Suy nghĩ về về bản chất dân chủ của bầu cử

Lê Quang Việt (LCST) - Điểm 3 Điều 21 Tuyên ngôn thế giới nhân quyền mà Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1948 đã nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực của nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quyền lực của nhân dân là tối thượng. Bản thân nhà nước không “tự nhiên” có quyền mà do nhân dân ủy quyền; quyền lực của người cầm quyền có thể bị tước bỏ, quyền lực của nhân dân thì không ai có thể tước bỏ nó đi được. Điều đáng nói ở đây là, mặc dù hành vi bầu cử rất đơn giản, nhưng vai trò, ý nghĩa của bầu cử lại rất to lớn, là hoạt động cụ thể và thiết thực nhất của quyền lực nhân dân. Dân chủ xét dưới góc độ tổ chức bộ máy nhà nước có nghĩa là nhân dân chính là chủ thể của quá trình tổ chức. Trong thế giới hiện đại, chính quyền thành lập không qua bầu cử - như bằng đảo chính quân sự - dù nhằm mục đích gì (kể cả được coi là chính đáng, như chính quyền cũ quá thối nát), thường không được các quốc gia, các tổ chức quốc tế công nhận, hoặc nếu có thì sự thừa nhận cũng hết sức dè dặt. Ngược lại, một chính quyền do người dân thành lập thông qua bầu cử theo những nguyên tắc tiến bộ: tự do, công bằng và trung thực, thì về nguyên tắc, chính quyền đó được coi là hợp pháp và được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế. Ý chí nhân dân là vấn đề quan trọng nhất của bầu cử bởi vì chỉ khi bầu cử mang ý chí nhân dân thì ý nghĩa dân chủ đích thưc của nó mới đạt được. Như vậy, chỉ bằng ý chí nhân dân thể hiện trong bầu cử, chính quyền mới được hợp pháp hóa.  Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình. Trong nhà nước dân chủ, bầu cử được tiến hành để xác định quyền cho những người đại diện nắm giữ những cương vị chính trị. Một vấn đề quan trọng của Luật Hiến pháp là việc nhân dân lựa chọn đại diện của mình để giữ những chức vụ đại biểu ở trung ương và địa phương. Vì thế việc phản ánh trung thực ý chí của nhân dân là vấn đề cốt lõi của mọi cuộc bầu cử. Như vậy, ý chí của nhân dân chính là nền tảng của quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, nhân dân chọn lựa cho mình người đại diện và ủy thác quyền lực cho họ. Nói cách khác, cơ quan đại diện nhận quyền lực từ nhân dân và thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực (chủ quyền nhân dân) trong bộ máy nhà nước. Chính vì lẽ đó, chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp được cộng đồng quốc tế công nhận.Vậy những yếu tố nào cần có để cuộc bầu cử mang đúng bản chất dân chủ thiết thực? Có thể cho rằng, đã nói đến bầu cử như là cách thức thành lập các chức danh nhà nước quan trọng theo ý chí của các thành viên của cộng đồng xã hội thì bầu cử chỉ có ý nghĩa nếu như nó được tiến hành tự do, công bằng, công khai, mở rộng, khách quan và chính xác. Những thuộc tính phải có của bầu cử nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ và là cơ sở của nhau, đôi khi giao nhau vì có chung những biểu hiện và suy cho cùng, cũng là để cho cuộc bầu cử thực sự dân chủ: kết quả của bầu cử là sự thể hiện ý chí chung của nhân dân, không phải ý chí nhà nước hay bất kỳ tổ chức nào đang tồn tại, kể cả các tổ chức có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị. Các yêu cầu cơ bản bảo đảm ý chí nhân dân trong bầu cử đã được nhân loại quan tâm trong nhiều thập niên và đã được đúc rút, tổng kết. Đó là việc phải duy trì các nguyên tắc bầu cử một cách thực chất bao gồm: phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Điều 25 Công quốc tế về quyền dân sự - chính trị 1966 khẳng định lại một lần nữa quan điểm công dân có quyền và cơ hội để “bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Bầu cử là phương thức hợp pháp hóa chính quyền văn minh tiến bộ và do đó cũng có tính phổ biến nhất trong thời đại ngày nay. Sự xuất hiện của một chính quyền mới hay nói cụ thể hơn là những người đại diện mới do dân thành lập theo định kỳ, qua một cuộc bầu cử công khai, rộng rãi và khách quan được coi là việc trao quyền hợp pháp, được đón nhận một cách tự nhiên trong hoạt động chính trị và trong quan hệ quốc tế. khi nào các quyền con người được tôn trọng và có cơ chế bảo vệ và thực thi trong một xã hội dân sự phát triển và một nền pháp quyền vững mạnh thi bầu cử nhất định sẽ đúng bản chất dân chủ. Nhận thấy rằng, khi tương quan lực lượng chính trị xã hội chỉ được đánh giá đúng, khách quan nếu bầu cử công khai, không gian lận. Đã gian lận trong bầu cử thì không thể nói đến ý chí nhân dân. Ở các quốc gia phát triển và trong thể chế chính trị đa nguyên đa đảng, nếu như ý chí của nhân dân được phản ánh trung thực, kết quả bầu cử là thước đo của sự phát triển và giá trị của các xu hướng chính trị, phục vụ nhu cầu thông tin chính trị của mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội. Bầu cử là phương thức hợp pháp hóa chính quyền văn minh tiến bộ và do đó cũng có tính phổ biến nhất trong thời đại ngày nay. Sự xuất hiện của một chính quyền mới hay nói cụ thể hơn là những người đại diện mới do dân thành lập theo định kỳ, qua một cuộc bầu cử công khai, rộng rãi và khách quan được coi là việc trao quyền hợp pháp, được đón nhận một cách tự nhiên trong hoạt động chính trị và trong quan hệ quốc tế. Hà Nội, Ngày 29 tháng 12 năm 2012 Lê Quang Việt Nguồn: http://luatcuasuthat.blogspot.com.au/2012/11/suy-nghi-ve-ve-ban-chat-dan...
......

TUYÊN BỐ PHẢN ĐỐI NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC IN HÌNH "LƯỠI BÒ" LÊN HỘ CHIẾU CÔNG DÂN

Chúng tôi, những người ký tên vào Tuyên bố này, cực lực phản đối hành động khiêu khích mới của nhà cầm quyền Trung Quốc cho in đường 9 đoạn bao trùm hầu hết Biển Đông (thường gọi là đường “lưỡi bò”) lên hộ chiếu cấp cho công dân nước mình. Hành động được tính toán này cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc ngoan cố tiếp tục thực hiện mọi thủ đoạn nhằm thôn tính Biển Đông, mở đường cho những bước leo thang mới của Trung Quốc trực tiếp xâm phạm chủ quyền quốc gia của các nước có liên quan trên Biển Đông, uy hiếp nghiêm trọng hòa bình và ổn định trong khu vực. Bước đi mới này bóc trần sự giả dối của các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi nói tại Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như tại Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 7 mới đây về hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước, đặc biệt là các nước ven Biển Đông. Đã có nhiều nước trên thế giới nghiêm khắc lên án những hành động trái luât pháp quốc tế này của nhà cầm quyền Trung Quốc và không chấp nhận hộ chiếu của công dân Trung Quốc có in hình xâm phạm chủ quyền nước khác.   Chúng tôi ủng hộ tuyên bố ngày 22-11-2012 của người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN, trong đó nêu rõ: “Việc làm trên của Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan đến Biển Đông”. Chúng tôi đồng tình với những việc làm của các nước trên thế giới lên án bước leo thang mới này của Trung Quốc trong việc thực hiện mưu đồ bành trướng.   Chúng tôi đòi nhà cầm quyền Trung Quốc phải:   - tôn trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền của các quốc gia có liên quan trên Biển Đông,   - từ bỏ mọi âm mưu “bẻ từng cái đũa trong bó đũa” chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông cũng như mọi việc làm cản trở sự thông qua Quy tắc ứng xử (Code of Conduct – COC) mà tất cả các quốc gia liên quan phải tôn trọng trên Biển Đông.   Chúng tôi cùng nhân dân cả nước kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các vùng biển và hải đảo của nước mình trên Biển Đông, đồng thời đoàn kết và cùng hành động với nhân dân các nước hữu quan đấu tranh cho hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển trên Biển Đông.   Chúng tôi luôn luôn coi trọng tình hữu nghị với nhân dân Trung Quốc, mong nhân dân Trung Quốc hiểu đúng sự thật lịch sử và luật pháp quốc tế về biển, không bị lừa mị và kích động bởi chính sách bành trướng của nhà cầm quyền mang danh chủ nghĩa dân tộc.   Chúng tôi, những người ký đầu tiên vào tuyên bố này mong đồng bào ở trong và ngoài nước tham gia ký tên để biểu thị sự đoàn kết nhất trí của dân tộc ta kiên quyết chống mọi hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia.   Hà Nội – Huế – Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25.11.2012   ĐỒNG KÝ TÊN: Ký tên và danh sách ký tên quý độc giả có thể vào Links bên dưới:http://boxitvn.blogspot.de/2012/11/thong-bao-ve-viec-tiep-nhan-chu-ky-vao.html#more
......

Tàu Trung Quốc lại cắt cáp tàu Bình Minh 2 của Việt Nam ?

Một nguồn tin còn đang được kiểm chứng, vào lúc gần 8 giờ sáng hôm nay, thứ sáu 30.11.2012 tàu  Trung cộng lại xâm nhập sâu vào lãnh hải VN cắt cáp tàu thăm dò Bình Minh 2. Blogger Mạnh Quân đã thông báo tin này trên internet. Sau đó cũng có tin trên trang mạng anh Ba Sàm cho biết các nhân viên đi trên tàu hộ vệ của tàu Bình Minh vừa báo về cho biết tàu này lại vừa bị tàu của phía Trung Quốc cắt cáp. http://anhbasam.wordpress.com/">http://anhbasam.wordpress.com/ http://huynhngocchenh.blogspot.de/">http://huynhngocchenh.blogspot.de/ Việc cắt cáp tàu Bình Minh 2 là có thật. (Petrotimes) - Ngày 30/11/2012, trên vùng biển gần đảo Cồn Cỏ của Việt Nam, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang làm nhiệm vụ lại bị các tàu Trung Quốc xâm hại, phá hoại cáp thu nổ địa chấn. Đây là một thủ đoạn mới của Trung Quốc khi cho tàu cá vừa đánh bắt hải sản trái phép vừa cản trở, xâm hại hoạt động hợp pháp của PVN trên vùng biển Việt Nam. Phóng viên Petrotimes đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Việt Dũng, Phó trưởng ban Tìm kiếm Thăm dò - phụ trách Văn phòng Biển Đông của PVN về vụ việc nghiêm trọng này. PV: Theo một số nguồn tin, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của PVN lại bị cản trở khi đang làm việc ở vùng biển Việt Nam. Xin ông cho biết thông tin cụ thể? Ông Phạm Việt Dũng: Vào lúc 4 giờ 5 phút ngày 30/11/2012, khi tàu Bình Minh 02 đang di chuyển từ tuyến PVN12-R009 về tuyến PVN12-R005 ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ để chuẩn bị khảo sát. Có rất nhiều tàu cá Trung Quốc đang hoạt động tại đây. Khi các lực lượng chức năng phát tín hiệu cảnh báo và yêu cầu các tàu cá ra khỏi khu vực làm việc của tàu Bình Minh 02, một cặp tàu kéo dã cào mang số hiệu 16025 và 16028 của Trung Quốc đã chạy qua phía sau tàu Bình Minh 02 và gây đứt cáp địa chấn của tàu Bình Minh 02 cách phao đuôi khoảng 25m. Vị trí cáp bị đứt có tọa độ là 17º26 Bắc và 108º02 Đông, cách đảo Cồn Cỏ 43 hải lý về phía đông nam và cách đường trung tuyến Việt Nam - Trung Quốc 20 hải lý về phía tây. PV: Xin ông cho biết đôi nét về nhiệm vụ của tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 và những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ này? Ông Phạm Việt Dũng: Từ tháng 5/2012 đến nay, tàu Bình Minh 02 tiến hành đề án khảo sát địa chấn 2D liên kết các bể trầm tích trên thềm lục địa Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 bắt đầu khảo sát các tuyến liên kết ở bể Cửu Long, sau đó là bể Nam Côn Sơn, bể Phú Khánh và hiện nay đang đang khảo sát các tuyến liên kết ở bể Sông Hồng tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ. Thời gian gần đây, có rất nhiều tàu cá Trung Quốc xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, với số lượng rất lớn, tập trung ở khu vực từ Cồn Cỏ đến Nam Tri Tôn, có ngày lên tới hơn 100 lần chiếc. Các tàu chấp pháp của Việt Nam đã yêu cầu các tàu cá Trung Quốc rút ra khỏi vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều tàu cá Trung Quốc vẫn cố tình quay trở lại xâm phạm vùng biển Việt Nam. PV: Vậy phía PVN đã có những phản ứng như thế nào trước vụ việc này, thưa ông? Ông Phạm Việt Dũng: Ngay sau khi xảy ra sự việc, PVN đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và tàu Bình Minh 02 nhanh chóng khắc phục sự cố, sửa chữa cáp địa chấn để sớm tiếp tục công việc. Đến 14 giờ ngày 1/12/2012, anh em đã khắc phục xong sự cố cáp địa chấn và tàu Bình Minh 02 đã tiếp tục công tác khảo sát bình thường. Việc tàu cá Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, không những vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam mà còn cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam và làm ảnh hưởng đến hoạt động trên biển của PVN. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam kịch liệt phản đối hành động xâm hại tàu Bình Minh 02 của tàu cá Trung Quốc và kiến nghị các cơ quan chức năng yêu cầu phía Trung Quốc giáo dục công dân Trung Quốc tôn trọng vùng biển Việt Nam, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các tàu Việt Nam, trong đó có các tàu khảo sát của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. PV: Xin cảm ơn ông. Tiến Dũng (thực hiện)www.petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/tau-ca-trung-quoc-gay-dut-cap-tau-bi...">http://www.petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/tau-ca-trung-quoc-gay-dut-cap...">www.petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/tau-ca-trung-quoc-gay-dut-cap-tau-bi...">http://www.petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/tau-ca-trung-quoc-gay-dut-cap...  Anh Ba Sàm bổ sung: hồi 17h5‘ cùng ngày, trang PetroTimes đã sửa lại cái tựa cùng một số chi tiết trong nội dung bài, như bỏ đi đoạn “Đây là một thủ đoạn mới của Trung Quốc khi cho tàu cá vừa đánh bắt hải sản trái phép vừa cản trở, xâm hại hoạt động hợp pháp của PVN trên vùng biển Việt Nam.” Còn chữ “phá hoại“ thì được sửa thành “gây đứt“ v.v.. Rõ ràng đã có sự chỉ đạo ở trên muốn làm nhẹ vụ việc này. Chúng tôi đã chụp lại toàn bộ bản gốc ban đầu của bài báo, đăng lại ở cuối trang. http://anhbasam.wordpress.com/2012/12/03/1436-tau-trung-quoc-lai-cat-cap...  
......

