Hoàng Trường
Hai diễn biến gần đây đang làm thay đổi cách người Việt nhìn bản đồ an ninh quanh mình. Ở Campuchia, căn cứ hải quân Ream đã được mở rộng đáng kể với sự hỗ trợ của Trung Quốc; tháng 4/2025, Trung tâm Hậu cần và Huấn luyện chung Campuchia–Trung Quốc tại đây chính thức được khánh thành.[1] Tại Lào, Trung Quốc và Lào vừa đưa vào hoạt động Trung tâm Hỗ trợ và Huấn luyện chung Trung–Lào cùng Học viện Hàng không Hữu nghị Trung–Lào tại Ban Keun, cách Vientiane khoảng 50 km về phía bắc.[2]
Trên các diễn đàn tiếng Việt, những chữ như “gọng kìm”, “dao dí cạnh sườn”, thậm chí “tứ bề thọ địch” xuất hiện khá nhiều. Tâm trạng ấy có thể hiểu được. Phía Bắc là Trung Quốc; phía Đông là Biển Đông với Hoàng Sa, Trường Sa và sự hiện diện ngày càng thường trực của các lực lượng Trung Quốc; phía Tây Nam có Ream; nay phía Tây xuất hiện thêm Ban Keun. Ngay trong những ngày đầu tháng 10, câu chuyện hàng trăm tàu cá Trung Quốc xuất hiện ngoài khơi Quảng Ngãi lại làm những lo ngại ấy nóng lên.[3]
Nhưng ghép những điểm ấy lại rồi kết luận Trung Quốc đang thiết lập một “vòng vây Việt Nam” là đi quá xa những gì hiện có thể chứng minh. Ream vẫn thuộc chủ quyền Campuchia, Ban Keun nằm trên lãnh thổ Lào; Bắc Kinh tuyên bố các cơ sở mới ở Lào “không nhằm vào bất kỳ bên thứ ba nào”.[4] Lào và Campuchia càng không phải kẻ thù của Việt Nam.
Câu hỏi đáng quan tâm hơn vì thế không phải Việt Nam đã bị bao vây hay chưa, mà là: bản đồ chiến lược quanh Việt Nam đang thay đổi đến mức nào, và hậu quả sẽ ra sao nếu Việt Nam tiếp tục ở thế bị động trước những thay đổi ấy?
Điều đáng sợ là mất dần quyền lựa chọn
Trong nhiều thập niên, khi nói tới thách thức Trung Quốc, người Việt thường nhìn về hai hướng: biên giới phía Bắc và Biển Đông. Nay bản đồ ấy phải mở rộng về phía Tây và Tây Nam. Ảnh hưởng kinh tế, hạ tầng và an ninh của Trung Quốc tại Lào và Campuchia đã trở thành một biến số mà bất kỳ hoạch định chiến lược nghiêm túc nào của Hà Nội cũng khó có thể bỏ qua.
Ream và Ban Keun dĩ nhiên không phải Gạc Ma. Gạc Ma năm 1988 là một cuộc đụng độ quân sự trong hoàn cảnh lịch sử hoàn toàn khác, nơi 64 chiến sĩ Việt Nam thiệt mạng và Trung Quốc kiểm soát bãi đá cho tới nay. Đặt những địa danh ấy trên cùng một trục không phải để đồng nhất chúng, mà để nhắc lại một bài học: khi môi trường quyền lực thay đổi nhanh hơn khả năng ứng phó, cái giá của sự bị động thường chỉ hiện ra đầy đủ khi đã quá muộn.
Ở Biển Đông, sức ép cũng không nhất thiết phải mang hình thức chiến tranh. Sự hiện diện thường xuyên của hải cảnh, dân quân biển, tàu cá và các cơ sở quân sự Trung Quốc có thể từng bước thay đổi tương quan thực địa mà không cần một phát súng. Những hoạt động bồi đắp và xây dựng mới của Trung Quốc tại khu vực Hoàng Sa trong năm 2026 tiếp tục cho thấy hiện trạng trên Biển Đông không hề đứng yên.[5]
Đó là lý do cách nói “tứ bề thọ địch” vừa gây ấn tượng vừa dễ dẫn sai hướng. Điều Việt Nam đang đối diện gần với tứ bề sức ép hơn là tứ bề kẻ thù. Và hậu quả đáng ngại nhất của sức ép kéo dài không nhất thiết là mất lãnh thổ trong một ngày, mà là không gian lựa chọn chiến lược bị thu hẹp từng bước.
