đã ở đâu trong thời khắc mà hàng vạn người dân cần bóng dáng của họ hơn bao giờ hết. Thế nhưng, chỉ có tiếng sóng và gió, cùng màn đêm âm u, như báo trước cho viễn cảnh bất hạnh và tang tóc đang chờ đón số phận những người dân.   Với lương tri và nhận thức tối thiểu của một con người, chúng ta đều có thể hình dung, nước đã rút 1,5m, nhưng lực lương của chính quyền sở tại vẫn chưa tiếp cận được, thì khi ở thời khắc đỉnh điểm của nước lũ dâng lên, nó kinh hoàng đến thế nào, và cuốn phăng mọi thứ ra sao?   Rồi chúng ta cũng có thể tính toán được rằng, 48.000 người dân kia, chỉ cần nếu không may mắn 0,1% thôi, thì có thể đến 48 con người phơi bụng lều phều như cá c.hết, rồi bị cuốn trôi ra biển cả. Nghĩ đến điều này, để mà nguyện cầu những phép mầu cho nhau tất cả được bình an. Chuyện tang thương đó, là mới chỉ ở một xã mà thôi. Xin nhớ cho điều này. Và bạn cũng có thể hình dung, trong mấy ngày ròng rã ấy, vừa đói vừa khát, chỉ sơ sẩy mỏi tay, hay trượt chân rơi vào dòng nước hung hãn là chết. Nhiều người trong chúng ta, chưa trầm mình trong nước lũ, để biết rằng độ lạnh của nó như nước đá vậy. Đàn bà vừa mang thai vài tháng, ngâm mình trong nước lũ, là sẩy thai. Chi tiết này, chỉ muốn nói lên mức độ khắc nghiệt và độc hại của nó.   Ấy vậy mà, tôi đọc đâu đó, có nhà báo bán sâm ngoài miền Bắc, có thể viết rằng, sẽ không có ai bị chết vì lạnh hay đói khát cả. Trong Nam, thì có cô nhà thơ kiêm nhà từ thiện nọ, cũng có thể hùng hồn tuyên bố, đợt lũ này chết chẳng mấy người, đừng nói quá lên. Chết chẳng mấy người, mà chính nữ nhà thơ này, giờ đây xin liên hệ với linh mục, ở giáo xứ nào đó ở Phú Yên, để xin đặt 28 cỗ quan tài tạm trong nhà thờ... Chúng mày đã nói những lời và làm những chuyện thất đức và ác lắm. Đàm Ngọc   
......

Tô Lâm và ảo ảnh cải cách: Bài phát biểu 15/11 cho thấy gì?

Vũ Đức Khanh  Bài phát biểu sáng 15/11 của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc về công tác bầu cử là một văn kiện chính trị quan trọng, không chỉ vì nó mở màn cho kế hoạch tổ chức Quốc hội khóa XVI, mà còn vì nó hé lộ cách ông hình dung tương lai chính trị Việt Nam.  Nhưng đằng sau những lời hiệu triệu về “phát huy dân chủ,” “đại đoàn kết,” hay “tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân,” câu hỏi then chốt vẫn là: Liệu Tô Lâm có thực sự muốn trở thành — hoặc đang cố trở thành — một nhà cải cách? Để trả lời, cần đọc kỹ thông điệp cốt lõi của bài phát biểu, bối cảnh quyền lực hiện nay, và mô thức hành động của ông trong suốt năm qua. Bài phát biểu 15/11: Dân chủ theo khuôn mẫu và “ổn định” là tối thượng Trong bài phát biểu, Tô Lâm nhấn mạnh 3 điểm lớn: (1) bầu cử phải bảo đảm “đúng quy trình,” “đúng định hướng”; (2) nhân sự phải “trung thành tuyệt đối với Đảng”; (3) mọi biểu hiện “lợi dụng dân chủ” phải được ngăn chặn từ sớm. Điểm mấu chốt là: “dân chủ” trong bài phát biểu không phải mở rộng quyền tham gia của cử tri, mà là tăng cường tính kiểm soát trong nội bộ hệ thống. Tô Lâm đề cao bầu cử nhưng chỉ như một nghi thức hợp thức hóa quyền lực, không phải một cơ chế cạnh tranh quyền lực. Thông điệp xuyên suốt của ông là: ổn định chính trị quan trọng hơn mọi hình thức dân chủ. Nếu xem phát biểu ấy như một bản tuyên ngôn đầu nhiệm kỳ, ta thấy rõ giới hạn: không có ý định cải cách thể chế; không có tín hiệu về mở rộng tự do chính trị; không có thay đổi quy trình bầu cử để tăng tính đại diện. Đây không phải là ngôn ngữ của một nhà cải cách. Mô thức quyền lực: Quyết đoán, tập quyền, nhưng không đổi mới Từ khi trở thành Tổng Bí thư, Tô Lâm đã củng cố quyền lực bằng 3 phương pháp quen thuộc: (1) tái cấu trúc nhân sự cấp cao; (2) đưa Bộ Công an và mạng lưới an ninh vào trung tâm của tiến trình ra quyết định; (3) tăng cường kiểm soát truyền thông, không gian mạng, và xã hội dân sự. Cách tiếp cận này cho thấy ưu tiên của ông không phải cải cách mà là “định hình lại hệ thống để kiểm soát chặt hơn”. Những người gọi Tô Lâm là “Lee Kuan Yew của Việt Nam” hay kỳ vọng một cuộc “Đổi Mới lần hai” đều bỏ qua một thực tế: các nhà cải cách thực sự đều có tầm nhìn dài hạn về chuyển hóa thể chế, còn Tô Lâm — cho tới nay — chỉ chứng minh năng lực duy trì và gia tăng quyền lực cá nhân trong khuôn khổ của hệ thống hiện hữu. Tất nhiên, một người tập quyền mạnh mẽ vẫn có thể khởi động cải cách — lịch sử châu Á có Park Chung-hee, Thein Sein, hay Hun Sen trong một số giai đoạn.  Nhưng những người này đều đưa ra những quyết sách phá vỡ trật tự cũ. Ở Tô Lâm, hiện tại chưa có dấu hiệu tương tự. Tô Lâm có thể trở thành nhà cải cách? Câu trả lời nằm ở một lựa chọn chưa được đưa ra Câu hỏi quan trọng nhất không phải “ông ấy có cải cách không,” mà là: Ông ấy có động cơ để cải cách không? Cho tới giờ, câu trả lời nghiêng về không. Lý do: – Hệ thống hiện tại mang lại cho ông quyền lực tối đa. – Mọi cải cách thực chất đều làm suy giảm quyền lực của Bộ Công an và cơ chế lãnh đạo tập trung. – Ông không có đối trọng chính trị buộc phải thay đổi. – Thông điệp ngày 15/11 cho thấy ưu tiên số một là quản trị bằng kỷ luật và an ninh, chứ không phải bằng pháp quyền và dân chủ. Tuy nhiên, lịch sử chính trị cho thấy: nhà cải cách thường xuất hiện khi hệ thống chạm trần và chính người đứng đầu nhận ra giới hạn của quyền lực thuần túy. Việt Nam đang bước vào giai đoạn đó — tăng trưởng chậm lại, năng suất trì trệ, dân số già hóa, lòng dân bất mãn âm ỉ. Nếu Tô Lâm nhận ra rằng không cải cách thì quyền lực cũng không thể duy trì, ông có thể bất ngờ chuyển hướng. Nhưng cho đến thời điểm bài phát biểu 15/11, không có bằng chứng cho thấy ông đã chọn con đường đó. Cánh cửa còn hé mở? Bài phát biểu 15/11 không hé lộ dấu hiệu cải cách; trái lại, nó xác nhận rằng nhiệm kỳ của Tô Lâm sẽ đặt ưu tiên vào kiểm soát, kỷ luật, và ổn định, hơn là đổi mới thể chế. Câu hỏi “Tô Lâm có phải là nhà cải cách không?” — vào lúc này — có thể trả lời thẳng: Chưa. Và có thể sẽ không. Nhưng lịch sử luôn để ngỏ một cánh cửa, dù rất hẹp.
......