Đối phó với Trung Quốc bằng cách nào

Trước những hành động khiêu khích của Trung Quốc đối với các nước trong khu vực, đã đến lúc phải nhìn vấn đề một cách cụ thể hơn, ngay cả tình huống chiến tranh sẽ được Trung Quốc tiến hành. Đài Á châu Tự do đưa ra hai câu hỏi cho ba nhân sĩ trí thức hải ngoại nhằm tìm hiểu thêm nguyện vọng của một số lớn người Việt trước tình hình căng thẳng và rất nguy hiểm cho đất nước hiện nay. Ba vị khách mời là Giáo sư Vũ Quốc Thúc hiện sống tại Pháp. Giáo sư đã giảng dạy tại Đại học Luật Khoa Sài Gòn và từng giữ chức Quốc Vụ Khanh từ năm 1968 cho tới 1972 dưới chính phủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Khách mời thứ hai là TS Phùng Liên Đoàn chuyên viên về hạt nhân. Trước năm 1975 ông làm việc tại Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, sau năm 75 ông là Tổng giám đốc công ty tư vấn Professional Analysis có văn phòng tại Nevada và Tennessee chuyên tư vấn các vấn đề về nhà máy hạt nhân. Người thứ ba là ông Ngô Nhân Dụng, trước năm 1975 ông là giáo sư văn chương ở các trường Chu Văn An, Nguyễn Du. Sau năm 1975 ông giảng dạy tại các trường Võ Bị Hoàng Gia St. Jean, đại học Concordia, đại học McGill và đại học Québec tại Montréal (UQAM) về môn Tài chánh xí nghiệp. Hiện nay ông là cây bỉnh bút của Nhật báo Người Việt Tại California. Việt Nam cần làm gì? Mặc Lâm: Thưa giáo sư, theo ông thì Việt Nam cần tập trung vào điều gì nhất trong chiến lược lâu dài nhằm đối phó với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông? Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Theo tôi thì Việt Nam chúng ta phải tìm cách thay đổi thể chế của mình đã. Trước hết mình phải làm thế nào cho mỗi người Việt Nam trong hay ngoài nứơc đều hãnh diện mình là người Việt Nam. Chuyện làm tôi bận tâm nhất là một phần lớn người Việt ở hải ngoại không muốn về nước nữa. Trong khi đó lại có xu hướng người trong nước, nhất là người trẻ lại muốn được ra hải ngoại để sung sướng hơn. Chuyện Biển Đông một khi chúng ta thống nhất, đoàn kết, một lòng một dạ thì ta không sợ ai cả. Một khi nhất trí thì mình sẽ bảo vệ đất nước một cách dễ dàng còn nếu chia rẽ trong nội bộ thì ngoại quốc sẽ lợi dụng tình trạng đó để xâm chiếm lãnh thổ của mình. Phải thống nhất nhân tâm. Khi toàn dân đồng lòng và lúc đó các đường lối được áp dụng chỉ chú trọng tới quyền lợi tối thượng của dân tộc chứ không riêng cho ai cả. Mặc Lâm: Cũng câu hỏi này xin được dành cho nhà báo Ngô Nhân Dụng. Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Đối với vần đề Biển Đông tôi nghĩ chính quyền Việt Nam ngay bây giờ nên tìm cách quốc tế hóa vấn đề này. Đưa vấn đề này ra trước nhất tại Đông Nam Á và thứ hai là đưa ra trên các diễn đàn và các tòa án quốc tế để yêu cầu Trung Quốc phải giảm bớt những hành động có tính cách xâm lược, đè nén đối với người dân Việt Nam chứ không phải đối với chính quyền Việt Nam. Đây là một việc cần làm ngay nhưng muốn cho công cuộc bảo vệ chủ quyền của nước ta ở Biển Đông hữu hiệu và lâu dài thì chuyện đầu tiên là Việt nam phải mạnh lên. Muốn mạnh lên thì Việt Nam cần phải đạt tới tỷ lệ tăng trưởng mỗi năm 9-10%. Việc phát triển kinh tế đó không phải là việc một chính quyền có thể một mình đứng ra làm đựơc mà cần phải có sự tham gia của toàn dân. Mà muốn toàn dân tham gia thì cần phải cải tổ không những cơ cấu kinh tế hiện nay quá chú trọng đến quốc doanh mà cần phải cải tổ cả chính trị để cho dân chúng có được tiếng nói về việc điều khiển công việc quốc gia thì lúc bấy giờ dân mới có thể giàu, nước mới có thể mạnh được. Mặc Lâm: Và xin TS Phùng Liên Đoàn cho ý kíến. TS Phùng Liên Đoàn: Theo tôi nghĩ mình là nước nhỏ, yếu mà lại gần Trung Quốc nhất nên họ sẽ đối xử với mình bằng nhiều chuyện như đã rồi. Giống như những trận đánh tại biên giới hay Hoàng Sa, Trường Sa thành ra mình phải hết sức mềm mỏng và phải tìm rất nhiều người bạn quốc tế. Phải biến vấn đề này thành vấn đề quốc tế chứ mình không thể cứng được bởi vì Việt Nam chỉ thiệt mà thôi bởi vì không có lợi gì trong cuộc đọ sức không cân xứng này. Nếu chiến tranh xảy ra... Mặc Lâm: Bằng kinh nghiệm của mình thì theo quý vị, người Việt hải ngoại có sẵn lòng để đóng góp tiền bạc, trí tuệ thậm chí xương máu khi có chiến tranh xảy ra với Trung Quốc hay không? TS Phùng Liên Đoàn: Cả hai ba triệu người Việt ở hải ngoại, bất kể làm việc bằng đầu óc hay chân tay họ luôn luôn có những bầu máu nóng yêu nước nhưng đóng góp bằng cách nào thì đó là một vấn đề khác. Vì đóng góp kể cả xương máu thì phải về Việt Nam đầu quân nhưng sự thực vấn đề liên lạc giữa chính phủ Việt Nam và người hải ngoại rất rời rạc không có một điều gì để thúc đẩy cho người Việt hải ngoại về Việt Nam thực hiện điều đó. Hai nữa đóng góp ở ngoại quốc thì bằng tiền bạc hay vận động những cơ quan bạn bè hay chính phủ của nước sở tại thì tôi nghĩ người Việt có thề làm được nhưng phải có tổ chức. Tổ chức ra sao, đóng góp cách nào thì cần phải có sự liên lạc rất là thân thiện giữa chính phủ và kiều bào. Nhưng hiện giờ chính phủ Việt Nam không màng gì tới ý nghĩ và sự đóng góp của người Việt trong nước. Một số nhỏ làm việc trong tư cách lãnh đạo nhưng quyết định tất cả các công việc hệ trọng của đất nước thành ra làm nản lòng những người muốn đóng góp trí tuệ cũng như sức lực, tiền bạc, xương máu cho đất nước. Mặc Lâm: Xin được quay lại với giáo sư Vũ Quốc Thúc. Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Đó là bổn phận chứ không phải chuyện sẵn lòng hay không sẵn lòng một khi đã coi mình là dân Việt Nam. Nếu có xảy ra chiến tranh với Trung Quốc thì bằng mọi cách phải chống lại kẻ ngoại xâm. Nhưng điều trước tiên là ở trong nước phải làm thế nào để đoàn kết toàn dân. Hơn tám chục triệu người trong nứơc sẽ bị trước tiên nếu Trung Quốc xâm lăng. Rồi những người ở hải ngoại cũng sẽ về đóng góp lúc đó sẽ có những người cho rằng tôi không phải là dân Việt Nam nữa thì những người đó phải có sự chọn lựa. Trái lại nếu bảo rằng Việt Nam không thay đổi nên tôi chẳng về, thế thì mình đã quên tư cách người Việt Nam của mình thì hà tất phải bàn về thái độ đó nữa vì người ta đã chọn lựa rồi. Mặc Lâm: Và nhà báo Ngô Nhân Dụng, ông nghĩ thế nào? Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Bất cứ ai là người Việt Nam, phần lớn người Việt ở nước ngoài đểu có tấm lòng thiết tha đối với tổ quốc vì vậy họ lúc nào cũng sẵn sàng đóng góp. Họăc là hiểu biết, họăc là tiền bạc, sức lực vào việc bảo vệ chủ quyền của nứơc Việt Nam. Nhưng tất nhiên người ta cũng phải dè dặt và chỉ góp công vào nếu người ta thấy việc góp công đó đưa tới sự phồn thịnh thật sự cho đất nứơc. Đưa tới được một nước Việt nam trong đó người dân được tự do phát triển. Điều kiện để cho tất cả mọi người Việt Nam hải ngoại tham gia vào việc bảo vệ tổ quốc là phải có một nước Việt Nam thật sự tự do và độc lập. Mặc Lâm: Xin cảm ơn ba vị khách mời, cám ơn quý thính giả đã bỏ công theo dõi chương trình lấy ý kiến này. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/how-to-cope-w-cn-threat-ml-11282012152946.html
......

Đập thủy điện Đăk Mek 3 vỡ vì dùng bê tông... đất trộn cát

Liên quan đến vụ vỡ đập thuỷ điện Đăk Mek 3 gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng và làm chết một công nhân, theo báo Dân Trí, trong cuộc họp báo sáng nay 29/11, UBND tỉnh Kon Tum nhận định: Chủ đầu tư đã thi công đập sai so với hồ sơ thiết kế cơ sở. Ông Bùi Văn Cư - Phó Giám đốc Sở Công thương - giải thích, đơn vị tư vấn đã đề xuất với chủ đầu tư rằng với loại đập bê tông trọng lực thì phải dùng bê tông đá hộc, vữa mác 150 và bơm liên tục để tạo nên một thân đập có kết cấu vững chắc. Song tại hiện trường, đơn vị thi công lại cho chở đất, đá cuội, sỏi dưới lòng suối để đổ vào bên trong thân đập.  Ông Cư còn cho biết thêm, phần thượng lưu của thủy điện bị vỡ gần hết. Trong thiết kế cơ sở, đập thủy điện Đăk Mek 3 có tổng chiều dài 165m, do đó thông tin công an huyện Đak Glei đo đạc phần bị vỡ là 109m là hoàn toàn có cơ sở. Trong khi đó, chủ đầu tư lại đưa ra con số: phần đập bị vỡ là 60m, chiều dài của đập là 80m, không hiểu có dụng ý gì? ông Cư khẳng định: "Đối với công trình thủy điện nhỏ do tư nhân làm chủ đầu tư, mọi khâu từ thiết kế, thi công đến giám sát đều do chủ đầu tư quyết định. Do vậy, không ai kiểm soát được chủ đầu tư chi thực tế bao nhiêu tiền để xây dựng công trình. Chủ đầu tư nói chi phí xây dựng là trên 200 tỷ đồng nhưng thực tế họ làm hết bao nhiêu chỉ họ mới biết. Và chuyện cơ quan chức năng không có hồ sơ thi công là chuyện bình thường".   Dư luận cho rằng dù bất cứ lý do gì, từ sư vô trách nhiệm của chính quyền đến văn hóa tham lam, rút ruột công trình, „ăn thiệt, làm dối“ của chủ đầu tư, thì những thiệt hại nếu có sự cố xảy ra, chỉ có người dân là lãnh đủ.
......