Một quốc gia có thể vẫn giữ nguyên biên giới, lá cờ và chính phủ nhưng quyền tự quyết thực tế đã giảm. Hôm nay là một nguồn nguyên liệu khó thay thế, ngày mai là một dự án hạ tầng khó từ chối, tiếp theo có thể là một tiêu chuẩn công nghệ, một chuỗi cung ứng hay một quyết định ngoại giao mà cái giá của việc nói “không” đã trở nên quá cao.
Chủ quyền vì thế không chỉ được đo bằng lãnh thổ. Nó còn được đo bằng khả năng nói “có” hoặc “không” mà không phải trả một cái giá vượt quá sức chịu đựng của quốc gia. Đó mới là hậu quả sâu xa của thế bị động.
Khi “không chọn phe” có nguy cơ trở thành “không còn nhiều lựa chọn”
Việt Nam lâu nay theo đuổi một chính sách có logic rõ ràng: không đứng hẳn về một cường quốc để chống một cường quốc khác, đồng thời mở rộng quan hệ với càng nhiều đối tác càng tốt. Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ–Trung ngày càng gay gắt, đó là lựa chọn hợp lý.
Nhưng có một điều kiện thường ít được nhắc tới: muốn không chọn phe thì trước hết phải có khả năng lựa chọn.
Nếu nguồn cung công nghiệp phụ thuộc quá lớn vào một thị trường; các dự án hạ tầng chiến lược ngày càng gắn với vốn và công nghệ của một phía; nền kinh tế không tạo đủ năng lực nội sinh; trong khi quan hệ với các đối tác khác dù mang những tên gọi rất cao vẫn chưa chuyển hóa thành năng lực cụ thể, thì “cân bằng” rất dễ trở thành cân bằng bằng diễn ngôn.
Quốc gia vẫn tuyên bố không đứng về bên nào nhưng biên độ hành động thực tế ngày càng hẹp.
Đây có lẽ là thách thức lớn hơn cả Ream hay Ban Keun. Trong khi Hà Nội nhấn mạnh đa phương hóa, các nước ngay sát Việt Nam cũng đang thực hiện những lựa chọn của họ. Campuchia có lợi ích của Campuchia; Lào có lợi ích của Lào. Khi sức hút kinh tế, hạ tầng và an ninh của Trung Quốc tăng lên, Việt Nam không thể mặc nhiên cho rằng ảnh hưởng lịch sử của mình tại hai nước ấy sẽ tồn tại mãi chỉ nhờ những khái niệm như “hữu nghị truyền thống”.
Cũng không thể coi ngoại giao là sự thay thế cho nội lực. Việt Nam có ngày càng nhiều đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện. Đó là tài sản quan trọng. Nhưng số lượng đối tác không tự động biến thành sức mạnh chiến lược. Điều cần hỏi là những quan hệ ấy đã giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường, công nghệ, quốc phòng, năng lượng và chuỗi cung ứng đến đâu.
Nếu không, một nghịch lý có thể xuất hiện: Việt Nam càng tuyên bố “không chọn phe” thì những điều kiện vật chất cho phép mình thực sự không chọn phe lại càng suy giảm.
Tô Lâm ở đâu trong phương trình Trung Quốc?
Đây cũng là lúc khó có thể né tránh câu hỏi về Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Trong một bộ phận dư luận, mật độ tiếp xúc Việt–Trung, những tuyên bố về “cộng đồng chia sẻ tương lai”, sự gần gũi giữa hai đảng và hợp tác ngày càng sâu giữa các bộ máy an ninh khiến ông bị gắn với nhãn “thân Trung Quốc” (pro-China).
Mối quan tâm ấy không hoàn toàn không có cơ sở thực tế để khảo sát. Trong cuộc gặp tháng 4/2026, Tập Cận Bình đã công khai nhấn mạnh với ông Tô Lâm về việc hai bên cần duy trì “nhận thức chiến lược” và đặc biệt coi trọng “an ninh chính trị”. Reuters đồng thời ghi nhận quan hệ hai nước đang ấm lên trong bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng Mỹ–Trung tại Đông Nam Á.[5]
Nhưng một phân tích nghiêm túc không thể đi từ nghi ngờ tới kết án. Không ai có thể nhìn vào bên trong suy nghĩ của một nhà lãnh đạo để biết ông ta thực sự nghĩ gì về Trung Quốc. Cách đáng tin cậy hơn là nhìn vào lựa chọn chính sách và hậu quả của những lựa chọn ấy.