Không phải có tiền là có thể bụm miệng người ta…

Trương Nhân Tuấn Theo nhận định của nhiều chuyên gia, đặc biệt theo bảng xếp hạng của một tờ báo danh tiếng ở Mỹ, Việt Nam là một quốc gia có chỉ số “tư bản thân hữu – crony capitalism” cao. Thế nào là “tư bản thân hữu”? “Tư bản thân hữu” là một thuật ngữ kinh tế và chính trị mô tả một hệ thống mà trong đó sự thành công trong kinh doanh (của một nhóm tài phiệt) không đến từ sự cạnh tranh lành mạnh trong thị trường tự do, mà thông qua mối quan hệ gần gũi và ưu đãi chính trị giữa giới tài phiệt này với các quan chức chính phủ. Trong hệ thống này, lợi nhuận được đạt mức tối đa không nhờ ở các việc như đổi mới, hiệu quả trong sản xuất, hay giá trị thị trường thực tế… mà nhờ vào việc khai thác các mối quan hệ chính trị. Hiện tượng “tư bản thân hữu” phát triển mạnh mẽ trong các quốc gia hậu cộng sản, như Nga (và Việt Nam). Đặc điểm chung ở các quốc gia này là: 1. Tài phiệt thâu tóm của cải của quốc gia Trường hợp nước Nga: Sau khi Liên Xô tan rã, các tài sản khổng lồ của nhà nước (như mỏ dầu, khí đốt, nhà máy lớn…) được tư nhân hóa một cách hấp tấp. Những người có quan hệ thân thiết với chính quyền, có khả năng vận động hành lang, đã dễ dàng mua lại những tài sản này với giá rẻ mạt, tạo ra một thế hệ tỷ phú mới được gọi là “tài phiệt” (oligarchs). 2. Luật pháp thiếu minh bạch, giúp quan chức dễ dàng tham nhũng và tài phiệt “lách luật” 3. Bảo kê chính trị Các doanh nghiệp mới cần sự bảo vệ của chính quyền để tồn tại trong môi trường cạnh tranh không lành mạnh và phức tạp. Việc trao đổi lợi ích (đổi sự ủng hộ chính trị, tiền tài trợ cho các chiến dịch lấy sự ưu tiên pháp lý/ kinh doanh) là phổ biến. Đối chiếu các sự kiện này qua cách hoạt động của hệ sinh thái Vingroup trên thực tế: (1) Khả năng tiếp cận tài nguyên (đất đai), (2) Sự hỗ trợ và ưu đãi chính trị lớn, và (3) Khả năng ảnh hưởng đến môi trường pháp lý. Chúng ta có thể kết luận rằng, mô hình hoạt động của Vingroup mang nhiều đặc điểm của mô hình “tư bản thân hữu”, được định hình bởi thể chế và cơ chế đặc thù của Việt Nam. Tức là sự thành công của Vingroup gắn liền với sự ủng hộ và bảo trợ chính trị của quan chức nhà nước Việt Nam. Vingroup được ưu đãi về đất đai, có khả năng “gọi vốn” dễ dàng. Đặc biệt khả năng ảnh hưởng đến môi trường pháp lý trong nước, như sử dụng công cụ pháp lý để đàn áp và bịt miệng những người chỉ trích. Những ưu đãi của “nhà nước tư bản thân hữu” Việt Nam đã giúp Vingroup tích lũy được vốn liếng, tài sản, và sự hậu thuẫn chính trị. Từ nền tảng này ông Vượng và Vingroup vươn ra quốc tế, sử dụng các công cụ pháp lý của các nước dân chủ pháp trị ở Tây phương, muốn sử dụng tiền bạc để bóp chết các tiếng nói chống đối ở hải ngoại. Có công bằng hay không, khi ông Vượng và Vingroup lấy sức mạnh từ nguồn tài sản của họ để đòi “sự công bằng pháp lý”, bằng cách yêu cầu các tòa án ở Đức, ở Canada… áp dụng các nguyên tắc công bằng, vô tư (với bằng chứng xác thực chứ không phải tin đồn) để bảo vệ danh dự? Các cá nhân ở hải ngoại và những người chỉ trích trong nước không có khả năng nhận được các “bổng lộc thân hữu” để tạo ra lợi thế xuất phát điểm như Vingroup. Nhưng khi đối diện với các cá nhân chỉ trích, Vingroup lại đòi hỏi phải được hưởng sự vô tư và công bằng tuyệt đối từ hệ thống pháp luật phương Tây, nơi họ không hề có đặc quyền chính trị. Mục đích của ông Vượng và Vingroup không phải là thắng kiện, mà là muốn làm cạn kiệt nguồn lực (financial exhaustion) của nhà báo, buộc họ phải tự kiểm duyệt (self-censorship) hoặc gỡ bỏ thông tin. Không! ở Châu Âu và các nước dân chủ pháp trị không hề có thứ công bằng như vậy dành cho ông Vượng và Vingroup nữa. Liên minh Châu Âu đã thông qua các quy định chống SLAPP (Anti-SLAPP Legislation) nhằm bảo vệ các nhà báo, các nhà hoạt động, và các tổ chức phi chính phủ khỏi các hành vi lạm dụng hệ thống tư pháp này. Một vài đặc điểm của Anti-SLAPP của Liên minh Châu Âu (SLAPP: Strategic Lawsuits Against Public Participation – Các vụ kiện chiến lược chống lại sự tham gia của công chúng): 1. Cơ chế xét xử sớm (Early Dismissal Mechanism): Đây là biện pháp quan trọng, cho phép Thẩm phán: Bác bỏ vụ kiện ngay lập tức: Nếu vụ kiện được xác định là hoàn toàn vô căn cứ hoặc mang tính lạm dụng (mục đích chính là quấy rối hoặc làm cạn kiệt tài chính của bị đơn), Thẩm phán có thể bác bỏ vụ kiện trong giai đoạn sớm nhứt của thủ tục tố tụng. Trong một số trường hợp, chi phí (cho việc tìm bằng chứng) chứng minh (rằng vụ kiện không phải là lạm dụng) có thể được chuyển sang cho nguyên đơn (ông Vượng, Vingroup…). 2. Bồi thường chi phí pháp lý và thiệt hại Khi vụ kiện SLAPP bị bác bỏ, nguyên đơn (ông Vượng, Vingroup…) phải chịu hoàn toàn chi phí pháp lý của bị đơn (nhà báo Lê Trung Khoa, cô Phương Ngô…). Thẩm phán có quyền yêu cầu nguyên đơn (ông Vượng, Vingroup…) bồi thường thiệt hại cho bị đơn (Lê Trung Khoa, Phương Ngô) vì những tổn thất về mặt tinh thần, danh tiếng và kinh tế do bị kiện tụng lạm dụng. 3. Án phạt và các biện pháp răn đe Án phạt: Tòa án có thể áp đặt án phạt (penalty) hoặc các biện pháp răn đe tương đương đối với những người khởi xướng (ông Vượng, Vingroup…) các vụ kiện SLAPP nhằm ngăn chặn các hành vi tương tự trong tương lai. 4. Bảo vệ Tính Toàn vẹn của Pháp luật EU (Chống Án lệ Nước thứ ba) Các quốc gia thành viên phải từ chối công nhận hoặc thi hành các bản án về phỉ báng từ các quốc gia ngoài EU nếu bản án đó được coi là rõ ràng vô căn cứ hoặc lạm dụng (nghĩa là một vụ kiện SLAPP được thắng ở nước thứ ba sẽ rất khó được thi hành tại EU). Tức là gì? Là ông Vượng và Vingroup sẽ đi vào ngõ cụt, hoặc đi qua một cánh cửa rất hẹp để thắng kiện ở các vụ kiện gọi là SLAPP ở nước ngoài, đặc biệt ở châu Âu hay Canada. Không phải hễ có tiền là bụm miệng người ta được đâu!  
......