Trung Quốc đòi khám xét tàu thuyền ở biển Đông

Hôm Thứ Tư 28/11/2012, tờ Trung Quốc Nhật báo, bản Anh ngữ đưa tin nhà cầm quyền tỉnh Hải Nam hôm thứ Ba 27/11/2012 đưa ra Quyết định bắt đầu từ tháng 1.1.2013 cảnh sát biên phòng tỉnh Hải Nam, được lệnh khám xét và có quyền nắm quyền khống chế tàu và các phương tiện liên lạc của các tàu bị coi là “xâm nhập bất hợp pháp vùng biển chủ quyền” , mà Bắc Kinh xem là lãnh hải của mình ở biển Đông hoặc ra lệnh cho những tàu đó đổi hướng hoặc ngừng chạy. Quyết định còn nhấn mạnh cảnh sát biên phòng còn tăng cường tuần tra các vùng biển thuộc cái gọi là thành phố Tam Sa và phối hợp hoạt động với các hoạt động tuần tiễu thường xuyên trên biển Đông để bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển. Rõ ràng, quyết định nói trên nhắm phần lớn vào tàu thuyền Việt Nam và Philippines.   Hành động này được tiếp theo các hành động như xây dựng cơ sở Radar quân sự, phi đạo cho phi cơ, thành lập thành phố Tam Sa, thành lập Bộ chỉ huy quân sự Tam Sa đặt ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, xây dựng hạ tầng cơ sở, đường xá, nhà cửa, nhà máy lọc nước, nhà máy “xử lý” rác, nhà bưu điện, cơ sở khí tượng ở Phú Lâm, cho in bản đồ thành phố TamSa, in hình đường lưỡi bò trên hộ chiếu của công dân Trung quốc,… chứng tỏ chủ trương bá quyền bành trướng của Bắc Kinh trước sau như một, dù có thay đổi lãnh tụ.   Cho tới nay, Bắc Kinh luôn rêu rao rằng không muốn gia tăng căng thẳng với các nước chung quanh. Nhưng trong thực tế vẫn tiếp tục các hành động lấn tới, đẩy thêm áp lực.   Với việc cứ khư khư ôm16 chử vàng và 4 tốt của lãnh đạo CSVN, không biết rồi đây ngư dân VN, thậm chí kể cả các tàu hải quân hay tàu “công vụ”, cảnh sát biển Việt Nam hoạt động trong những vùng biển mình tuyên bố chủ quyền nhưng nằm trong cái “Lưỡi Bò” sẽ ra sao.
......

Đảng là bà của luật pháp

Chúng ta thường xuyên nghe cụm từ “Đảng và Nhà nước”. Tại sao phải đưa từ Đảng vào cụm từ đó và đứng trên Nhà nước, làm nhà nước mất thiêng, vừa tốn kém giấy mực vừa gây nhầm lẫn cho quốc tế ? (vì đảng tiếng anh còn có nghĩa là bữa tiệc)   Phải dùng cụm từ đó là vì nhân dân Việt Nam đang “một cổ hai tròng”, có 2 bộ máy song trùng đè đầu cưỡi cổ. Cứ bên Chính phủ có một “Bộ” là bên Đảng có một “Ban”. “Ban” chỉ đạo còn “Bộ” thực hiện. Dân phải kiếm tiền nuôi hai người tự nhận là lãnh đạo cỡi trên lưng, thỉnh thoảng lại có một cái bóng nằm giữa cũng tự xưng là lãnh đạo.   Công khai lấy tiền của dân   Điều 46 điều lệ của Đảng cộng sản, có quy định là: “tài chính đảng gồm các nguồn thu từ: Đảng phí, hoạt động kinh tế của Đảng và ngân sách Nhà nước”. Đảng phí thì ít, hoạt động kinh tế thì lỗ, thậm chí phải bù thêm. Phần nhiều nhất, quan trọng nhất cho hoạt động của đảng là là đến từ ngân sách Nhà nước.   Khi cần tiền thì đảng sang Bộ tài chính lấy và hầu hết chi bằng tiền mặt. Hoạt động của Đảng có ghi ra thành mục, tương ứng với các dòng vốn chi cho các hoạt động đó nhưng một số cơ quan của trong ngành an ninh, nội chính còn lấy lý do bảo mật thậm chí không ghi hạng mục và hạn mức, tự “vẽ” dự án, chuyên án cho riêng mình để chi tiêu.   Cho đến nay dân chưa bao giờ được nhìn thấy báo cáo kiểm toán công khai xem cơ quan Đảng đã sử dụng bao nhiêu tiền của dân và chi tiêu về vấn đề gì ?. Người dân không ai biết được ngoại trừ bộ phận kinh tài của đảng, và các đơn vị đi thanh tra, kiểm tra với nhau. Kiểm toán Nhà nước thì cũng đưa thông tin nhỏ giọt và có mục đích riêng.      Tại sao nhân dân lại phải đóng thuế nuôi đảng ? Có người đã hỏi điều này ở đại hội thì ông Đỗ Mười khi đó là tổng bí thư trả lời là: “Đảng lãnh đạo dân thì nhận lương của dân là hợp lý”. Nhưng dân có cần đảng lãnh đạo không khi họ đã có Nhà nước ?. Nghiêm trọng hơn là sau này nếu có một đảng nào đó lên lãnh đạo rồi học theo cách đảng Cộng sản cũng đòi tiền ngân sách thì sao ?   Tóm lại ta có thể hình dung Mẹ Việt Nam hằng ngày, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, nhưng lại phải cõng trên lưng 2 người rất béo, rất khỏe và ông nào cũng đòi lãnh đạo. Một ông thì lãnh đạo bằng Nghị quyết còn ông kia thì bằng Luật pháp, mẹ giống như con trâu đã bị xâu mũi kéo cày, hai bên 2 dây thừng, thỉnh thoảng ông lãnh đạo này lại giật sang bên trái, lúc thì ông khác ghì về bên phải.   Đảng là “bà” của luật   Một điều tréo cẳng ngỗng nữa là Quốc hội làm ra luật và Điều 4 Hiến pháp cũng quy định là đảng hoạt động “trong khuôn khổ Hiến Pháp và pháp luật”.Nhưng quốc hội lại phải dựa vào Nghị quyết để làm luật. Đảng nằm trong luật, luật nằm trong Nghị quyết nhưng Đảng lại “đẻ” ra Nghị quyết. Điều đó nghĩa là Đảng là “bà”, luật là “cháu” nhưng bà lại nằm trong bụng cháu.   Điều này dẫn đến sự thất bại thảm hại về thực tiễn. Lý do là thực tiễn rất sinh động và đời sống xã hội phải thay đổi luôn luôn. Như Tố Hữu đã nói cái “hòn máu đỏ” vô tổ quốc, vô gia đình (không quê hương sương gió tơi bời) đó cũng phải lớn lên, thay đổi, chạy theo để “rượt đuổi” thực tiễn phát triển xã hội và ban hành ra “Nghị Quyết” mới, từ Nghị quyết đó lại đi xây dựng Luật mới. Như vậy là bắt đầu lại khởi tạo một vòng tròn lập quy ngẫu hứng và nhiều khi mang tính phản động cao.   Đất nước đã có luật thì cứ theo luật mà làm, sao lại còn phải có Nghị Quyết. Chính việc ban hành các Nghị quyết đã thể hiện rõ tính chất lâm thời của đảng. Cứ tưởng có cả Nghị Quyết và cả Luật thì chắc ăn nhưng thực ra chính là nơi tạo ra khe hở. Sau đây là ví dụ thoát hiểm.   Đồng chí X thắng hai kiện tướng   Đồng chí X vừa là một uỷ viên BCT vừa là Thủ tướng, ngài tồn tại với 2 tư cách và chuyên môn khác nhau, thậm chí đôi khi trái ngược nhau. Với tư cách là ủy viên BCT, đồng chí X cùng 13 người khác ra một Nghị quyết. Sau đó đồng chí X dựa vào Nghị quyết để thực hiện với tư cách là Thủ tướng. Khi hậu quả xảy ra, lẽ ra đồng chí X, với tư cách là ủy viên BCT thì phải “chịu trách nhiệm chính trị theo nghị quyết” và với tư cách là Thủ tướng ông phải“chịu trách nhiệm pháp lý theo luật”   Thế nhưng ông đã thắng cả 2 cửa. Trong Đảng Đồng chí X bảo tôi làm theo “quy định của pháp luật” và chịu trách nhiệm pháp lý vì Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp Luật. Ông cũng không quên giải trình về sự liên quan của 13 vị khác trong một trách nhiệm pháp lý chung theo luật định. Nhưng khi ở diễn đàn quốc hội, nơi dân chúng quan tâm và bàn về Luật và trách nhiệm pháp lý thì Đồng chí X lại khẳng định là mình theo đảng, làm theo Nghị quyết của Đảng và “chịu trách nhiệm chính trị với đảng”.   Điều này làm cho chúng ta nhớ lại một câu chuyện là cậu bé đánh thắng cả 2 nhà quán quân. Một kiện tướng cờ và một kiện tướng bài Poker. Chính cậu bé thách đấu cả 2 và khi cậu bé chạy đi chạy lại giữa 2 toa tàu là lúc cậu dùng kiến thức của kiện tướng này để đánh với người kia và ngược lại.   Đồng chí X đã dùng kiến thức kinh tế, pháp lý của mình để nói rất đúng trong  nội bộ đảng về Luật, sau đó lại chạy sang Quốc hội để đáp lại quốc hội tại diễn đàn chung theo Nghị quyết.   Phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật   Hiến pháp và Pháp luật phải đại diện cho công lý, là nền tảng vững chắc cho đất nước và con người phát triển. Nó không phải là một ông kễnh với bộ não của một cậu bé vừa muốn nhận mình là khiêm tốn lại thích phán ra những điều kinh thiên động địa cho mai sau.   Và để không còn một cổ hai tròng, để đảng không còn lấy tiền dân chi tiêu cho riêng mình, không còn ai làm sai và thoát hiểm nữa thì Quốc hội phải độc lập làm ra luật, chính phủ thực thi luật và tòa án đứng ra canh giữ luật đó. Các cơ quan phải độc lập và đối trọng lẫn nhau thì mẹ Việt Nam mới đỡ bị một lúc 2 kẻ xâu mũi dắt đi lung tung theo chủ trương đầy ngẫu hứng như kẻ say rượu.     nguồn:http://lequocquan.blogspot.ca/2012/11/
......