Theo tiêu chuẩn này, chân dung Tô Lâm phức tạp hơn nhãn “pro-China”. Việt Nam dưới thời ông vẫn tích cực phát triển quan hệ với Mỹ, EU, Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc và nhiều đối tác khác. Chẳng hạn, trong chuyến thăm Pháp tháng 9/2026, Hà Nội và Paris tiếp tục nhấn mạnh hợp tác chiến lược, luật pháp quốc tế, UNCLOS và việc duy trì hòa bình, an ninh ở Biển Đông.[6] Nếu mục tiêu đơn giản là đưa Việt Nam vào quỹ đạo Bắc Kinh thì phần còn lại của chính sách đối ngoại ấy rất khó giải thích.
Nhưng cũng không thể bỏ qua một tầng sâu hơn của quan hệ Việt–Trung. Giữa hai quốc gia tồn tại những xung đột lợi ích rất thật, đặc biệt về chủ quyền và Biển Đông; trong khi giữa hai chế độ lại tồn tại những lợi ích tương đồng. Hai đảng cùng đặt nặng ổn định chính trị, an ninh chế độ, kiểm soát những thách thức đối với quyền lực và ngày càng cả những công nghệ phục vụ quản trị xã hội. Một phân tích của Reuters hồi tháng 4/2026 thậm chí ghi nhận xu hướng Việt Nam tiếp nhận ngày càng nhiều yếu tố của mô hình quản trị, công nghệ và quy định Trung Quốc trong lúc vai trò của bộ máy công an gia tăng.[7]
Ở đây xuất hiện một nghịch lý quan trọng: lợi ích của hai quốc gia không phải lúc nào cũng trùng nhau, nhưng lợi ích sinh tồn của hai chế độ lại có những chỗ gặp nhau khá sâu.
Tô Lâm đi lên đỉnh cao quyền lực từ Bộ Công an. Vì thế, không có gì khó hiểu nếu an ninh chính trị và an ninh chế độ giữ vị trí quan trọng trong cách ông nhìn an ninh quốc gia. Điều đó tự nó không chứng minh ông muốn Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc. Thậm chí hoàn toàn có khả năng một nhà lãnh đạo chuyên quyền đồng thời vẫn mang ý thức dân tộc mạnh; hai thuộc tính ấy không hề loại trừ nhau.
Nhưng chính ở đây xuất hiện phép thử quan trọng nhất đối với Tô Lâm: nếu có lúc yêu cầu bảo vệ chế độ và yêu cầu mở rộng quyền tự chủ của quốc gia không hoàn toàn trùng nhau, ông sẽ lựa chọn thế nào?
Câu hỏi này không nên trả lời bằng suy đoán tâm lý mà bằng chính sách. Thước đo quan trọng không phải Tô Lâm sang Bắc Kinh bao nhiêu lần hay sang Washington, Paris, Tokyo bao nhiêu lần; cũng không phải ông sử dụng bao nhiêu lần những chữ “độc lập, tự chủ”. Điều cần quan sát là dưới những chính sách của ông, Việt Nam đang có thêm hay mất bớt khả năng tự quyết trước một Trung Quốc vượt trội về sức mạnh.
Lúc cần lựa chọn mới phát hiện không còn gì để chọn?
Việt Nam không phải một quốc gia nhỏ bé bất lực. Một đất nước hơn một trăm triệu dân, nằm bên một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới, có nền kinh tế hội nhập sâu và quan hệ với hầu hết các trung tâm quyền lực lớn không thiếu những quân bài chiến lược. Vấn đề là những quân bài ấy đã được chuyển hóa thành năng lực đến đâu.
Không một chuyến công du nào tạo ra tự chủ chiến lược. Một danh sách dài “đối tác chiến lược toàn diện” cũng không tự động tạo ra cân bằng. Tự chủ phải được xây dựng từ một nền kinh tế bớt lệ thuộc, năng lực khoa học–công nghệ mạnh hơn, nguồn nhân lực có chất lượng, thể chế có khả năng tự sửa sai và một xã hội đủ sức sáng tạo để tạo ra những nguồn lực mới.
Ở đây còn một nghịch lý mà giới lãnh đạo Việt Nam khó né tránh. Một nhà nước càng thiếu lòng tin vào xã hội của chính mình thì càng khó huy động toàn bộ sức mạnh của xã hội khi đối diện áp lực bên ngoài. Nếu nhu cầu kiểm soát trong nước lấn át quá lâu nhu cầu xây dựng năng lực quốc gia, Việt Nam có thể tự làm yếu những nguồn lực cần thiết nhất để duy trì độc lập trước một láng giềng lớn hơn mình rất nhiều.