Làm sao để hạn chế Trung Quốc trên Biển Đông

Nguyễn Công Bằng Căng thẳng trên Biển Đông tiếp tục gia tăng USS Nimitz – tàu sân bay lâu đời nhất của Mỹ và là một trong những tàu sân bay lớn nhất thế giới – đã có một đợt triển khai cuối cùng đầy căng thẳng. Vào ngày 26/10 vừa qua, 1 trực thăng của USS Nimitz đã rơi xuống vùng Biển Đông. Nửa giờ sau, một máy bay chiến đấu F-18 cất cánh từ con tàu này cũng bị rơi. Các nhà lãnh đạo quân sự không tiết lộ nguyên nhân, nhưng Tổng thống Mỹ Donald Trump khi phát biểu với các nhà báo đã đổ lỗi cho “nhiên liệu kém.” Dù nguyên nhân là gì, việc mất 2 máy bay trong thời gian ngắn sẽ gây ảnh hưởng đến những căng thẳng vốn đã bị kìm nén bởi một trong những thời điểm căng thẳng nhất trên Biển Đông – một “điểm nóng khu vực” trong những năm gần đây. Sự hiện diện của USS Nimitz ở Biển Đông diễn ra trong bối cảnh căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines (một đồng minh của Mỹ) liên quan đến Bãi cạn Scarborough. Các rạn san hô bao quanh một phá nước nông lớn cách Vịnh Manila khoảng 135 hải lý (250 km) về phía Tây, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, là thực thể hàng hải duy nhất trong vùng nước này. Năm 2012, Trung Quốc đã đẩy các tàu Philippines ra khỏi Bãi cạn Scarborough và kiểm soát khu vực này kể từ đó với sự hiện diện liên tục của lực lượng tuần duyên và tàu cá. Từ năm 2013 đến năm 2015, Trung Quốc đã xây dựng 7 căn cứ quân sự (3 trong số đó là các căn cứ không quân lớn) bằng cách cải tạo vùng biển xung quanh các dải đất xa hơn về phía Nam ở Biển Đông. Tuy nhiên, cho đến nay, Trung Quốc vẫn chưa dừng lại ở việc cải tạo đất để xây dựng căn cứ trên bãi cạn. Năm 2016, Tổng thống Mỹ khi đó là Barack Obama được cho là đã nói với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rằng làm như vậy sẽ vượt qua “lằn ranh đỏ” của Mỹ. Và lằn ranh đó, ít nhất là cho đến nay, vẫn được giữ vững. Đầu năm 2025, Trung Quốc bắt đầu hành xử một cách hung hăng hơn đối xử với sự hiện diện của tàu Philippines xung quanh Bãi cạn Scarborough và các bãi đá và rạn san hô đang tranh chấp khác. Vào ngày 11/8/2025, khi đang truy đuổi một tàu tuần duyên Philippines gần bãi cạn, một tàu tuần duyên Trung Quốc đã vô tình đâm vào một trong những tàu hải quân của nước mình. Trung Quốc không thừa nhận thương vong, nhưng Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, một tổ chức tư vấn ở Washington, báo cáo rằng 2 lính tuần duyên Trung Quốc có thể đã bị thiệt mạng trong vụ tai nạn. Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã ghi lại toàn bộ sự việc, khiến Trung Quốc vô cùng xấu hổ. Căng thẳng đã leo thang xung quanh Bãi cạn Scarborough kể từ đó. Việc Trung Quốc tiếp tục sử dụng tàu thuyền một cách hung hăng, làm gia tăng nguy cơ thương vong cho người Philippines trong một vụ đâm va khác. Mỹ đang gặp khó khăn trong việc cân bằng do bị ràng buộc bởi hiệp ước bảo vệ lực lượng Philippines trên biển, một lời hứa mà chính quyền Trump đã nhắc lại, ám chỉ rằng họ sẽ bảo vệ Manila. Tuy nhiên, việc làm như vậy có thể làm gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc lên mức nguy hiểm. Trong tháng 10/2025, lực lượng Mỹ và Philippines đã tập trận ở Biển Đông, cùng với các đồng minh như Australia, Pháp và Nhật Bản. USS Nimitz là sự bổ sung mới nhất, hùng hậu, cho sự hiện diện hải quân ngày càng tăng. Các tàu Trung Quốc đã bám sát hạm đội từ khoảng cách không xa. CBS, một đài truyền hình Mỹ, đưa tin rằng Lầu Năm Góc đang xem xét phóng tên lửa HIMARS về phía bãi cạn. Trước đây Mỹ đã từng phóng tên lửa loại này ở Biển Đông song chỉ là một phần của các cuộc tập trận thường kỳ và không nhằm vào Scarborough. Lầu Năm Góc cũng không phủ nhận thông tin của CBS. Ngày 1/11 vừa qua, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth đã gặp người đồng cấp Trung Quốc, Đô đốc Đổng Quân, bên lề một hội nghị an ninh ở Malaysia – cuộc gặp đầu tiên giữa hai người. Và, trong một động thái bất thường, họ lại nói chuyện qua điện thoại vào ngày hôm sau. Cùng lúc đó, ảnh vệ tinh cho thấy USS Nimitz chỉ cách Bãi cạn Scarborough hơn 100 hải lý về phía Đông Nam. Căng thẳng liên quan đến các rạn san hô dường như sẽ tiếp tục. Việt Nam sẽ làm gì? Không chỉ Philippines bị Trung Quốc đè nén trên biển, mà Việt Nam, Malaysia, Indonesia cũng bị tương tự. Việt Nam đã tranh thủ lúc các quốc gia căng thẳng với tranh chấp của mình, đã lấp đầy các cấu trúc mình đang chiếm giữ tại khu vực Trường Sa bằng 70% của Trung Quốc đã làm. Mặc dù Việt Nam giữ im tiếng, nhưng trên nhiều bản YouTube, Việt Nam đã cho thấy độ dữ dội của các bên trong tranh chấp Biển Đông ra sao. Những vụ đâm tàu, đuổi nhau khốc liệt giữa bên Trung Quốc và Việt Nam vẫn đang diễn ra. Nhiều cảnh sát biển của Malaysia, Indonesia vẫn bắt nhiều tàu cá Việt Nam vì các cáo buộc tàn sát biển trên vùng biển của họ. Trong một cuộc thăm dò do Pulse Asia thực hiện, người dân Philippines đã được hỏi quốc gia nào có thể hỗ trợ Philippines tốt nhất để chống lại các hành vi xâm lược ở Biển Đông. Câu trả lời phổ biến là các đối tác có cùng chí hướng như Mỹ (77%), Nhật Bản (45%), Australia (30%), Canada (29%) và Anh (25%). Một cuộc khảo sát khác đặt câu hỏi người Philippines chọn (những) quốc gia nào là đối tác để đảm bảo an ninh kinh tế trước những rủi ro toàn cầu. Không ngạc nhiên khi đứng đầu danh sách vẫn là 5 quốc gia trên – gồm Mỹ với 77%, Nhật Bản với 44%, Australia với 26%, Anh với 24% và Canada với 23% – cùng với ASEAN (29%). Điều này cho thấy đối với người dân Philippines, khả năng ngăn chặn hành vi xâm lược trên vùng biển của họ gắn liền với khả năng đảm bảo đáp ứng bền vững các nhu cầu kinh tế của người dân. Những vấn đề liên quan Biển Đông chúng ta không nên xem xét từ góc độ của một quốc gia đơn lẻ, cũng như không chỉ từ quan điểm kinh tế hay quốc phòng thuần túy. Đây là vùng biển rộng lớn, giàu tiềm năng kinh tế và thương mại cũng như sự đa dạng về sinh vật biển. Việc đảm bảo một Biển Đông tự do, rộng mở và ổn định là điều thiết yếu ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương cũng như trong cộng đồng quốc tế. Những sự kiện đang diễn ra ở Biển Đông không nên bị coi là xa vời hay tách biệt với thực tế mà người dân ở khu vực này đang trải qua. Những hành động này tác động cụ thể, rõ ràng và gây hậu quả nghiêm trọng đối với cuộc sống của người dân. Philippines và phần còn lại của thế giới phải khẳng định rằng Biển Đông, với tư cách là tài sản chung toàn cầu, phải là một khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung. Luật pháp quốc tế phải được đặt lên trên hết, và không một quốc gia nào được phép áp đặt sự thống trị đối với các quốc gia khác. Chúng ta phải chủ động phản đối và vạch trần những hành động như vậy để ngăn chặn Biển Đông trở thành sân chơi cho chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc./.
......