Những tấm hộ chiếu và nỗi nhục của người Việt

Tấm hộ chiếu bành trướng và những phản ứng Mấy hôm nay, không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới xôn xao về tấm hộ chiếu Trung Cộng vẽ đường lưỡi bò chiếm 80% Biển Đông, phần lãnh thổ tranh chấp với Ấn Độ, Đài Loan, Nam Hàn vào hộ chiếu cấp cho công dân họ đi khắp thế giới. Đây là một đòn bẩn, nhằm buộc các nước vào thế khó, nếu đóng dấu chứng thực vào tấm hộ chiếu này, nghĩa là công nhận phần lãnh thổ tham vọng đó thuộc Trung Cộng. Nói đến những đòn bẩn của anh bạn 16 chữ vàng và 4 tốt của đảng và nhà nước ta, thì kể suốt ngày không hết. Không chỉ chuyện bây giờ mà từ ngàn xưa đến nay vẫn thế, ai mà không biết. Dù với thời đại nào, chính thể nào ở Trung Hoa, thì âm mưu bành trướng bá quyền vẫn là một hằng số, không thay đổi. Vấn đề biết vậy, nhưng hành động với nó ra sao, là điều cần bàn. Tấm hộ chiếu bành trướng vẽ đường lưỡi bò Khắp nơi trên thế giới, những phản ứng mạnh mẽ đã được đưa ra: Ấn Độ quyết định cấp thị tờ thực khẳng định phần lãnh thổ tranh chấp là của mình. Còn Philippines thì Bộ trưởng Ngoại giao chính thức gửi công hàm ngoại giao đến Bắc Kinh và gọi bản đồ là “tuyên bố vô lý về không gian hàng hải và là vi phạm luật pháp quốc tế”. Ngoài ra, còn Đài Loan cũng lên tiếng phản đối điều này. Ở Việt Nam, người dân mới tá hỏa tam tinh chỉ biết tin đó khi Người phát ngôn BNG trả lời câu hỏi của một phóng viên tọc mạch về cái hộ chiếu bành trướng. Thậm chí, còn được nghe rằng đã gửi công hàm phản đối đến Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội. Thế rồi báo chí tung tin rằng “cửa khẩu quốc tế Lào Cai đã đóng dấu hủy vào 111 hộ chiếu của công dân Trung Quốc có in hình đường lưỡi bò khi nhập cảnh vào VN”. Thực chất là chỉ đóng dấu hủy vào những thị thực mà Việt Nam đã cấp, đã dán vào cái hộ chiếu có hình lưỡi bò, chứ đâu dám đóng dấu hủy vào hộ chiếu của anh bạn vàng(!) Thậm chí, ngày hôm nay, báo chí Việt Nam còn hớn hở đưa tin “Mỹ không chứng thực hộ chiếu “đường lưỡi bò” của Trung Quốc”. Nhưng thực chất chỉ là ‘Mỹ không thừa nhận “lưỡi bò” trên hộ chiếu TQ” chứ không phải không cấp thị thực như báo chí đã loan tin trước đó. Thực ra, anh bạn vàng thâm hiểm phương Bắc đâu cần sự công nhận ngay bằng lời của Mỹ, Anh hay Pháp hoặc bất cứ nước nào. Nó cứ âm thầm để đó, đến một lúc nào đó cần thiết sẽ đưa ra lu loa rằng anh đã đóng dấu vào đây là công nhận cái này. Bài học về công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng vẫn còn đó. Mà việc này, đâu có ảnh hưởng gì đến Mỹ mà Mỹ phải không chứng thực. Những kẻ mất nhà, mất nước hẳn hoi còn ú ớ không dám kêu lên, thì vạ gì nước Mỹ phải làm điều đó? Thế rồi, báo chí “lề trái” lại tọc mạch khui ra rằng cái hộ chiếu bành trướng đó, Trung Cộng đã thực hiện từ đời tám hoánh nào rồi, tức là cách đây tận nửa năm. Cảm giác gì với tấm hộ chiếu bành trướng? Những người hô Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam đã bị coi là “thế lực thù địch” của nhà nước(!) Thử nghĩ xem, khi một tên cướp đến nhà bạn, mang trên tay tờ giấy xác nhận ngôi nhà, mảnh vườn ông cha bạn để lại và hiện bạn đang ở là của nó. Bạn sẽ nghĩ gì và bạn sẽ làm gì? Nếu không thẳng tay tát vào mặt nó, thì ít nhất bạn sẽ xé nhỏ tờ giấy vứt vào mặt nó, đuổi thẳng cổ nó ra khỏi cửa mà rằng: “Cút ngay, bọn ăn cướp”. Ở đây, mấy tháng qua, nhà nước ta vẫn để những kẻ đó vào đất nước mình, nghênh ngang đi lại như không. Động tác chỉ có thể làm là cấp một tờ thị thực rời khác cho chúng vào ra mà thôi. Còn mọi thông tin khác thì bịt mất. Trong nửa năm qua, các cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Trung cộng, các cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng nghĩ gì khi cầm trên tay tấm bản đồ hình lưỡi bò để đóng dấu xác nhận lên đó khi người Trung Quốc đưa đến cho họ? Họ có thấy vinh quang khi Tổ Quốc đang ngang nhiên bị cướp trắng trợn bằng văn bản trước mặt mình? Nếu họ thấy căm phẫn, bất bình chắc chắn sẽ không phải đến tận bây giờ nhân dân mới biết được âm mưu và thủ đoạn của bọn bành trướng đối với đất nước, Tổ Quốc chúng ta qua câu hỏi của một phóng viên nào đó với Người phát ngôn? Còn nếu họ không thấy sự bất bình hoặc căm phẫn thì họ là ai? Cư dân mạng chỉ biết kêu lên rằng Nhục. Mà không thể nói là không nhục nhã, khi tên cướp xông vào tận nhà đưa giấy cho anh, bắt anh công nhận nhà đất của anh là của nó mà anh phải im lặng, phải nghiến răng âm thầm chịu đựng. Nỗi nhục đó to lớn biết nhường nào. Nhà thơ Đỗ Trung Quân kêu lên trên mạng xã hội: “Nếu thiếu mồi nhậu đi xin: Không nhục, nếu thiếu tiền uống rượu xin hỏi bạn: Không nhục, nếu thiếu tiền đổ xăng xin bạn: Không nhục, nếu bạn không cho phải nằm nhà: Không nhục. Nhưng nó in đường lưỡi bò mà im re hay chỉ thều thào mấy câu lấy lệ: Quá Nhục”. Thì ra vậy, người dân Việt Nam thấy nhục, thấy căm phẫn, thấy bất bình khi cầm tấm hộ chiếu bành trướng của ngoại bang muốn ăn cướp cả Tổ Quốc mình. Chợt nhớ lời Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn: “Trông thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ… Nay các ngươi: nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục không biết thẹn; làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm”. Đã hơn 700 năm, sao lời Hịch như vẫn còn tính thời sự hôm nay? Thế mới biết người xưa đâu có vô cảm, vô liêm sỉ như người nay. Lại nhớ chuyện cầm tấm hộ chiếu TGM Giuse Ngô Quang Kiệt tại UBND Tp Hà Nội Còn nhớ, cách đây không lâu, sau buổi họp với UBND Thành phố Hà Nội, Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt đã đơn sơ nói lên tâm sự của mình, ngài nói: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng”. Thế rồi báo chí nhà nước, Thông tấn xã Việt Nam đăng tin buổi họp kết quả tốt đẹp… Nhưng chỉ chưa đầy 24 giờ sau, hệ thống báo chí được huy động tối đa ra sức cắt xén câu nói của ngài thành “chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam” để thóa mạ, để vu cáo, để đánh đòn hội đồng và kích động cơn lên đồng khát máu tập thể đối với Ngài. Thậm chí, nhà cầm quyền Hà Nội còn tổ chức hàng đoàn, hàng đống các lực lượng để bao vây, để cô lập Tòa TGM Hà Nội và tập thể giáo dân cả đêm kêu gào “giết, giết Kiệt”. Nhân dân lại oằn lưng trả tiền cho những hành động chống lại nhân dân này. Nguyễn Chí Đức, người đảng viên Cộng sản đã công khai ra khỏi đảng kể với tôi trong một lần đi biểu tình rằng: “Bọn được huy động chống lại người biểu tình yêu nước hôm nay, cũng như em ngày trước thôi. Chính em cũng đã được trả tiền để đi bao vây Tòa TGM Hà Nội, gọi là quần chúng tự phát”.  Không thể nói gì hơn màn truyền thông vu cáo đầy máu và bạo lực này của hệ thống tuyên truyền dối trá trong nhà nước Cộng sản. Trần Đăng Tuấn: “… cả sông máu Việt đã đổ ra, cả núi xương Việt đã chất chồng để có độc lập tự do” Người ta thấy trong sự kiện đó, những nhà báo tỏ rõ sự uất ức nhất khi “nước Việt Nam bị coi thường”(sic) đã không ngừng lu loa, kêu gào và lên giọng cao đạo, giảng giải về truyền thống yêu nước, về Tổ Quốc, về “cái tổ” của mình bị vấy bẩn như Trần Đăng Tuấn, Nguyễn Năng An và đám bồi bút… Thế nhưng, Trời có mắt. Những trò bỉ ổi đó nhanh chóng bị bóc trần và có tác dụng ngược lại. Những báo, đài, những tờ báo, cái loa to mồm thóa mạ Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đã nhanh chóng hiện nguyên hình là tay sai của giặc Tàu khi Tổ Quốc bị xâm lăng, là những “Lưỡi bò” trong lòng nước Việt. Điều này được chứng minh rất rõ ràng là khi đất nước đã chính thức bị xâm lược bằng đội quân bành trướng đem quân đội, vũ khí vào lãnh thổ của Tổ Quốc, tất cả những nhà báo, những nhà văn, những nhà truyền hình luôn mạnh mồm về tự hào là con người Việt Nam, là Người Việt, là Tổ Quốc thiêng liêng, dân tộc vĩ đại… đã lặn mất tăm. Thậm chí, người to mồm nhất như Trần Đăng Tuấn cũng đã lặn đi để tìm vào một lĩnh vực béo bở hơn là “Cơm có thịt”. Xin thưa rằng nếu đường lưỡi bò của Trung Cộng thành hiện thực, và sau đó là lãnh thổ Việt Nam biến thành “một phần không thể tách rời” của lãnh thổ Trung Quốc, thì khi đó ngay cả đất còn không có ở, lấy đâu ra cơm với thịt. Ngày xưa Trần Quốc Tuấn đã chẳng từng nói thế này sao: “Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai”. Nếu như đội ngũ lính tráng, khí tài này được điều động để bảo vệ non sông(!) Những câu nói hào sảng rằng “Hôm nay, người Việt ra nước ngoài được cầm quyển hộ chiếu Việt Nam trên tay là do cả sông máu Việt đã đổ ra, cả núi xương Việt đã chất chồng để có độc lập tự do” (Trần Đăng Tuấn – Gửi ông không muốn làm người Việt). Hôm nay, chẳng lẽ Trần Đăng Tuấn không biết rằng cái “núi xương Việt” đó đã nhanh chóng vô nghĩa khi đất nước bị anh bạn vàng 4 tốt biến thành của họ đơn giản lắm, nhẹ nhàng lắm trong sự câm miệng của chính ông? Nỗi nhục khi cầm tấm hộ chiếu ra nước ngoài bị kỳ thị, chắc cũng sẽ không bằng người Việt cầm tấm hộ chiếu Việt Nam bị bất thình lình cấm xuất cảnh để nhìn cảnh ngược lại, bọn cầm hộ chiếu lưỡi bò cứ ung dung ra vào Việt Nam như chỗ không người. Nỗi nhục khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam ra nước ngoài bị phân biệt, kỳ thị… có lẽ giờ đây cũng chẳng thấm vào đâu so với nỗi nhục cầm tấm hộ chiếu bành trướng ghi rõ lãnh thổ đất nước mình là của nó mà vẫn phải im lặng, không thể “ẳng” lên một tiếng. Sao không ẳng lên một tiếng, hỡi các “nhà báo, nhà đài yêu nước” tưng bừng ăn lương của nhân dân? Sao không ra những lời tuyên bố mạnh mẽ, sắt máu, sao không đưa đám công an, cảnh sát, chó và vũ khí ra ngăn chặn những tên xâm lược, hỡi các nhà lãnh đạo đã từng xua quân đi chiếm đất đai của dân, của các tôn giáo? Có nỗi nhục nào lớn hơn? Hà Nội, ngày 27/11/2012. Kỷ niệm một năm biểu tình yêu nươc ủng hộ Thủ tướng bị đàn áp. J.B Nguyễn Hữu Vinh http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/11/27/noinhuc_hochieu/m
......

Giấc mơ làm giàu từ bất động sản đã tan vỡ ở Việt Nam

Hãng tin kinh doanh Bloomberg vừa có bài viết dài nói về các giấc mơ làm giàu từ bất động sản đã tan vỡ ở Việt Nam. Bài viết mở đầu với vẻ ngoài bóng nhoáng của tòa tháp đôi thuộc Tập đoàn Ðiện lực CS Việt Nam EVN mà khi tới gần người ta sẽ thấy cửa vào ngổn ngang gạch đất trong khi nhiều cửa sổ chưa được lắp đặt. Ðây được xem là một trong những ví dụ về sự phát triển dựa vào tín dụng dễ dãi và đầu cơ bất động sản hiện đang treo trên đầu các ngân hàng. Bloomberg nói các nhà hoạch định chính sách đã tăng lãi suất trong năm 2010 và 2011 để hạn chế cho vay sau khi làn sóng tín dụng trong các năm trước đó khiến Việt Nam có mức lạm phát cao nhất Châu Á. Và nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả và chuyển tiền sang phát triển bất động sản đã trở thành nạn nhân của đợt siết chặt tín dụng. Tình trạng bi đát trong lĩnh vực bất động sản tạo nguy cơ các nhà đầu tư rời bỏ dự án và ngân hàng gánh lấy khoản nợ khó đòi. Bloomberg dẫn lời Bộ trưởng Xây dựng Trịnh Ðình Dũng nói tại Quốc hội hôm 31/10 rằng cho vay trong lĩnh vực bất động sản ở mức hơn 200.000 tỷ đồng, tức khoảng gần 10 tỷ đô la, tính tới 31/8/2012. Trong khi đó thị trường chứng khoán Việt Nam có chỉ số tồi tệ nhất ở Châu Á trong năm 2011, giảm 23% kể từ mức cao nhất đạt được hôm 8/5. Các nhà phân tích được Bloomberg dẫn lời nói nợ xấu ở Việt Nam có thể cao hơn nhiều so với mức 8,8% mà Hà Nội đưa ra. Thậm chí Fitch Ratings nói hồi tháng Ba năm nay rằng con số thực tế có thể cao gấp ba hay bốn lần.
......

Trung Quốc phát hành bản đồ Tam Sa

Sau khi lưu hành hộ chiếu mới có in bản đồ hình lưỡi bò xác định chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông và đã bị một số nước Đông Nam Á phản đối, Bắc Kinh lại tiếp tục ngang ngược leo thang bằng việc phát hành bản đồ chính thức đầu tiên của thành phố Tam Sa trên đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm của Việt Nam), thuộc quần đảo Hoàng Sa. Thành phố Tam Sa được Trung Quốc thành lập hồi tháng 7.2012 để quản lý hành chính các quần đảo và vùng biển lân cận trên Biển Đông bao gồm cả Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Báo chí Trung Quốc nói đây là bản đồ đầu tiên chứa đựng các thông tin địa chất về thành phố Tam Sa và các quần đảo ở Biển Đông toàn diện, chính xác, và cụ thể. Bản đồ thành phố Tam Sa do một đơn vị chuyên nghiên cứu vẽ bản đồ và định vị thuộc quân đội Trung Quốc kiểm định và được Tổng cục Báo chí và Xuất bản Trung Quốc phê duyệt. Bản đồ tập hợp hình ảnh chụp từ vệ tinh toàn bộ khu vực biển Đông ghi chú các vị trí địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, giao thông đường biển-đường bộ, sân bay, bến tàu, cùng các đường biên giới hành chính của thành phố Tam Sa và các đảo ở Biển Đông.  
......