Bởi thế, bài toán Trung Quốc không thể giải bằng chủ nghĩa bài Trung Quốc, cũng không thể giải bằng cách tìm một cường quốc khác để dựa vào. Bài toán căn bản là làm thế nào để một Việt Nam sống cạnh Trung Quốc vẫn đủ mạnh để hợp tác khi lợi ích gặp nhau, đủ độc lập để nói “không” khi lợi ích xung đột và có đủ mạng lưới bên ngoài để cái giá của chữ “không” ấy không trở thành không thể chịu đựng.
Nhìn theo cách đó, Ream và Ban Keun chưa phải bằng chứng về một vòng vây. Nhưng chúng là những tiếng chuông báo rằng bản đồ xung quanh Việt Nam đang chuyển động và thời gian dành cho sự bị động không phải vô hạn.
Điều đáng lo không phải Việt Nam ngày càng có nhiều kẻ thù. Điều đáng lo là những thay đổi bên ngoài có thể diễn ra nhanh hơn khả năng Việt Nam tạo ra những lựa chọn mới cho chính mình.
Đó cũng là phép thử công bằng hơn đối với Tô Lâm. Chưa cần phải quyết định hôm nay ông là một nhà lãnh đạo “pro-China”, một người dân tộc chủ nghĩa hay một nhà chuyên quyền đang tìm cách tồn tại giữa các cường quốc. Lịch sử sẽ có một thước đo khách quan hơn: sau thời đại Tô Lâm, Việt Nam có nhiều lựa chọn hơn hay ít lựa chọn hơn trước Trung Quốc?
Sau Ream và Ban Keun, câu hỏi lớn nhất vì thế không phải Việt Nam đã bị bao vây hay chưa. Câu hỏi đáng lo hơn là nếu một ngày khủng hoảng thực sự xảy ra, Việt Nam còn bao nhiêu lựa chọn để bảo vệ lợi ích của mình.
Bởi thước đo cuối cùng của một chính sách đối ngoại độc lập không phải là số lần một quốc gia tuyên bố rằng mình “không chọn bên”, mà là số lựa chọn quốc gia ấy còn giữ được khi đến lúc buộc phải lựa chọn.
---------------------------
Nguồn tham khảo
[1] Asia Maritime Transparency Initiative/CSIS, A Tale of Two Reams: Questions Remain at Cambodia’s Growing Naval Base, 5/5/2025. AMTI/CSIS – Ream Naval Base
[2] Reuters, China carves new military presence in Southeast Asian neighbour, 30/9/2026. Ảnh vệ tinh cho thấy Ban Keun có đường băng lớn, đường lăn, sân đỗ và nhiều công trình mới; các chuyên gia thảo luận khả năng PLA có được quyền tiếp cận hậu cần thường xuyên. Reuters – Ban Keun, Laos
[3] BBC News Tiếng Việt, các phân tích mới về hoạt động của Trung Quốc tại Hoàng Sa và sự xuất hiện của số lượng lớn tàu cá Trung Quốc ngoài khơi miền Trung Việt Nam. BBC Tiếng Việt – Biển Đông và Hoàng Sa
[4] Bộ Quốc phòng Trung Quốc, China-Laos Joint Support and Training Center Opens at Ban Keun Airport, 30/9/2026. Đây là nguồn sơ cấp cho tên chính thức, ngày hoạt động và tuyên bố cơ sở “không nhằm vào bên thứ ba”. China Ministry of National Defense – Ban Keun
[5] Reuters, China's Xi calls for strategic clarity, political security with Vietnam, 15/4/2026. Reuters – Tập Cận Bình, Tô Lâm và “political security”
[6] Bộ Ngoại giao Việt Nam, Vietnam, France issue joint statement on promoting implementation of comprehensive strategic partnership framework, 12/9/2026. Vietnam–France Joint Statement
[7] Reuters, China model gains appeal in Vietnam as police expand power, 13/4/2026. Reuters – China model and Vietnam









































































































































