Trí thức Việt hay thầy bói mù tả voi

Đặng Đình Mạnh   Trên thế giới này, không đâu mà người có ăn, có học lại dễ xúc động như tại Việt Nam. Chỉ cần một quan chức lên sân khấu ôm đàn hát nghêu ngao, hoặc phát biểu mà không cần đọc giấy, đã khiến cho cử tọa, là nhà báo, giáo sư, tiến sĩ, doanh nhân… rưng rưng nước mắt. Chẳng ai có ý định hỏi: “Sau màn trình diễn ấy thì người dân sẽ được những gì?”, vì hỏi thế… mất vui. Khi trí thức hết niềm tin, họ bắt đầu tin vào… cử chỉ Tại xứ người, nếu lãnh đạo từ chức để nhận trách nhiệm vì sự cố, hoặc sai sót thì công chúng cũng không mảy may xúc động. Vì điều đó là cần thiết và bình thường trong một xã hội trọng nhân phẩm. Tại nước ta, việc lãnh đạo từ chức để nhận trách nhiệm quá xa lạ, cho nên, chỉ cần tham dự một buổi hội nghị không trưng bày hoa tươi tràn lan, không có quà tặng, không có kính thưa dài dòng… là đủ cho giới trí thức nức nở xúc động và tin rằng rằng đất nước sắp đổi thay, tương lai sắp sáng lạn?! Điều đó thật đáng thương, vì điều họ xúc động chỉ mới là bớt rác hình thức. Trong khi đó, rác quyền lực vẫn tồn tại mới là điều mấu chốt. Tựa như người đuối nước giữa dòng, vớ được khúc gỗ mục mà đã vội cho rằng được cứu rỗi. Đáng nói hơn, người xúc động lại là những người có ăn, có học, có địa vị xã hội. Thay vì bằng sự hiểu biết của mình, họ phải đặt câu hỏi mang tính chất nền tảng: “Dân không bầu, vậy quan chức lãnh đạo này từ đâu ra”? Trí thức Việt cần hy vọng như cần thuốc mê Bất lực từ xã hội hiện tại, trí thức cần duy trì niềm hy vọng để tiếp tục… sống. Cho dù bao nhiêu lần hy vọng là bấy nhiêu lần thất vọng. Nhưng sau mỗi lần thất vọng, họ lại nhanh chóng tìm kiếm niềm hy vọng mới để thay thế. Khi một quan chức tiếp xúc với họ theo cách phi truyền thống, như tổ chức một buổi hội nghị không trưng bày hoa tươi tràn lan, không có quà tặng, không có kính thưa dài dòng đã đủ gieo cho họ một niềm hy vọng mới, rằng lần này “thuyết phục” hơn lần trước. Nó giống như liều thuốc mê an thần cho những cái đầu đã quá mỏi mệt vì phải luôn luôn giả vờ hy vọng. Nghịch lý và bi kịch ở chỗ, trí thức Việt hiểu rất rõ rằng luật pháp công bằng, báo chí tự do hay bầu cử minh bạch… đều là những giá trị không bao giờ có dưới chế độ Cộng Sản. Thế nhưng, nếu có quan chức lãnh đạo nhắc đến thành tựu của cựu thù chính trị, thì họ đã mừng vui khấp khởi. Thế là cả xã hội lao vào đọc dấu hiệu như những thầy bói mù đang háo hức tả voi: Ông ấy nói ít hơn hôm trước, chắc sắp cải cách. Ông ấy cúi đầu chào, chắc sắp lắng nghe phản biện. Ông ấy chưa bắt ai hôm nay, chắc đang thực hiện hòa hợp, hòa giải. Ông ấy ôm đàn hát nghêu ngao, chắc sắp cởi trói văn nghệ. Người ta không sống bằng lý trí nữa, mà sống bằng giải đoán cử chỉ, hành vi của người cầm quyền thay cho những tuyên bố về chương trình hành động, quan điểm chính trị. Nạn nhân, đồng phạm, hay diễn viên phụ? Không thể phủ nhận, trí thức Việt Nam là tầng lớp chịu nhiều áp lực. Họ hiểu ranh giới của “tự do học thuật” mỏng như sợi tóc. Nhưng có người im lặng vì sợ, cũng có người im lặng vì quen. Lâu dần, cái im lặng đó hóa thành bản năng, rồi thành thói quen, rồi thành… phẩm chất chính trị. Khi một hệ thống quyền lực đã biến nỗi sợ thành nếp nghĩ, thì kẻ có học cũng chẳng khác gì khán giả trung thành trong một vở kịch dài vô tận. Họ vỗ tay khi đạo diễn ra chào, họ khen “diễn viên chính diễn rất đạt”, rồi ra về mà không biết rằng chính mình cũng đang đóng vai, dĩ nhiên, vai quần chúng một cách tự nguyện. Khi “củi mục” trở thành cứu tinh Người chết đuối vớ phải cọc, vì đó là bản năng sinh tồn. Nhưng người có ăn, có học mà thấy cái cọc đã vội cho là cứu tinh, thì đó là dấu hiệu tuyệt vọng. Bởi “cọc” ấy không cứu ai, nó chỉ giúp người ta tự ru ngủ rằng mình chưa chết. Giới trí thức Việt hôm nay đang sống bằng những “cọc” như thế, không hoa, không quà, không thưa dài dòng, hát nghêu ngao… đều được thổi phồng như dấu hiệu cải cách, đổi mới chính trị. Nhưng đằng sau đó, khi người nói thật, phản biện vẫn bị đàn áp, thì họ mới nghiệm ra rằng mọi dấu hiệu ấy đều chỉ là ảo giác do chính họ tự bơm thổi mà thôi. Cái kết không có hậu Câu chuyện bi hài ở đây là, khi trí thức chỉ còn biết xúc động vì những điều vặt vãnh, thì xã hội đã mất khả năng trưởng thành. Bởi người có khả năng lý giải xã hội và thay đổi xã hội lại đang bận xúc động. Cũng vậy, người đáng lẽ phải chất vấn về những bất công xã hội lại đang mải vỗ tay tung hô cho những cử chỉ của quan chức. Tại các quốc gia dân chủ, trí thức là người thắp đèn soi rọi quyền lực, thì tại Việt Nam, họ chỉ thắp đèn soi… nét mặt của lãnh đạo xem có “thân thiện” không. Cái ánh sáng duy nhất còn sót lại trong xã hội ấy không phải là ánh sáng của lý trí, mà là ánh sáng sân khấu, khi quan chức cầm đàn bước ra và cả hội trường đứng dậy vỗ tay. Thay vì vớ cọc, hãy học cách bơi Không ai trách người chết đuối vớ phải cọc, nhưng lẽ ra, người có ăn, có học thì không nên dừng lại ở đó, họ phải tiếp tục tìm giải pháp. Đã đến lúc giới trí thức Việt phải tập bơi, bơi bằng tư duy độc lập, bằng can đảm lên tiếng, bằng ý thức công dân thực thụ. Tương tự vậy, đừng chờ quan chức hát hay, hãy chờ họ chịu trách nhiệm. Đừng xúc động vì họ giản dị, hãy để dành cảm xúc ấy khi họ từ chức vì ý thức được trách nhiệm của mình. Và đừng nhầm lẫn một buổi hội nghị bớt màu mè với một nền chính trị biết tự chỉnh đốn mình. Nếu không, chúng ta sẽ còn mãi là những kẻ chết đuối, ôm chặt khúc gỗ mục của hy vọng, và mơ rằng sóng đang đưa mình vào bến bờ cứu rỗi. Hoa Thịnh Đốn, ngày 13 Tháng Mười Một 2025 Đặng Đình Mạnh  
......