NHỮNG TÍN HIỆU LẠC QUAN TỪ QUỐC NỘI

Thời gian gần đây công luận trong nước và thế giới đặc biệt quan ngại về những vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống và tầng suất ngày càng cao của nhà nước cộng sản Việt Nam. Nhiều cá nhân và tổ chức đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam cũng như các tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền Human Rights Watch, Tổ Chức Ân Xế Quốc Tế Amnesty International… đều cảm thấy ái ngại khi trước bản án mà tòa án của công sản Việt Nam vừa tuyên phạt hai nhạc sỹ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình vào ngày 30 tháng 10 vừa qua cũng như về vụ bắt giữ nữ sinh Nguyễn Phương Uyên hai tuần lễ trước đó.    Người ta cảm thấy ái ngại khi mức án dành cho hai nhạc sỹ trẻ quá nặng chỉ bởi cơ quan cảnh sát điều tra, viện kiểm sát nhân dân cũng như hội đồng xét xử nhận định rằng ca từ trong những những nhạc khúc của hai nhạc sỹ trẻ này khiến cho người dân chán ghét chế độ.   Ngay trước thềm phiên xử, vào chiều ngày 29 tháng 10, Tổ chức Ân xá quốc tế đã kêu gọi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trả tự do ‘ngay lập tức và vô điều kiện’ cho hai nhạc sỹ này.      Ông Rupert Abbott, một nhà nghiên cứu về Việt Nam của Ân Xá Quốc Tế, nói: “Chỉ vì làm nhạc mà bị đối xử như vậy thì thật là lố bịch. Hai nhạc sĩ này là những tù nhân lương tâm, bị giam cầm chỉ vì đã hành xử quyền tự do phát biểu một cách ôn hoà bằng cách viết nhạc và hoạt động bất bạo động, và họ phải được trả tự do. Nhà cầm quyền Việt Nam phải tuân thủ những bổn phận của họ theo hiến pháp và luật quốc tế là phải tôn trọng quyền tự do phát biểu của người dân, bao gồm cả việc dùng âm nhạc và những phương tiện khác. Thật lố bịch khi đối xử như vậy với những người này chỉ vì họ sáng tác các bài hát,” ông Rupert cũng đã phát biểu phát biểu trong thông cáo rằng: “Đây là những tù nhân lương tâm. Họ bị bắt giữ chỉ vì họ đã thực hiện quyền tự do ngôn luận một cách hòa bình bằng những bài hát và những hành động phi bạo lực. Thay vì cố gắng bịt miệng giới trẻ Việt Nam, chính phủ nước này nên cho phép họ bày tỏ ý kiến và có tiếng nói trong quá trình phát triển của đất nước,”      Ngay sau phiên tòa phi nhân bản này, một phát ngôn viên của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Christopher Hodges, nói trong một thông cáo rằng: "Việc kết án tù này là hành động mới nhất trong một loạt các động thái của chính phủ Việt Nam nhằm hạn chế tự do ngôn luận. Chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho nhạc sỹ Việt Khang cũng như tất cả các tù nhân lương tâm và tuân thủ ngay lập tức các bổn phận quốc tế của mình."   Với trường hợp bắt gian nữ sinh Nguyễn Phương Uyên, Ông Abbott nói: “Những phát biểu ôn hoà nhưng không hợp quan điểm với nhà nước đang bị đàn áp một cách đáng ngại. Chẳng hạn như một vụ bắt giữ khác xẩy ra vào ngày 14 tháng 10 năm 2012 khi công an bắt cô Nguyễn Phương Uyên, 20 tuổi, cùng với 3 sinh viên khác tại Tp. HCM. Trong khi những sinh viên kia sau đó được trả tự do thì Nguyễn Phương Uyên tiếp tục bị giam giữ và bị chuyển đến trại giam tại Long An. Cô bị cáo buộc tội phát tán truyền đơn chỉ trích Trung Quốc và nhà cầm quyền Việt Nam.  Lúc đầu nhà nước chối không bắt giữ Cô, nhưng sau đó đã thông báo cho gia đình biết là, giống như hai nhạc sĩ nói trên, Cô đang bị điều tra về tội tuyên truyền chống nhà nước theo Điều 88 Luật Hình Sự.”  Ông Abbott kết luận rằng: “Thay vì nỗ lực bịt miệng những người trẻ, nhà cầm quyền Việt Nam nên cho phép họ phát biểu quan điểm và được quyền góp ý trong việc định hướng và phát triển đất nước. Hai nhạc sĩ và sinh viên trẻ này phải được trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện”.     Gần đây nhà nước cộng sản Việt Nam đã đệ nộp hồ sơ xin ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc UNHRC đã khiến cho nhiều cá nhân tổ chức và các cộng đồng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại thực sự lo lắng, bởi nhiều người tin rằng nếu đắc cử, trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc UNHRC thì cộng sản Việt Nam càng có điều kiện để vi phạm nhân quyền để đàn áp những tiếng nói bất đồng chứng kiến. Nhưng với những vụ bắt bớ gần đây, những phiên tòa bất công và phi nhân gần đây chúng ta có đủ cơ sở để thấy rằng thật khôi hài khi Việt Nam đã tự ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, và chúng ta cũng có đủ cơ sở để tin chắc rằng Việt Nam sẽ không bao giờ đủ điều kiện để trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc khi điều 4 hiến pháp vẫn còn tồn tại và khi lực lượng “công an nhân dân vẫn còn là thanh gươm bảo vệ chế độ”.    Chắc nhiều người vẫn còn nhớ mốc thời gian mà Việt Nam được kết nạp vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO vào năm 2006 và trở thành thành viên chính thức một năm sau đó vào năm 2007, thì đều nhớ rằng trong những năm phấn đấu để được gia nhập tổ chức này, cộng sản Việt Nam đã lừa được cộng đồng quốc tế về những cải thiện nhân quyền bằng cách giả vờ nhượng bộ hoặc giả vờ làm ngơ trước một số hoạt động đấu tranh dân chủ, khiến ngay cả nhiều người trong nước cũng lầm tưởng rằng cộng sản Việt Nam đã bắt đầu biết tôn trọng những tiếng nói đối lập, khiến nhiều tổ chức xã hội lần lượt ra đời như Khối 8406, Công Đoàn Độc Lập, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông và không lâu sau khi trở thành thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, cơ quan an ninh của CSVN đã khủng bố trắng đối với tất cả các tổ chức dân chủ vừa hình thành, bắt giam và kết án tất cả những sáng lập viên của các tổ chức với những bản án rất nặng. Với cú lừa này, nhà nước cộng sản Việt Nam vừa lừa được cộng đồng quốc tế để được gia nhập khối WTO, vừa lừa được những người yêu nước vì “cất được một mẽ lưới bội thu”. Lần này nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vừa vận động hành lang để ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, vừa thẳng tay đàn áp dân chủ, kết án tù những người yêu nước. Hết phiên tòa này đến phiên tòa khác liên tục diễn ra và tất cả các bản án đều vượt xa mức dự kiến của nhiều người, là một hình thức để đe dọa để khủng bố tinh thần những người còn ý định dấn thân. Nhưng nhiều người vẫn tiếp tục dân thân, dù họ biết cái giá của sự dấn thân là tù đày, lao lý. Đó là một tín hiệu đáng mừng từ quốc nội. Chế độ cộng sản vốn độc tài chuyên chế, họ không chấp nhận sự đối kháng dưới bất cứ hình thức nào, cho nên họ ra sức nhồi sọ con người ngay từ thuở mới lọt lòng. Từ những nhà trẻ, mẫu giáo, trẻ thơ đã được nghe hát ru và được học những bài hát ca ngợi đảng, các ngợi bác. Đến tuổi cắp sách đến trường thì các em lại phải sinh hoạt trong các đội nhi đồng cứu quốc, đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, rồi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh… đây là nơi mà thanh thiếu niên được nhồi sọ, được xích hóa bằng chính sách mưa dầm thấm lâu để khi trưởng thành, không có bất cứ tác động nào có thể làm thay đổi được não trạng của họ rằng “Bác Hồ là vĩ đại, đảng cộng sản là quang vinh muôn năm, chủ nghĩa Mác-Lê là bách chiến bách thắng”.   Vẫn chưa hết, ngoài việc việc sinh hoạt đoàn đội là hoạt động thường kỳ và có chủ trương, định hướng của đảng và nhà nước trong phạm vi trường học cho đến các địa phương, thì nhiều chương trình vui chơi giải trí trên hệ thống truyền hình xuyên quốc gia cũng được đầu tư rất lớn tạo một sân chơi mở cho thanh thiếu niên như một hình thức ru ngủ thế hệ trẻ để các em bằng lòng với thực tại, mà không có bất cứ một suy tư gì về hiện tình đất nước và cũng không có bất cứ một thái độ phản kháng nào đối với chính sách cai trị của đảng và nhà nước cũng như với thực trạng đời sống xã hội ở quê nhà. May thay chính sách tuyên truyền, nhồi sọ, xích hóa thế hệ trẻ đã không còn tác dụng nữa, thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay đã không ngoan hơn nhiều bậc cha ông trước đây, các em không còn mê cuồng cộng sản và cũng chẳng sùng bái Hồ Chí Minh hay các lãnh tụ của cộng sản nữa. Những sân chơi mà đảng và nhà nước dùng để lôi cuốn để ru ngủ các em cũng đã không còn mấy tác dụng nữa. Nhiều thanh niên cũng đã biết chọn lựa cho mình một hướng đi mới hầu có thể tìm được lối thoát cho dân tộc. Nhiều đảng viên trẻ noi gương một số đảng viên lão thành có liêm sỷ, đã mạnh dạn trả lại thẻ đảng, xin ra khỏi hàng ngũ đảng, chối bỏ những đặc quyền đặc lợi của một đảng viên trong việc thăng tiến để họ có thể sống thật với con người thật của họ, không phải đeo mặt nạ mà có thể sống đúng với lương tri của một con người. Đây là một tín hiệu vui nữa cho đất nước cho dân tộc. Những phiên tòa và những bản án mà chế độ cộng sản tuyên phạt cho các bạn trẻ là 17 sinh viên Công Giáo và Tin Lành hôm 26 tháng 9, rồi bản án mà chế độ cộng sản vừa tuyên phạt hai nhạc sỹ trẻ hôm 30 tháng 10 vừa qua là một nỗi đau không riêng cho gia đình và thân nhân của họ, mà là một nỗi đau chung cho cả dân tộc Việt Nam bởi có đâu trên hành tinh này mà con người ta lại bị tù đày lao lý chỉ vì muốn cho đất nước ngày một phồn vinh, xã hội ngày một tốt đẹp hơn? Dù vậy, từ đó chúng ta cũng thấy được một tín hiệu vui từ quốc nội, đó là thế hế trẻ Việt Nam hiện không còn bị ru ngủ, không còn bị nhồi sọ nữa và cũng không còn cầu an hưởng lạc nữa, nhất là không còn quá úy kỵ cộng sản nữa. Những tín hiệu đó cho chúng ta một niềm hy vọng và một niềm tin mãnh liệt là “còn da, lông mọc, còn chồi, nãy cây”. Nguyễn Thu Trâm, 8406
......

Trung Quốc rất HÈN!

Nếu việc tranh chấp lãnh thổ với nhiều nước láng giềng gần đây đã khiến hình ảnh Trung Quốc trở nên “xấu xí” trong mắt cộng đồng quốc tế thì việc in bản đồ Trung Quốc trên hộ chiếu vừa qua khiến hình ảnh Trung Quốc trở nên tồi tệ. Các nước có quyền lợi liên quan như Việt Nam, Philippines đều lên tiếng phản đối quyết liệt. Ấn Độ ngay lập tức có hành động đáp trả bằng cách sử dụng trên hộ chiếu những vùng mà Trung Quốc và họ đang tranh chấp. Tại Việt Nam , theo Trung tá Trần Việt Huynh – đồn trưởng đồn biên phòng cửa khẩu Lào Cai cho biết việc Trung Quốc cấp hộ chiếu điện tử in đường lưỡi bò bao trùm lên cả các phần lãnh thổ của Việt Nam là việc làm sai trái, không đúng với luật pháp quốc tế. Bên phía Trung Quốc vẫn chưa thu hồi những hộ chiếu đó lại nhưng vì mối quan hệ của 2 nước và tạo điều kiện cho việc nhập cảnh, đồn biên phòng không cấp thị thực vào hộ chiếu mà cấp thị thực rời. Với những hộ chiếu không có đường lưỡi bò, mọi hoạt động vẫn diễn ra bình thường. Có thể nói, hành vi in hình lưỡi bò vào hộ chiếu là hành động ngang ngược sau hàng loạt các hành động trắng trợn xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là vì sao Trung Quốc lại có chủ trương như vậy? Họ sẽ được gì sau những hành động thâm độc này? Về câu hỏi thứ nhất, có lẽ không khó để có câu trả lời. Đó là việc lưu hành hộ chiếu có in bản đồ đường lưỡi bò là bước leo thang mới trong mưu đồ đen tối của Trung Quốc. Họ muốn dùng mọi thủ đoạn lấn dần từng bước để áp đặt đòi hỏi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông, bất chấp luật lệ quốc tế và phản đối của các nước khác. Nói như TS Nguyễn Quang A thì đây là “Một bước đi rất hiểm độc trong số hàng ngàn các hành động thâm độc khác”. Họ muốn đặt Việt Nam ta và các nước có liên quan vào thế của sự việc đã rồi. Vậy họ sẽ được gì? Tất nhiên là họ mong muốn được tất cả những phần lãnh thổ của ta và các nước liên quan mà họ nói là “vùng tranh chấp”. Thế nhưng tất nhiên là không thể có điều đó. Nhân dân và Chính phủ Việt Nam cũng như nhân dân và chính phủ các nước liên quan không để cho họ làm điều đó. Không chỉ Ấn Độ, Việt Nam, Philippines mà sắp tới, các nước như Malaysia, Brunei cũng sẽ kiên quyết phản đối hành động phi pháp này. Đặc biệt, cả Đài Loan cũng phản đối hành động này của Trung Quốc. Và hậu quả là “gieo gió tất sẽ gặt bão”. Họ đang tự tách ra khỏi một cộng đồng đoàn kết, gắn bó trong một thế giới luôn lấy sự đoàn kết để phát triển. Nói cách khác, những mưu đồ thâm hiểm của họ sẽ mang lại cho họ sự cô lập trên trường quốc tế. Nhân loại tiến bộ sẽ nhìn họ với sự cảnh giác cao độ. Đó là bi kịch đối với một quốc gia dù có to lớn đến đâu. Rồi đây, các thế hệ tương lai của họ sẽ phải trả giá cho những việc làm sai trái từ thế hệ hôm nay. Tuy nhiên sẽ là điều may mắn nếu như đây không phải là chủ trương của Nhà nước Trung Hoa mà chỉ là của cấp bộ như phỏng đoán của GS . Shi Yinhong. Ông Shi Yinhong, giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Nhân dân Bắc Kinh cho rằng việc in yêu sách chủ quyền trên hộ chiếu có thể làm cho vấn đề “vốn đã rắc rối lại càng phức tạp thêm”. Giáo sư Shi Yinhong cho rằng quyết định cho phát hành này có lẽ đã được cấp bộ đưa ra chứ không phải là cấp Nhà nước Trung Quốc. Người Việt Nam chúng ta có câu: “Tham thì thâm”. Thói tham lam và “văn hóa bành trướng” sẽ mang lại hậu quả như thế nào không phải là điều khó đoán.  Nước Việt Nam có thể nhỏ về địa lý nhưng ý chí quật cường thì không bao giờ nhỏ. Không có bất cứ ai có thể “bắt nạt” được một dân tộc quật cường. Có một điều khó giải thích là trong tấm hộ chiếu phi pháp đó không có phần lãnh thổ tranh chấp với Nhật Bản. Nơi mà chỉ cách đây ít lâu, họ đã lớn tiếng phản đối việc Chính phủ Nhật mua lại những hòn đảo này và cả hai bên đã mang cả tàu chiến đến đây. Vì sao vậy? Chỉ có hai lý do. Thứ nhất là Trung Quốc đã chính thức công nhận Senkaku là lãnh thổ của Nhật Bản. Hai là hành vi mà như người Việt Nam ta có câu: “Sơn lở tùy mặt, ma bắt tùy người”, hay nói một cách khác là văn hóa “bắt nạt”? Đó là “văn hóa” của kẻ võ biền và trọc phú chứ tuyệt nhiên không phải cách hành xử của người quân tử. Trong khi trả lời AFP, một quan chức ngoại giao Nhật Bản đã nói: “Chúng tôi xác nhận các quần đảo tranh chấp trên Biển Đông xuất hiện trong bản đồ in trong hộ chiếu mới của Trung Quốc. Tuy nhiên, không có Senkaku. Vì vậy, chúng tôi không đưa ra bình luận hoặc phản đối". Một câu trả lời đầy ẩn ý và hết sức khéo léo của một nhà ngoại giao lão luyện. Nó giống như một thông điệp gửi đến Trung Quốc rằng “Hãy thử động đến Senkuka xem…”. Nói thẳng ra, đối với Nhật Bản, Trung Quốc hành xử không thể nói khác:HÈN! Có lẽ không chỉ khiếp nhược trước đồng YÊN, Trung Quốc vẫn ám ảnh bởi THANH KIẾM SAMURAI mà họ đã phải nếm trái 70 năm trước.   Bùi Hoàng Támhttp://trannhuong.com/tin-tuc-14353/trung-quoc-rat-hen.vhtm">http://trannhuong.com/tin-tuc-14353/trung-quoc-rat-hen.vhtm
......

Cai tù cố ý hại TS. Cù Huy Hà Vũ

Hôm 25/11/2012, luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đã chính thức gửi đơn yêu cầu 'khẩn trương điều tra' về việc cán bộ trại giam 'cố ý hãm hại' chồng mình là Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ.   Lá đơn có nhắc lại lời tố cáo trước đó của tiến sỹ Hà Vũ về việc cán bộ trại giam số 5 tên Lê Văn Chiến đã có hành vi 'cố ý giết công dân Cù Huy Hà Vũ' với nội dung chính như sau: Cửa buồng giam ông Vũ chỉ cách bệ ông Vũ nằm 30cm nên việc cán bộ trại giam mở toang cửa buồng giam vào buổi sáng tất gây gió xộc thẳng vào đầu ông Vũ và có thể làm ông Vũ chết, nhất là trong khi ông Vũ bị bệnh tim, cao huyết áp, đau nửa đầu mà trời thì đã trở lạnh. Do đó, bản thân ông Vũ và gia đình ngay từ năm 2011 đã yêu cầu Giám thị không cho cán bộ trại giam mở toang cửa buồng giam ông Vũ để tránh gây nguy hiểm đến tính mạng ông Vũ. Thế nhưng, cán bộ trại giam Lê Văn Chiến vẫn liên tục mở toang cửa buồn giam và kết quả là sáng 11/11/2012, ông Vũ đã bị gió lùa, đầu đau nhức, huyết áp vụt tăng cao; ông Nguyễn Đình Dặm, người tù duy nhất ở cùng với ông Vũ phải kêu cấp cứu nhưng suốt buổi sáng hôm đó không có cán bộ nào đến, phải đến tận chiều hôm đó, khi tù nhân đến đưa cơm mới nhắn gọi được bác sĩ . Như vậy, cán bộ trại giam Lê Văn Chiến đã cố ý giết ông Vũ bằng cách mở toang cửa buồng giam để gió lùa xộc thẳng vào người và đầu ông Vũ. Do đó, ông Vũ đã viết đơn tố cáo với Giám thị về hành vi giết người này của cán bộ trại giam Lê Văn Chiến đồng thời yêu cầu Giám thị áp dụng biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hành vi giết người này...” Lá đơn đưa ra yêu cầu khẩn cấp cách ly cán bộ trại giam Lê Văn Chiến khỏi ông Cù Huy Hà Vũ, và “Khẩn trương điều tra hành vi cố ý hãm hại ông Cù Huy Hà Vũ của cán bộ Trại giam số 5 Bộ Công an Lê Văn Chiến.”   Ảnh: Basam Theo Ls Dương Hà, sở dĩ phải làm đơn là vì trước đó Trung tá Bùi Duy Vân có hứa trước mặt bà và một trung tá khác là Nguyễn Hiếu Lượng và cả Ls. Hà Vũ  rằng việc thuyển chuyển cán bộ Lê Văn Chiến không làm ở buồng giam LS. Vũ nữa chỉ là trong tầm tay của ông ấy thôi; yên tâm về không cần đơn thư gì nữa. Ông hứa vào ngày hôm sau sẽ không để cán bộ Lê Văn Chiến đến sớm để mở toang cửa ra như vậy. Tuy nhiên ngày 25.11, sau nhiều lần xin được gọi điện (vì tiêu chuẩn chỉ được mỗi tháng gọi về 5 phút), Ls Hà Vũ gọi điện về cho biết dù ông Trung tá Bùi Duy Vân đã có hứa, nhưng ông Lê Văn Chiến ngày nào đến làm việc cũng mở toang cửa.  Vì thế Ls. Dương Hà phải gửi ngay đơn đề nghị khẩn trương điều tra việc cán bộ trại giam số 5 cố ý hãm hại chồng bà, tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ.
......

Hai thanh niên Công giáo từ chối luật sư cho phiên tòa sắp diễn ra

VRNs (27.11.2012) - Nghệ An - Việc không cần luật sư trước một phiên tòa mà những người bị xét xử biết là sẽ bị đối xử cách bất công là một khẳng định về tình trạng pháp chế XHCN VN đang trở nên đáng xấu hổ với mọi người dân, nhất là với giới trẻ Việt Nam. Trong khoảng 3 năm độ lại đây, nhà cầm quyền VN đã thực hiện rất nhiều cuộc bắt bớ, bỏ tù vô pháp luật gây bức xúc trong dư luận. Đặc biệt là vụ công an bắt bớ hàng loạt các thanh niên, trong số đó, đa phần các thanh niên này là những người Công Giáo thuộc giáo phận Vinh, Nghệ An. Chuyện bắt người không tuân thủ pháp luật, mà mang tính chất du côn, du đảng do công an và an ninh Việt Nam là thủ phạm. Việc biệt giam không cho người thân thăm gặp hoặc rỉ tai, tung tin bẩn thỉu nhằm bôi nhọ những người bị bắt giữ cũng như việc hăm doạ người thân, v.v… từ phía công an đã được nhiều người vạch rõ, lên tiếng chỉ trích. Nhân dịp phiên tòa sắp diễn ra, chúng tôi xin được đề cập đến hai trường hợp bị nhà cầm quyền đem ra xét xử với tội danh cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, theo điều 79 BLHS. Một cáo buộc rất nặng nề, nhưng hai anh đã từ chối luật sư biện hộ. Đó là anh Fx. Đặng Xuân Diệu và Paul Trần Minh Nhật. Sở dĩ hai anh quyết định như thế bởi theo thông tin từ người thân và luật sư cho biết, đối với sinh viên Trần Minh Nhật (năm nay Nhật 24 tuổi), lí do Nhật từ chối luật sư chỉ là “không muốn trút gánh nặng lên vai cha mẹ nghèo, hơn nữa Nhật không có tội nên nhà cầm quyền Việt Nam muốn bỏ tù hay làm gì thì tùy thích”. Còn đối với anh Đặng Xuân Diệu (năm nay anh 33 tuổi) thì lí do anh từ chối luật sư thật đáng nể phục: “Tôi không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm nên dù nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại tôi thì chính quyền đang dẫm đạp lên đạo lí tốt đẹp ngàn đời của dân tộc VN và đó là chuyện của họ, họ phải tự chịu trách nhiệm”. Vì không có điều kiện để thăm hỏi tất cả các gia đình, người thân của những thanh niên còn lại, nên chúng tôi chưa có thêm thông tin gì về họ. Tuy nhiên, việc từ chối luật sư và thách thức nhà cầm quyền Việt Nam của hai anh Nhật và Diệu đã làm nhiều người thêm lòng cảm phục các anh. Anh Trần Minh Nhật, là một sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường, với tuổi đời còn rất trẻ. Một người trẻ đã bị bắt cóc và biệt giam trong hơn 1 năm qua dưới bàn tay được biết đến là độc ác, xảo quyệt của những viên an ninh được huấn luyện bài bản với lập trường “chỉ biết còn đảng còn mình” và sẳn sang dung bạo lực, nhưng đã không đánh gục được anh Nhật. Điều này không làm cho những người quan tâm và cổ vũ cho công lý, sự thật đang theo dõi vụ án tự đặt ra cho mình những câu hỏi để suy nghĩ sao? Đối với chúng tôi, anh Nhật là một người trẻ đầy khí phách và bản lĩnh, chúng tôi khâm phục và ngưỡng mộ anh! Anh  Fx.Đặng Xuân Diệu, là người có sự hiểu biết sâu rộng hơn và luôn sống theo sự thật nên việc từ chối luật sư của anh cũng là điều dễ hiểu. Có lẽ anh đã biết và hiểu rõ về các phiên tòa có án “bỏ túi” của chính quyền VN đối với những ai không ngoan ngoãn tùng phục họ. Theo chúng tôi lý do để anh từ chối luật sư là do anh hiểu một đất nước mà nền pháp trị đang bị vi phạm nghiêm trọng bởi nhà cầm quyền. Tròng lần tiếp xúc luật sư, anh Diệu đã yêu cầu luật sư: “Trước tòa, luật sư phải tố cáo cách bắt bớ và giam giữ trái pháp luật của công an VN đối với tôi, nếu không làm được điều đó thì tôi không cần đến luật sư”. Anh biết anh đang làm những việc đúng với lương tâm của một người yêu nước trước những vấn nạn đang đẩy đất nước vào ngõ cụt. Những vấn nạn được xuất phát từ cái chủ nghĩa Mác – Lê lỗi thời, thứ chủ nghĩa mà đảng cộng sản VN “kiên quyết đi theo” đã dẫn đến tình trạng ‘hèn với giặc, ác với dân’, tham nhũng hối lộ tràn lan, nhân quyền và dân quyền bị vi phạm nghiêm trọng, đạo đức xã hội đang bị đảo lộn, bệnh vô cảm đang ngày một lên ngôi... TRước khi bị bắt, anh Diệu đã trao xe lăn cho những người khuyết tật, kêu gọi để giúp đỡ những học sinh nghèo hiếu học, chôn cất những trẻ thơ bị chính cha mẹ mình giết hại, cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt…, là những việc làm có ý nghĩa cho con người và xã hội. “Sau cơn mưa, trời lại sáng”. Chúng tôi tin như vậy! Chúng tôi mong ước ngày chế độ này đem các anh ra xét xử, là ngày tuổi trẻ Việt Nam lại thấy có thêm những gương sáng phản chiếu, đánh động mạnh mẽ đến tuổi trẻ Việt Nam, mở ra sự dấn thân và tiếp tục con đường mà những người con ưu tú của dân tộc đã và đang đi, là con đường vinh quang, con đường sẽ dẫn đến những thay đổi tốt đẹp cho quê hương, dân tộc. Anthony Thiên Ân http://www.chuacuuthe.com/?p=41967
......