“Việt Nam sẽ là ai trong tương lai”? – Một câu hỏi của quyền lực, không phải của dân tộc

Vũ Đức Khanh Tóm tắt: Bài viết này phân tích câu hỏi “Việt Nam sẽ là ai trong tương lai?” trong bài diễn văn của Tổng Bí thư Tô Lâm hôm 26/10 tại Hội thảo “Việt Nam học lần thứ 7” tại trụ sở Văn phòng Trung ương Đảng như một biểu hiện của tư duy quyền lực mang tính tự quy chiếu. Bài viết lập luận rằng, dù ngôn ngữ của bài phát biểu được trau chuốt và giàu mỹ từ, nó vẫn phản ánh một hệ hình tư tưởng khép kín, nơi phát triển được đặt trên nền của kiểm soát hơn là tự do. Từ đó, bài viết đề xuất một hướng tiếp cận khác: thay vì hỏi “Việt Nam sẽ là ai?”, điều cần hỏi là “Người Việt Nam sẽ được sống như thế nào?” — tức là chuyển trọng tâm từ bản sắc hệ thống sang phẩm giá con người, từ quyền lực cai trị sang tự do công dân. *** Ngôn từ quyền lực và khoảng trống của tự do Tại Hội thảo “Việt Nam học lần thứ 7”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặt ra một câu hỏi nghe có vẻ triết học. Một câu hỏi tưởng như khai mở, nhưng thực ra lại khép kín — như cánh cửa đã bị khóa từ bên trong. Trong toàn bộ bài phát biểu, người ta nghe thấy nhiều mỹ từ: Phát triển bền vững, công bằng xã hội, kinh tế xanh, nhân văn, đạo lý. Ngôn ngữ được sắp đặt cẩn trọng, nhịp nhàng, có tính biểu tượng cao, như thể mọi mâu thuẫn của đời sống có thể được hóa giải nhờ ngữ pháp chính trị. Tuy nhiên, đằng sau sự chỉn chu ấy là một nghịch lý: Mọi điều đúng đắn được nói ra, nhưng trong một hệ quy chiếu sai. Bởi lẽ, bài phát biểu ấy hoàn toàn vắng bóng khái niệm tự do công dân — nền tảng của mọi tiến bộ bền vững. Thay vào đó, nó tái khẳng định những khái niệm mòn mỏi như “pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, những công thức ngữ nghĩa được lập lại nhằm bảo tồn tính chính danh phản động của hệ thống. Ở đây, “Nhân dân” không còn là những chủ thể sống, bằng xương bằng thịt, đang mưu cầu hạnh phúc, mà trở thành một danh từ trừu tượng trong diễn ngôn của quyền lực. Khi câu hỏi “Việt Nam sẽ là ai?” phản chiếu nỗi sợ đánh mất mình Câu hỏi “Việt Nam sẽ là ai trong tương lai”? — nghe qua có vẻ hướng ngoại, nhưng thực chất lại bộc lộ một nỗi sợ nội tại: Nỗi sợ đánh mất bản thân trong quá trình hội nhập. Nó là biểu hiện của một tư duy quyền lực mang tính phòng thủ bản sắc, thay vì sáng tạo tương lai. Một quốc gia tự tin không cần phải tự hỏi “mình là ai”, bởi bản sắc của nó được chứng minh qua khả năng sáng tạo, tự do tư tưởng và phẩm giá con người được bảo vệ bằng luật pháp. Chỉ khi bản sắc bị áp đặt từ trên xuống, người ta mới lo sợ “hòa tan”. Thật mỉa mai khi một nhà lãnh đạo tuyên bố rằng “tài nguyên quý nhất của Việt Nam là con người”, nhưng chính thể chế ấy lại trói buộc con người trong im lặng, sợ hãi và phục tùng. Làm sao “phát huy trí tuệ” nếu tư duy độc lập bị xem là nguy hiểm? Làm sao “đổi mới sáng tạo” nếu thông tin bị kiểm duyệt và sự khác biệt bị trừng phạt? Làm sao có “công bằng xã hội” khi quyền lực không có đối trọng và pháp luật không bảo vệ người yếu thế? Bởi vậy, câu hỏi “Việt Nam sẽ là ai trong tương lai?” cần được đảo ngược bản chất: “Người Việt Nam sẽ được sống như thế nào trong tương lai”? Đó mới là câu hỏi mang tinh thần khai phóng, không dành cho quyền lực, mà dành cho con người. Câu hỏi đúng cho tương lai: Con người hay hệ thống? Tương lai của một dân tộc không được định nghĩa bởi danh xưng “xã hội chủ nghĩa”, cũng không nằm trong các chiến lược “tăng trưởng xanh” hay “phát triển bền vững”, mà ở chỗ “mỗi công dân có được trở thành chính mình hay không” — được nói điều mình nghĩ, tin điều mình chọn, và sống cuộc đời không bị cưỡng ép. Một chính quyền có thể tồn tại bằng vũ lực, nhưng một quốc gia chỉ tồn tại bằng đức tin. Và đức tin không thể được tạo ra bằng diễn văn, mà bằng công lý, tự do và sự thật. Nếu thật sự muốn đặt câu hỏi cho tương lai, thì câu hỏi đúng không phải là “Việt Nam sẽ là ai?”, mà là: “Làm thế nào để người Việt Nam được sống tự do, hạnh phúc và thịnh vượng trong một xã hội công bằng và nhân ái”? Câu hỏi ấy tưởng như giản dị, nhưng ẩn chứa một cuộc cách mạng tinh thần — sự chuyển hóa từ ngôn ngữ của quyền lực sang ngôn ngữ của con người, từ quản trị bằng sợ hãi sang phát triển bằng đức tin. Khi ấy, Việt Nam không cần phải “là ai” trong tương lai. Bởi một dân tộc tự do, tự nó đã là chính nó. __________ Tham khảo:  Tô Lâm, Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm với đại biểu tham dự Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 7, Hà Nội, ngày 26/10/2025: https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-cuoc-tiep-doan-dai-bieu-du-hoi-thao-quoc-te-viet-nam-hoc-lan-thu-7-10225102611250133.htm  
......