VÀNG, ĐÔ và ĐÀO TẨU

 VÀNG Cái gì quý người ta thường ví như vàng. Đây là kiểu ví von truyền thống đã thành một thành ngữ của Việt Nam, và không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn là chung của thế giới. Thậm chí ví von nghĩa bóng người ta cũng dùng đến vàng, như nguyên tắc vàng, ông bạn vàng, khu đất vàng, thời điểm vàng, đám cưới vàng ..v..v.. Còn ở Việt Nam hiện nay vấn đề gì nổi trội vì sự khó khăn, khó đoán biết, liên tục thay đổi thì người ta nói là “nóng như thị trường vàng” hoặc “điên như giá vàng”. Răng lại có cớ sự như rứa ở cái đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu này ? Từ khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam quyết định mở cửa và cởi trói cho nền kinh tế từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước sau gần nửa thế kỷ vừa đóng cửa vừa lấy còng số 8 trói chặt nền kinh tế để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa thì các nhà lãnh đạo vĩ đại của cộng sản hơi choáng váng vì thấy dân vẫn cất giấu được khá nhiều vàng. Lãnh đạo cộng sản tưởng rằng sau những vụ cướp vĩ đại mà họ đã làm như vụ Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, Cải tạo công thương nghiệp-là những vụ lớn, và vô vàn những vụ nhỏ mang tính chất thường xuyên mà các cấp địa phương, cấp nhỏ hơn đên nay vẫn làm hàng tháng, hàng ngày để cống nạp lên cấp to hơn, thì tưởng rằng vàng trong dân đã được moi gần cạn hết rồi. Ấy vậy mà đến cuối mùa hè năm 2008 khi lạm phát phi mã bộc lộ và thấm thía đến từng người dân để mở đầu cho thời kỳ suy thoái kéo dài đến tận bây giờ thì giá vàng tăng đến 60% chỉ trong vòng 2 tháng từ khoảng 1,8 triệu đồng/chỉ tăng vọt lên 2,9 triệu đồng/chỉ. Thành ngữ “điên như giá vàng” phổ biến từ đấy.  Ngộ nhất là mùa hè năm ấy ở trong tù, tù nhân khố rách chúng tôi cũng bàn tán xôn xao và theo dõi sát sao giá vàng từ sáng mở mắt dậy đến tận đêm có kẻng báo ngủ gõ đinh tai nhức óc, thì giá vàng hôm nay thế nào, lên bao nhiêu rồi cứ gắn chặt vào mồm vào miệng để hỏi nhau, kể cho nhau, buôn dưa lê với nhau. Đến bản tin tài chính trên tivi thì cả phòng im phăng phắc, các đôi tai lừa ve vẩy lắng nghe tin. Tự khắc mà chăm chú tập trung hết chỗ nói!  Tại thời điểm cuối năm 2008 đó việc giá vàng tăng vọt và sau đó không bao giờ hạ xuống nữa có nguyên nhân là do khi ấy hậu quả tai hại của nền kinh tế nội lực yếu, vốn phần lớn là đầu tư nước ngoài còn phần vốn trong nước lại chủ yếu là vốn đối ứng được chuyển từ “giá trị quyền sử dụng đất” góp vào, và nền kinh tế vừa được vu cho là kinh tế thị trường lại vừa được chỉ đạo dẫn dắt theo chủ nghĩa xã hội, có thể hiểu ngắn gọn là kinh tế tư bản kiểu cộng sản. Trong nền kinh tế này, cái phần thị trường lại chính là tư bản kiểu nguyên thủy man rợ mà chính phe cộng sản (Không biết họ có thực học và thực hiểu về kinh tế tư bản không?) luôn vu cho các nước tư bản là như thế: người bóc lột người, tàn phá thiên nhiên, khai thác tận diệt tài nguyên, lừa đảo chộp giật đủ kiểu. Phần định hướng xã hội chủ nghĩa thì là: kiên định quyết tâm bất chấp mọi thủ đoạn đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt nền kinh tế tức là tất cả các tổ chức kinh doanh sản xuất đều phải có sự cho phép của đảng cộng sản khi thành lập, khi đang hoạt động và ngay cả khi phá sản.  Ngoài ra đảng cộng sản có lãnh đạo tuyệt đối mọi tổ chức kinh doanh của nhà nước và áp đặt tất cả tổ chức kinh tế quốc doanh này phải là chủ đạo. Từ đó trút vô tội vạ vốn từ ngân sách nhà nước do nhân dân còm cõi lầm than đóng thuế vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như vào một cái thùng không đáy để các thể loại nhân sự của những tổ chức kinh tế quốc doanh từ tổng giám đốc tới nhân viên bảo vệ đều 100% phải là con cháu người quen của các tầng tầng lớp lớp đảng viên cộng sản làm sếp to, sếp nhỏ của cơ quan ấy mới được vào làm. Cái nền kinh tế như thế, sau 20 năm sung sướng xả hơi vật vả kiếm tiền cho hả, cho bõ để bù lại gần 40 năm bị cùm, bị trói, bị bịt mắt ấy thì đến năm 2008-như một kết thúc tất yếu, bộc lộ hết bản chất nửa dơi nửa chuột của mình ra và cả nước chính thức bước vào thời kỳ suy thoái thật sự do chính mình gây ra-chứ không do giọng điệu tuyên truyền láo lếu nhảm nhí ra ra đêm ngày là do suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam. Suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam đương nhiên là điều tất yếu, nhưng nó chỉ là một phần mà không phải là nguyên nhân chính khiến nền kinh tế Việt Nam như thế này.  Và khi ấy người dân lại càng tin, càng muốn cất trữ tài sản mà mình làm ra vào một thứ có giá trị bền vững và phổ biến nhất – là vàng. Ngoài ra cần phải nói thêm rằng người Việt Nam từ trước đến giờ vẫn có thói quen cất trữ tài sản vào vàng như vậy. Ấy là do trong lịch sử Việt Nam, có thể nói chưa bao giờ nước ta được lãnh đạo bởi những vị vua sáng suốt tài giỏi thương dân đến mức coi sự thịnh vượng và tiến bộ của dân chúng là thành công, vinh quang và hạnh phúc của người cầm quyền. Có thể nói gần như tất cả những vị vua của Việt Nam trong quá khứ và hiện nay nếu nói điều ấy thật lòng thì cũng chỉ ở mức muốn dân chúng đủ ăn đủ mặc để an phận làm con dân mà thôi.  Đến giữa năm 2011 thì nền kinh tế bắt đầu rơi vào vùng đáy của suy thoái và không ai biết được khi nào sẽ thoát khỏi suy thoái khi mà các dấu hiệu thì rất nhiều người thấy, và cũng nhiều không ít hơn số ấy là dự đoán của các chuyên gia hàng đầu của rất nhiều trường phái học thuật tài chính kinh tế, nhưng tựu trung lại cũng chỉ là vấn đề niềm tin và đạo đức, rằng “Khi nào mọi thứ trở lại/về giá trị thực của nó thì kinh tế sẽ phục hồi.”. Chân lý này thường bị quên trong nhiều trường hợp, và đặc biệt hay bị quên trong lĩnh vực kinh tế. Tất nhiên những lãnh đạo cộng sản chóp bu hoàn toàn nhận thấy rõ điều ấy, thậm chí còn nhận thấy trước dân chúng rất nhiều. Do đó, một mặt họ vẫn tiếp tục ngu dân, mỵ dân bằng những bài tuyên truyền nhảm nhí, một mặc ra sức thu vén tư lợi bất chính bằng việc in tiền khống. Không gì thu lợi được nhiều hơn từ bóc lột và tận thu cùng kiệt sức lực và tài sản của dân.  Và, vàng chính là thứ mà người dân tích lũy nhiều nhất công sức lao động của mình vào để tránh lạm phát ăn mòn tài sản của họ. Nhu cầu chính đáng này là phổ biến và bình thường ở một đất nước mà việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt và niềm tin của của người dân vào nền kinh tế và giá trị đồng tiền là rất kém. Do vậy, phải tìm mọi cách để lấy được vàng của dân ra, vì vàng thì chính quyền không sản xuất khống được như là việc in tiền-suy cho cùng cũng chỉ là tờ giấy, mà lại là giấy nội địa, loại giấy có mặt ông Hồ to tướng mà chỉ cần sang tới Thái Lan thôi đã chẳng ai thừa nhận, không còn chút giá trị nào.  Thế là Nghị định 24/2011 ra đời, hiệu lực tháng 5.2012 đến nay mới chỉ 6 tháng mà đã làm thất điên bát đảo thị trường vàng Việt Nam vốn đã không ổn định, thì nay nhờ có chính phủ trứ danh của ông Dũng mà trở nên quái đản dị thường chưa từng thấy. Xin điểm ngắn gọn vài hậu quả của chính sách chống vàng hóa trong giao dịch mua bán và ổn định thị trường vàng của chính quyền cộng sản Việt Nam: -         Hoàn toàn không có bất kỳ một dấu hiệu nào là thành công nhỏ nhoi trong việc chống vàng hóa trong các giao dịch mua bán; -         Hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu nào là thị trường vàng được ổn định, mà chỉ có: -         Trước thì giá vàng trong nước cao hơn thế giới khoảng 500.000-1.000.000 đồng/lượng giờ thì đã cao hơn 3.000.000 đồng/lượng (*); -         Chỉ trong 5 tháng Ngân hàng nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng từ trong dân (*); -         Thị trường vàng trong nước không còn liên thông với thế giới, tức là không còn thể hiện sự liên quan bình thường với thị trường vàng thế giới, Việt Nam một mình một kiểu không giống ai; -         Nhãn hiệu vàng SJC bỗng dưng-bằng một mệnh lệnh hành chính nhà nước, trở thành thương hiệu vàng quốc gia, và tăng giá một cách kỳ lạ, trở nên kiêu kỳ và khó tính trong cả việc bán đi và mua lại vàng của chính mình sản xuất; -         SJC thu lợi số tiền khổng lồ mà không ai bên ngoài có thể thống kê được. Số lợi khổng lồ không chính đáng này đến từ chênh lệch giá vàng và việc mua rẻ, ép người dân phải bán lại giá rẻ có khi lên tới 500.000 đồng/lượng vàng cũ của chính mình sản xuất ra, với lý do mà bất kỳ một nhân viên thu mua vàng nào của SJC cũng luôn leo lẻo mỗi khi gặp khách đến bán vàng là “Túi chân không bị rách, có hơi ẩm, vàng méo, vàng xước, chữ/hoa văn chỗ nọ chỗ kia không rõ  ..v..v.. Bớt 300.000 đồng/500.000 đồng (so với giá niêm yết). Không bán thì thôi.” Tự tin như đinh đóng cột! Tất nhiên nếu khách bán thì số tiền chênh lệch ấy nhân viên trực tiếp mua không “ăn” một mình, SJC cũng không thể “ăn” một mình, mà tất cả bọn họ từ kẻ lãnh đạo ăn trên ngồi tróc đêm ngày ủ mưu bày kế bóc lột dân ra lệnh, đến các đại gia giám đốc quản lý tập đoàn này, còn các nhân viên trực tiếp cấp dưới thì đương nhiên cũng có những phần thưởng theo khoán, theo chỉ tiêu, định mức thu mua. -         Thị trường vàng trở nên quái đản chưa từng thấy với chênh lệch giá giữa nhãn hiệu SJC cao hơn khoảng 5% so với vàng cùng loại của nhãn hiệu khác. Đây là một con số rất lớn đến mức kinh dị chưa từng có đối với mặt hàng đặc biệt này; -         Dân chúng đổ xô đi bán vàng nói chung, và riêng với các nhãn hiệu không phải là SJC; -         Nghị quyết 21/2011 của quốc hội yêu cầu bảo đảm giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới, thành vô nghĩa. Chính phủ hoàn toàn coi thường quốc hội. .v.v.  Và cuối cùng thì không thể khác những điều như ông nghị Nguyễn Trí Dũng-Nhóm tư vấn chính sách vĩ mô-Ủy ban Kinh tế quốc hội nói “Nhu cầu tích lũy tài sản bằng vàng để tránh lạm phát bào mòn tài sản tích lũy là nhu cầu chính đáng của người dân. Trước kia ngân hàng chưa huy động vàng người dân vẫn tích lũy, nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng.” (Báo Tuổi trẻ, thứ 7, 17.11.2012, page 7)  Vậy là sao? Tiếc là ông Trí Dũng này, nếu tôi đoán không nhầm, lại quá lịch sự không đúng chỗ, khi ông không nói thẳng ra rằng “nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng, chính quyền đừng hòng moi được hết vàng của dân, nhá !”  