“Tư duy Con Cua” trong kỷ nguyên vươn mình của Tô Lâm

Cố TBT Nguyễn Phú Trọng trong gần 3 nhiệm kỳ đã để lại ‘dấu ấn’ cho sự nghiệp chính trị là Kỷ nguyên ‘Nguyễn Phú Trọng, người xây lò đốt tham nhũng’. Bộ trưởng Công an, Tô Lâm được giao nhiệm vụ điều khiển hoạt động của lò ngay từ đầu, là CEO, giám đốc điều hành. Nguyễn Phú Trọng qua đời ngày 19 tháng 7, 2024. Tô Lâm, tân chủ tịch nước tạm đảm nhiệm thay thé, rồi chính thức được bầu Tổng bí thư ngày 3 tháng 8, 2024.   Theo gót người tiền nhiệm, nhằm tạo ‘dấu ấn’ cho kỷ nguyên/thời đại cầm quyền của chính mình trong nhiệm vụ lãnh đạo đất nước, Tô Lâm khởi xướng khẩu hiệu chính trị “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ” (KNVMCDT hoặc KNVM).   KNVMCDT thực chất là gì, có gì mới lạ, đặc hiệu? TBT Tô Lâm phát biểu tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhấn mạnh đó là kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên thịnh vượng dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. (25/11/2024 - Chinhphu.vn). Thì ra thế! là Đảng, cnxh, dân giàu…  Để xây dựng chiến lược cho KNVM, TBT Tô Lâm đề ra bảy định hướng chiến lược: 1) Cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng; 2) Tăng cường tính Đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; 3) Tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu quả; 4) Cán bộ (phát triển đội ngũ có năng lực); 5) Chống lãng phí; 6) Chuyển đổi số (ứng dụng kỹ thuật số); 7) Kinh tế tập trung xây dựng mô hình xhcn giàu mạnh. (Báo Thanh Niên - 04/11/2024 14:22 GMT+7). Nói chung là những chiến lược quen thuộc. KNVM được phát động đúng lúc để kỷ niệm 80 năm ngày thành lâp nước VNDCCH năm 1945 và 40 năm “đổi mới” năm 1986 chấm dứt thời bao cấp. Năm 1986, Việt Nam đối mặt khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng: lạm phát phi mã, thiếu lương thực, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân rất khó khăn... (Đổi mới toàn diện để cứu nguy đất nước - Báo Nhân Dân điện tử. Aug 22, 2025). https://nhandan.vn/buoc-ngoat-lich-su-de-viet-nam-vuon-minh-post902820.html Những thuận lợi về triển khai KNVMCDT. *1) Việt Nam, dân tộc anh hùng, có Bác và Đảng lãnh đạo tài tình, sáng suốt, luôn chiến thắng.   *2) TBT Tô Lâm tích cực chào hàng sản phẩm KNVM. Ông nói chuyện và viết bài quảng bá rầm rộ cho chủ đề KNVM, HỘI NHẬP QUỐC TẾ, nhắc lại Nghị quyết số 22-NQ/TW về “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị. + Có những bài viết lấy lại đề tài xưa: - *HỌC TẬP SUÔT ĐỜI.  - *THANH NIÊN là trụ cột  - *Sức mạnh của ĐOÀN KÊT  - *HÀ NỘI sẽ đi đầu…” - *Tp HCM sẽ vươn lên….” + Đa số là những bài viết tổng quát kể lại về bác, đảng, xhcn, đổi mới, thành tích kinh tế...   Mỗi bài viết dài từ 3.000 – 3.500 chữ, Tác giả nói các ý lui tới, dẫn chứng cặn kẽ Nghị quyết các Đại hội Đảng VII - XIII, Bộ Chính trị và lời Bác dạy, vận dụng thường xuyên các từ ngữ đặc sản: Đẩy mạnh, nâng cao, tăng cường, phát huy, làm tốt, chủ động nắm bắt, sáng tạo, đột phá, đổi mới, hội nhập, bước ngoặt, rà soát, khắc phục, chống Mỹ, Đảng ta, sáng suốt, tài tinh…   *3) Tình hình chính trị, xã hội trong nước sáng sủa? Tham nhũng cơ bản đã bị lò đốt của cố TBT NP Trọng thiêu rụi. Công an dẹp tắt các chống đối, bóp nghẹt các tranh đấu về nhân quyền.   Những khó khăn, vướng mắc về triển khai KNVMCDT. *1) KNVM thành công hay không là tùy thuộc ở sự chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất và tư duy con người. Tất nhiên không thể nhảy vươn lên khi ăn thì đói, 2 chân bì bõm lún sâu trong đám ruộng bùn lầy. Bác Hồ, bác Tôn, bác Giáp, bác Duẩn… hồi đó đánh giặc rất giỏi, thí mạng, song hết giặc thì trị nước dở ẹc, hỏng bét, cứ làm như đang đánh giặc, kỷ luật sắt nhà binh, ngăn sông cấm chợ, dân tình xác xơ, kết quả năm 1986 Đảng phải kêu gọi đổi mới toàn diện để cứu nguy đất nước. Hiện nay đã 80 năm qua từ ngày lập chế dộ, năm 1945, Cộng sản diễu binh sang trọng. Song làm kinh tế với đầu óc bần cố nông. Nay chưa ai chết đói, chết rét song đời sống khó khăn, thiếu thốn đối với đại bộ phận nhân dân. Buôn bán ế ẩm, thất nghiệp lan tràn (cả sinh viên ra trường), hàng Tàu, hàng nhái tràn lan, môi trường độc hại, bão tố, lũ lụt tàn phá thường xuyên do thiên tai và nhân tai. Sản xuất thì ‘gia công, lắp ráp’. Quốc sách là ‘xuất khẩu lao động, cô dâu. Bên cạnh vẫn có người sang giàu, có tiền đầu tư mua nhà, mua đất, gửi con đi du học, mua quốc tịch…   *2) Tổng Bí thư Tô Lâm nói chắc: chúng ta đi sau thì phải biết đi tắt, đón đầu khoa học công nghệ, nếu không cứ "đi theo người ta thì lúc nào cũng “lũn cũn” đi sau". https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-yeu-cau-di-sau-thi-phai-di-tat-don-dau-ve-khoa-hoc-cong-nghe-102250215170723725.htm     Báo Điên tử Chính phủ. Thứ hai 27/10/2025. Tuy nhiên đi tắt theo lối mòn, ngắn đường song đi chậm rì, đến khi ra được khúc quanh nơi đường lớn thì xe hơi người ta (chở các thành tựu khoa học) đã vụt qua, biệt tăm tích, phí công đón đầu! Thực tế muốn đón đầu phải di chuyển nhanh hơn người ta.   Vừa rồi trường ĐH Bách Khoa Hà Nội danh tiếng cả nước, trong nghiên cứu, sản xuất đã thử nghiệm kế sách ‘đi tắt đón đầu’. Robot 2 chân tự đi, nhập từ Trung Quốc về, ĐH Bách khoa Hà Nội dán logo của mình chồng lên, che dấu logo Trung Quốc sản xuất, để đem trưng bày. https://giaoduc.net.vn/doc-gia-phan-anh-robot-nhap-ve-dh-bach-khoa-ha-noi-dan-logo-chong-len-logo-nha-san-xuat-post254930.gd    (Giáo Dục Việt Nam 12/10/2025 19:35)          Hình ảnh trong clip là đám đông (phần lớn là trẻ em) háo hức vây quanh một con robot 2 chân dán logo của ĐH Bách khoa Hà Nội đang vận động. Clip được quay tại triển lãm Thành tựu đất nước nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9 (triển lãm A80). Nhiều người nhận ra đây là robot Trung Quốc, giá bán rao trên mạng 30.000 USD.    Tính gian trá hầu như đã xâm nhập vào cốt tủy người Việt, do tham nhũng dẫn đường. Gian dối thành tích đang là quốc nạn nan y ở Việt nam. Nhớ lại vụ kít test thời dịch Covid-19. Và bao nhiêu bê bối khác trong ngành Y té, Giáo dục! Trường ĐH danh tiếng với hàng trăm tiến sĩ, phó tiến sĩ, giáo sư mà robot 2 chân phải đi mua, dán nhãn mác Viêt Nam để lừa thiên hạ. Đây phải chăng là thành quả Tô Lâm thu hoạch, KNVM cũng là KN Con Cua/Tự Sướng?   *3) Xuất thân công an gốc, cha truyền con nối, Tô Lâm cai trị không khỏi theo lối công an, điều tra, theo dõi, bắt bớ, gieo rắc kinh hoàng, gây thù chuốc oán. Tham nhũng thì như cỏ dại mùa xuân mọc lại um tùm. Các nhóm lợi ích chống đối ngày càng nhiều, bất bình, ganh tị, cố níu kéo xuống bác trùm công an Tô Lâm đang mưu đồ vươn mình ngoi lên cao. Đó là giàu thì ghét, nghèo thì khinh, giỏi thì đố kỵ, ngu thì chèn ép, là một triết lý nhân sinh sâu sắc về tâm lý ganh tị và sự cản trở lẫn nhau trong xã hội. Là tư duy/tâm lý/hiệu ứng/qui luật con cua, nổi tiếng (Crab Mentality - Lối tư duy thiển cận. Thà đạp đổ còn hơn để người khác ăn được) https://phunuvietnam.vn/tam-ly-con-cua-khong-an-duoc-thi-dap-do-20221118174145948.htm (PhụnữViệtnam – Cơ Quan Trung Ương Của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam. 19/11/2022 - 07:16 (GMT+7).      Trong đầu mỗi người đều có một con cua giơ hai càng lớn ra ngoài. Hình cua trong xô níu kéo nhau.   Nguồn gốc của crab mentality. Thuật ngữ này được nhà văn Philippines Ninotchka Rosca phát minh khi bà quan sát hành vi của những con cua được thả vào một cái xô. Ninotchka nhận thấy nếu bà thả một con cua vào xô hoặc chậu, nó sẽ dễ dàng bò lên được. Nhưng nếu thả vài con cua vào đó, không con nào bò lên được vì sẽ bị các con khác kéo xuống. Kết cục tất yếu là cả bầy cua sẽ cùng mắc cạn mà chết, do chúng cản trở lẫn nhau trong việc tìm cách thoát khỏi cái xô.      (Bầy cua thả trong rổ cạn không đậy nắp vẫn không mất con nào). Một con thoát ra ngoài giỏ.   Đây được gọi là quy luật/hiệu ứng/tư duy/ tâm lý con cua”, Crab Mentality nổi tiếng.   Khi bạn muốn làm một điều gì thì khó khăn lớn nhất chính là vượt ra khỏi đám đông còn lại. Tư duy con cua là tâm lý cộng sản. TBT Tô Lâm cũng xem như môt bác cua trong giỏ. Muốn bò ra ngoài tất ông phải bẻ càng hoặc giết nhóm cua níu kéo, là trưởng công an, ông làm dư sức. Song ích gì! Sự níu kéo quan trọng còn là tình trạng yếu kém về kinh tế, suy đồi phong hóa, đạo đức tác động như một vũng sình lầy kéo đôi chân lún sâu thêm lúc ông vùng vẫy cố vươn lên.   Lời Kết. Đoàn kết tạo sức mạnh “Unity makes strength”. Nhân dân ta có truyền thống đoàn kết chống xâm lăng. Điều náy không có nghĩa chúng ta vẫn giữ đoàn kết lúc hết giặc, ngày nào đất nước còn đặt dưới sự cai trị của Cộng sản. Sau 80 năm cai trị -Cộng sản vẫn xa vời không hòa giải được dân tộc. Xóa tên Sài Gòn chúng gây thêm thù hận muôn đời lẽ ra không đáng có. Sau 1975 chúng ra sức phá hoại kinh tế, đánh sập tư sản, tịch thu, cướp đoạt, đổi tiền, ngân cấm mua bán, kinh tế mới đem con bỏ chợ… hiện nay thì đảng viên trên dưới, làm láo, báo cáo hay, tham nhũng qui mô to hơn lăng Bác, làm kiệt quệ đất nước.   Tô Lâm giải thích KNVM là tiến đến dân giàu, nước mạnh, văn minh, công bằng… luận điệu ‘tự sướng’ cũ rích, đang nghe chưa kịp bùi tai thì đã vỡ mộng vì cái đuôi thắt cổ muôn đời vẫn là: “dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản…” kèm viễn ảnh tham nhũng, lãng phí phá hoại kinh tế, đạo đức…   Còn nữa! 7 định hướng chiến lược của Tô Lâm nói về Đảng, tăng cường, tinh gọn, sáp nhập… song bổ nhiệm 9 phó thủ tướng, hồ ly 9 đuôi, quẩy mạnh dẹp địch, chia ăn. https://vnexpress.net/linh-vuc-cong-tac-cua-9-pho-thu-tuong-4956448.html   Chế độ hiện tại sản sinh mọi thứ tệ hại cho đất nước: tham nhũng, lãng phí, gian dối thành tích, lường gạt, ích kỷ, đố kỵ, chèn ép… điển hình thâm nhiễm nặng ‘tư duy con cua’, Crab mentality. Khái niệm KNVM là cũ, từ năm 2013, các bước định hướng chiến lược không có gì mới lạ. Để trở về bản chất thuần lương của tổ tiên phải làm khác, triệt hạ Lăng Ba Đình, nguồn gốc ô nhiễm, xú uế, xóa bỏ HP điều 4, loại bỏ độc quyền phe phái, tái lập tranh đua công bình. ‘Tư duy con cua’ không còn, dân tộc ta đoàn kết, vươn mình sánh vai tiến bước cùng năm châu.   Lê Bá Vận.  
......

Cao Hùng là ai?

Ngo Dức Hành   Cao Hùng sinh ngày 3/8/1971 tại Sàigòn. Cha anh là ông Cao Văn Quân, người làng Hạnh Hoa, cổ thành Quảng Trị làm việc cho Bộ Canh nông VNCH, mẹ anh là người Huế - Biến cố 30 tháng 4/1975, gia đình anh di tản đến Hoa Kỳ, nhưng chỉ một thời gian ngắn khi đặt chân đến Mỹ, cha anh được việc làm ở Nigeria với vai trò chuyên gia nông nghiệp cho USAID, anh cùng mẹ và các chị gái đi theo cha, cho đến năm 1983 thì cả nhà trở về Annandale, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Thời đi học, anh là học sinh ở trường trung học kỹ thuật (Khoa Học và Công Nghệ) Thomas Jefferson. Cảm kích trước công lao to lớn của nước Mỹ đã cưu mang và cho gia đình mình cơ hội để phát triển, Cao Hùng xin gia nhập quân ngũ để phục vụ đất nước Hoa Kỳ như một lời biết ơn và được đào tạo tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ ở Annapolis, Maryland vào năm 1989. Anh tốt nghiệp năm 1996 với văn bằng cử nhân Khoa Học Kỹ Thuật, sau đó tiếp tục thụ huấn chương trình hành quân đặc biệt Hải quân. Khi hoàn tất huấn luyện tại các trường Hải quân từ năm 1997 đến năm 2013, anh được thuyên chuyển đến nhiều đơn vị chuyên môn trong ngành huấn luyện người nhái Hải quân. Trong thời gian phục vụ tại các đơn vị trên, Cao Hùng đã theo thụ huấn nhiều chương trình huấn luyện chuyên môn như tháo gỡ đạn dược và mìn bẫy dưới nước (EOD), hành quân đặc biệt, thợ lặn, chiến tranh trên biển, kỹ thuật (cao cấp) tháo gỡ đạn dược-thủy lôi-mìn (Master EOD Technician), và bằng nhảy dù. Được biết, anh là sĩ quan cao cấp gốc Việt duy nhất theo ngành Chiến tranh Đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân - SEAL), đây là ngành đòi hỏi phải có thể lực và ý chí kiên cường và quá trình đào tạo cũng rất gian khổ và nguy hiểm. Khi Cao Hùng đang là Thiếu úy Hải quân, sĩ quan hành quân, và kỹ thuật trên chiến hạm trục vớt USS Grasp (ARS 51), ngày 19/7/1999, một tai nạn phi cơ xảy ra trên biển Đại Tây Dương và một trong những nạn nhân chính là John F. Kennedy Jr., con trai cố tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy. Nhận được lệnh phải cấp cứu phi cơ lâm nạn, chiến hạm USS Grasp liền khẩn cấp vận chuyển đến khu vực phi cơ bị rơi. Sau khi xác định được phi cơ bằng hệ thống sonar, đích thân vị Thiếu úy đã thi hành nhiệm vụ đặc biệt lặn sâu 37 mét dưới đáy biển, trục vớt thành công thi thể của vợ chồng nạn nhân. Tháng 9/2013, Cao Hùng, bấy giờ đã được thăng lên bậc Trung tá, được chọn làm chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện người nhái trục vớt Hải quân Hoa Kỳ (Naval Diving and Salvage Training Center), là Trung tâm huấn luyện kĩ thuật lặn biển lớn và quy mô nhất trên thế giới, chuyên môn đào tạo 23 ngành lặn dưới biển. Tính đến năm 2015, cơ sở này đã đào tạo và huấn luyện thành công hơn 4000 sĩ quan, hạ sĩ quan, thủy thủ, binh sĩ trở thành những người nhái chuyên nghiệp. Đến tháng 6/2016, Cao Hùng bàn giao lại chức vụ chỉ huy trưởng trung tâm lại cho người đồng cấp Cameron Chen rồi nhận nhiệm sở phục vụ tại Ngũ Giác Đài. Tháng 5/2017, anh được đề cử thăng cấp Đại tá cùng với bốn vị đồng cấp cũng là người Việt khác đó là Trung tá Tuan Nguyen, ngành giao tế Hải quân; Trung tá Han Quang Bui, Bác sĩ y khoa; Trung tá Hien Trinh, Bác sĩ nha khoa và Trung tá Tu Anh C. Halquist, Bác sĩ nha khoa. Các nhiệm vụ phi chiến đấu khác của anh là giúp cân đối ngân sách 140 tỉ Mỹ kim của Hải Quân tại Ngũ Giác Đài, tham gia viết chính sách cho Bộ Quốc Phòng, làm việc với lực lượng đặc nhiệm chống khủng bố của FBI ở San Diego, California, và thành lập đội chống bom cho cảnh sát trưởng ở Monterey, California. Vào thập niên 2020, Cao Hùng được điều chuyển đến chiến trường Afghanistan. Sau khi thủ phủ Kabul thất thủ dưới tay phiến quân Taliban vào tháng 8/2021 do động thái bất ngờ rút quân khỏi đất nước này của chính quyền Tổng thống Joe Biden, anh trở về Hoa Kỳ và chính quyền Biden quyết định cho anh xuất ngũ cùng lúc với Thiếu tướng Lương Xuân Việt (các anh thuộc phe Cộng Hòa). Ngày 2/10/2025, Cao Hùng chính thức được Thượng viện Hoa Kỳ bầu chọn làm Thứ trưởng Hải quân Hoa Kỳ với tỉ số phiếu thuận/chống là 52-45. Đúng 1 tháng sau, ngày 2/11/2025 Cao Hùng tham gia phái đoàn của Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ thăm và làm việc tại Việt Nam. Trong suốt 23 năm kết hôn, gia đình Cao Hùng phải chuyển nhà tới 13 lần vì ông phải đi công tác tới những tiểu bang khác nhau theo lệnh của quân đội. Cao Hùng từng huy động một hội thiện nguyện bao gồm các chuyên viên về chất nổ trong quân đội, và họ đã chế tạo một loại thiết bị phát thanh giấu trong những quả trứng Phục sinh, giúp cho các trẻ em khiếm thị tìm trứng dễ dàng. Nguồn: fandom.net.  
......

Ông Tổng Bí thư đến thăm dân để làm gì?

Hong Thai Hoang Thăm dân là tốt, nhưng đừng để mỗi lần thăm dân lại là một mùa tang tóc. Với cương vị là người đứng đầu Đảng – cũng đồng nghĩa là người đứng đầu quốc gia, ông đã chứng kiến đất nước này trải qua bao nhiêu mùa lũ lụt, bao nhiêu sinh mạng bị cuốn trôi, bao nhiêu mái nhà bị sập, bao nhiêu người mất trắng. Ông từng là Bộ trưởng, rồi Chủ tịch nước, và nay là Tổng Bí thư. Từ thấp đến cao nhất, ông đều đã thấy cảnh tượng này lặp đi lặp lại. Vậy khi ông đứng ở vị trí cao nhất, ông đã làm được gì để người dân không phải chịu cảnh này nữa? Không ai trách thiên nhiên. Nhưng người ta có quyền đặt câu hỏi về cách một quốc gia ứng phó với thiên nhiên. Bao năm qua, lũ vẫn về theo mùa, và người dân vẫn mất mát theo chu kỳ. Vậy, hệ thống cảnh báo đâu? Quy hoạch vùng lũ đâu? Những dự án đê bao, hồ chứa, kè sông, kè biển… giờ đang ở đâu? Và ai chịu trách nhiệm khi dân chết chìm trong những “quy hoạch treo”? Một quốc gia văn minh không được đo bằng số người đến “chỉ đạo sau lũ”, mà bằng việc đã chuẩn bị thế nào trước khi nước dâng. Ông mặc áo phao, đi ủng, đội mũ cối, lội nước. Nhưng xin hỏi,  khi ông đến, nước đã rút. Khu vực đó đã an toàn. Không cần áo phao, cũng không cần “đội hình cứu hộ”. Những tấm ảnh được chụp kỹ càng, có góc độ, có ánh sáng, có biên tập. “Phải chăng chúng ta đang cứu hình ảnh của lãnh đạo, chứ không còn đang cứu dân”? Ở nơi ông đứng, có áo phao, có quân đội, có phóng viên, có an ninh bảo vệ. Nhưng ở những nơi khác, vùng sâu, vùng xa, vùng trũng, người dân vẫn không có nổi một chiếc áo phao, vẫn phải trèo lên mái nhà, bám vào thân cây, chờ nước rút.   Khi ông nói “phải đảm bảo bà con có đủ ăn, đủ mặc, đủ học”, chỉ mong ông nhớ rằng, đủ ăn – đủ mặc – đủ học không thể đến từ những chuyến thăm, mà phải đến từ một chính sách dài hơi, có trách nhiệm và tầm nhìn.   Thưa ông, thăm dân là tốt, nhưng đừng để mỗi lần thăm dân lại là một mùa tang tóc. Người dân không cần ảnh chụp, không cần câu nói “thấu hiểu”, mà cần những thay đổi đủ lớn để nỗi đau này không lặp lại. Và cuối cùng, xin ông hãy tự hỏi: “Sau khi ông rời đi, có bao nhiêu người dân ở đó vẫn phải bơi qua nước lũ  mà không có áo phao”? Hong Thai Hoang  
......

Nhân dân đều biết, nhưng không ai được nói

Hong Thai Hoang   “Nhân dân đều biết”. Câu nói tưởng như khen, nhưng thực ra là một lời thú nhận. Bởi nếu dân đã biết hết tham nhũng ở đâu, tiêu cực ở đâu, lãng phí ở đâu thì vì sao nó vẫn tồn tại? Vì sao những kẻ gây ra nó vẫn bình an trong hệ thống?   Dân biết, nhưng không được nói. Nói thì bị quy chụp, bị cảnh cáo, bị khởi tố, bị tấn công bằng hàng ngàn tài khoản “dư luận viên”. Dân biết, nhưng không được quyền hỏi, không có cơ chế kiểm chứng, không được tiếp cận thông tin minh bạch. Dân biết, nhưng phải im vì nói ra là “gây mất đoàn kết”, là “lợi dụng dân chủ”, là “chống phá”. Nếu “mọi vi phạm, tội phạm đều được dân biết”, thì vấn đề không nằm ở dân, mà ở bộ máy điều tra, giám sát, thanh tra và tư pháp, những người được trả lương để biết sớm hơn dân, nhưng lại im lâu hơn dân.   Dân không có quyền truy cập hồ sơ, không có quyền giám sát ngân sách, không được tiếp cận các bản báo cáo kiểm toán hay tài sản cán bộ.Thế mà khi sự thật lộ ra, người ta lại nói: “Dân đều biết”. Vậy xin hỏi: Nếu dân biết, chính quyền có nghe không? Nếu dân biết, có ai dám xử lý không? Nếu dân biết, có ai trong bộ máy dám chịu trách nhiệm không? Hay chỉ chờ đến khi “biết quá nhiều” thì dân lại trở thành “đối tượng phải xử lý”? Câu nói “nhân dân đều biết” sẽ chỉ trở thành sự thật đúng nghĩa khi người dân được quyền nói điều họ biết, được quyền chất vấn người có quyền, và được bảo vệ khi họ nói thật. Khi đó, “nhân dân biết” mới không còn là lời nói suông mà là sức mạnh thật của một xã hội pháp quyền. ———— CÂU HỎI GỬI ÔNG THỦ TƯỚNG Nếu “dân biết hết”, thì đó là một xã hội có tri thức, có tầm nhìn. Nhưng khi dân biết, mà chính quyền vẫn để sai phạm diễn ra, thì vấn đề không nằm ở tri thức của dân — mà ở sự im lặng của người có quyền. Người đứng đầu Chính phủ chắc chắn biết nhiều hơn dân. Nhưng biết  mà không hành động, thì tri thức ấy vô nghĩa. Biết  mà không bảo vệ dân, thì niềm tin ấy cũng mất. Khi những người nói lên sự thật bị bịt miệng, khi những bài phản ánh tiêu cực bị chặn, thì “dân biết hết” chỉ còn là một câu nói rỗng. Vì biết  mà không được quyền nói, chính là bi kịch lớn nhất của một xã hội nói mình “minh bạch”. Hong Thai Hoang  
......

Pages