Giả thuyết của tôi hoàn toàn phù hợp với phát biểu của ông nghị Nguyễn Văn Tuyết-Bà Rịa Vũng Tàu rằng “Thống đốc trả lời khôn cũng tốt nhưng đừng nghĩ là dân không biết gì.”.  Đúng vậy! Có thể dân-trong đó có tôi, chưa biết sự thật là gì (vì được che giấu quá kỹ), chưa biết tốt đẹp, thịnh vượng, văn minh là như thế nào nhưng chắc chắn chúng tôi biết rằng cái hiện tại của đất nước này, của chính quyền cộng sản Việt Nam này là độc tài, là gian dối, là ngu dốt. Vì vậy, mà tận sâu trong lòng người dân Việt Nam giờ đây quá chán ngán tất cả những gì cộng sản nói, bằng chứng là học sinh Việt Nam bây giờ coi môn lịch sử chỉ là môn học nhảm nhí, thậm chí không cần học, thậm chí ngay cả ông bộ trưởng giáo dục Việt Nam còn xưng xưng phát biểu rằng “50% học sinh thi tốt nghiệp trung học môn sử dưới 2 điểm, là bình thường.”  Kết thúc phần Vàng, xin trích 2 phát biểu: -         Ông nghị Trần Du Lịch phát biểu tại phiên chất vấn thống đốc Nguyễn Văn Bình sáng 13.11.2012 “Qua phần trình bày của thống đốc, dường như muốn tiêu diệt thị trường vàng, chứ không muốn bình ổn thị trường vàng.” -         Thống đốc Nguyễn Văn Bình “Sau 6 tháng thực hiện nghị định 24, nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng.” phát biểu cùng buổi sáng hôm ấy tại quốc hội.  Vô cùng sung sướng và mãn nguyện!   ĐÔ LA Câu chuyện của đô la ở Việt Nam hiện nay cũng thú vị không kém câu chuyện của vàng. Chỉ khác là việc nhà nước thắt chặt việc mua bán ngoại tệ đã có từ rất lâu, nhưng làm thì đì đùng, vì thật ra là không làm nổi, không muốn làm. Chính thế mà nhiều người dân bị mất tiền oan khi đi mua bán ngoại tệ, vừa mất số tiền đem mua, bán, vừa bị phạt thêm một số tiền rất lớn, nên uất ức vô cùng. Giới công an, quản lý thị trường và nhất là các thể loại trinh sát liên ngành chỉ việc thỉnh thoảng phố hợp với nhau đi rình ở các hiệu vàng, các điểm mua bán ngoại tệ tư nhân mà ai cũng biết, rồi thích bắt ai là bắt, hoặc bắt theo chuyên án để vớ được quả “bẫm” mà chia nhau.  Việc thắt chặt mua bán ngoại tệ, mà chủ yếu là đô la khác với vụ quản lý vàng ở trên là chính quyền không thể bỗng dưng chọn một loại ngoại tệ nào để làm đối tượng siết được vì nó có sẵn rồi, chỉ vài loại như thế, như thế, mà mình lại chẳng thể tác động gì vào nó, không in khống được, không làm giả được, cũng không làm nó tăng hay giảm giá trị được, vậy phải làm cách nào đây để thu gom được thật nhiều ngoại tệ, càng nhiều càng tốt. Thế là chính quyền, với công cụ quyền lực trong tay, nghĩ ra ngay những mệnh lệnh hành chính cho đám lâu la bộ sậu hùng hổ thực thi.  Ngày 29.08.2011 Ngân hàng nhà nước ban hành thông tư 20 về mua bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép. Những quy định của thông tư cực kỳ nhiêu khê và còn có dấu hiệu của “nước đái chuột”. Mỗi ngày mỗi người được mua tối đa là 100 đô la cho một ngày đi công tác, du lịch, khám chữa bệnh, công tác, thăm viếng ..v..v.. và chỉ được mua tối đa cho 10 ngày, với điều kiện phải trình bày lý do bằng văn bản có các giấy tờ khác chứng minh kèm theo. Đối với doanh nghiệp thì khỏi phải nói về những nhiêu khê khốn khổ trong hành trình đi mua đô la của họ.  Ngược lại với thủ tục áp cho người mua ngoại tệ cực kỳ quan liêu, nhiêu khê, theo đúng cái cách mà chính quyền cộng sản này luôn đối xử với dân là “Chúng mày cần nhưng bọn ông đếch cần.”, thì dân tình ngây ngô được khuyến khích đem hết ngoại tệ ra mà bán cho ngân hàng, không hạn chế số lượng, thậm chí bán cả ngoài giờ và ngay tại nhà dân thì nhân viên ngân hàng cũng sẽ rất vui lòng vác bị đến mua luôn và ngay. Còn với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì thậm chí ngân hàng còn có sáng kiến và lạm quyền tự động giữ lại đô la của doanh nghiệp mà bên phía nước ngoài trả cho doanh nghiệp trước đó qua các LC tại ngân hàng và bắt doanh nghiệp muốn lấy được số tiền chính đáng của mình phải mất rất nhiều thời gian công sức cho các thủ tục quan liêu hành dân, đến mức gần như tất cả các doanh nghiệp đều phải cho nhân viên ngân hàng ăn của đút để giải quyết cho họ được rút ngoại tệ của họ ra.  Thiết nghĩ, xin nhắc lại chút ít rằng tất cả các ngân hàng nội địa Việt Nam dù là tư nhân (nguồn gốc thành lập) hay quốc doanh được cổ phần hóa thì đều có cổ đông lớn nhất là phe cánh, bè nhóm của các thể loại lãnh đạo chóp bu cộng sản.  Ví dụ: Ngày 31.08.2012, tại Huế, công an đã bắt 1 vụ mua bán ngoại tệ trái phép của ông Lộc-người bán 10.000 đô la Mỹ với bên mua là hiệu vàng Phước Lộc trên đường Mai Thúc Loan-tiền để mua là 209 triệu đồng. Người bán và mua bị tịch toàn bộ số tiền này, ngoài ra còn bị phạt mỗi người một số tiền khổng lồ là 80 triệu đồng. Báo Thanh tra điện tử đăng ngày 17.10.2012, ngoài ra bài viết còn nhấn mạnh “Theo các điều tra viên, việc mua bán ngoại tệ trái phép này nhằm thu lợi bất chính. Do thủ đoạn, hành vi hết sức tinh vị nên lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ công anh thành phố Huế đã phải mất nhiều thời gian mới bắt được.”  Ở Việt Nam, lên tiếng đòi tự do ngôn luận, viết báo đòi tự do lập hội, đi biểu tính đòi tự do yêu nước còn bị chính quyền vu cho là “để kiếm tiền, nhằm thu lợi bất chính” thì việc mấy người trên bị đối xử như tội phạm bắt quả tang, bị tịch thu hết cả tiền bạc, rồi còn bị xử phạt là cũng đúng thôi. Nhưng cái “đúng” này nên nhớ là đúng với nhu cầu ăn cướp, đúng với cách hành pháp hành dân, bẫy dân của chính quyền cộng sản Việt Nam, chứ hoàn toàn không phải là sự đúng đắn và phù hợp với nhu cầu thực tế và hành xử bình thường có đạo lý của xã hội và người dân Việt Nam. Bằng chứng là ai biết về vụ việc này ngay khi nó xảy ra và bây giờ khi kiểm chứng bài viết này thì chỉ đều thấy phẫn nộ chính quyền cộng sản Việt Nam là một lũ cướp đê tiện, và xót xa oán thán thay cho 2 công dân kia.  Khỏi phải nói sau 1 năm thực hiện thông tư 20 nêu trên, các ngân hàng đã moi được của dân  bao nhiêu đô la! Ý quên, mua ạh !   ĐÀO TẨU Khi quyết định đào tẩu, có 3 điều quan trọng phải nghĩ kỹ: 1-    Đào tẩu sang nước nào? 2-    Đào tẩu khi nào? 3-    Đem theo gì khi đào tẩu? Đối với lãnh đạo cộng sản cao cấp kiêm tư bản đỏ ở Việt Nam hiện nay thì các câu trả lời đương nhiên là: 1-    Đào tẩu sang các nước tự do, dân chủ. Thật đáng tiếc cho họ các nước cộng sản ruột thừa anh em chi sống chí chết của họ lại chẳng có đồng chí nào là tự do, dân chủ cả, nên đành phải vác cái mặt trơ trẽn méo mó cô hồn dị hợm đào tẩu sang các nước tư bản giẫy chết vậy. 2-    Đào tẩu khi thời điểm thuận lợi, nhất là việc chuẩn bị tài lực cho cuộc sống sau đào tẩu đã chuẩn bị xong. Nhưng ôi chao! Cái việc này lại hay bị kéo dài vì lòng tham của bọn chúng là vô đáy, với lại mọi sự trên đời này nào có mấy khi như ý mình. Sự không như ý ấy vừa đến từ những rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên, vừa đến từ tình đồng chí cộng sản-cái thứ tình mà ngày hôm trước còn ôm hôn nịnh bợ nhau không biết ngượng như mất trí thì ngay hôm sau đã có thể ra lệnh bắt nhốt nhau, đấu tố nhau và cả giết nhau nhân danh sự “cải tạo”. 3-    Hành trang đem theo khi đào tẩu đương nhiên là một lý lịch mới (Con em cộng sản đi du học còn làm hẳn bộ lý lịch và cả cha mẹ mới, bất chấp tự trọng và tình cảm tự nhiên của con người, huống hồ là đào tẩu!) và thật nhiều, thật nhiều tiền và kim loại quý dễ quy đổi và sử dụng được như tiền. Vậy, tiền ấy là tiền nào, kim loại ấy là kim loại gì mà ở đâu, lúc nào cũng có giá trị ổn định nhất so với các loại tiền và kim loại quý khác?  Ấy là vàng và đô la. Vàng ở đâu cũng là vàng. Đô la ở đâu cũng là đô la. Giá trị luôn được bảo toàn gần như tuyệt đối bằng nhau ở mọi nơi có sử dụng vàng và đô la trên thế giới này (Tất nhiên có thể có xê dịch chút ít, nhưng đảm bảo là rất ít!).  Do vậy, với một chính quyền đã thối nát đến tận cùng, nền kinh tế đã be bét, rách bơm không che giấu vào đâu được nữa, cộng sản chỉ còn trông mong vào sự khiếp sợ của ngươii dân mà nỗi sợ ấy đã được dày công gieo mầm nuôi dưỡng trọn vẹn 3 thế hệ trong hơn nửa thế kỷ qua, để vơ vét nốt được ngày nào hay ngày ấy, rồi đánh bài chuồn. Quá trình chuẩn bị đào tẩu đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu dưới mọi hình thức mua bất động sản, chứng khoán, đầu tư trực tiếp kinh doanh, cho con cái du học, kết hôn với người có quốc tịch nước ngoài, đem đô la, vàng kiếm được bất hợp pháp ra gửi ở nước ngoài.  Vàng, đô la ấy kiếm thêm, moi thêm ở đâu ra bây giờ? Đầu tư nước ngoài đã chựng lại vì bộ mặt lật lọng tham nhũng phơi lộ bầy hầy nhớp nhúa đến nỗi tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ mạt cũng không còn hấp dẫn như trước nữa rồi. Dân thì cũng đã khôn ra một tí, có bị chính quyền lừa mỵ đến mấy cũng đã bình tĩnh hơn mà suy xét sáng suốt cất giữ bảo tồn tài sản của mình vào những thứ đáng quý và thực chất, và đặc biệt là có giá trị ổn định khi giao dịch toàn cầu.  Ấy là vàng và đô la.  Bỗng dưng lại tưởng tượng có một tên cộng sản tư bản đỏ nào đó lại dựng ngược lên “Ờh đấy! Bọn tao đào tẩu thì phải cần vàng, cần đô la chứ. Dở người mà mang theo tiền đồng Việt Nam để làm giấy lộn àh. Lũ dân đen chúng mày thì đi đâu, cứ yên tâm mà dùng tiền Việt, nhá! Có bao nhiêu vàng, đô hãy mang ra đây, ông có nhà máy ông in tiền đồng ông đổi cho. Chúng mày mà không đổi đúng đầu nậu nhà ông là ông tịch thu hết đấy, nhân danh nhà nước hẳn hoi, nhá! ”  Lê thị Công Nhân Hà Nội, 20.11.2012 http://viet-luan.com/231112/VangDoDaoTau.html">http://viet-luan.com/231112/VangDoDaoTau.html
......

Vỡ đập thủy điện Đăk Mek 3

Chuyện khó tin nhưng chủ đầu tư lại khẳng định nguyên nhân khiến đập thủy điện dài 80m, cao 20m ở huyện Đăk Glei (Kon Tum) sụp đổ một đoạn 60m, làm một người chết, là do tài xế chạy xe ben Dongfeng của Trung Quốc chở 60 tấn, quá tải va vào. Dù vụ vỡ đập thủy điện Đăk Mek 3 dưới chân núi Ngọc Linh (xã Đăk Choong, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum) xảy ra ngày 22.11 nhưng mọi thông tin hầu như bị bịt kín cho tới ngày 25.11.    Ông Trần Văn Bình, một người dân sống gần thủy điện Đăk Mek 3, nói: “Kinh hoàng lắm. Chiều 22-11, khi tôi đang đưa con ra phía hạ nguồn đập thủy điện tắm thì nghe một tiếng ầm lớn. Mọi người đang tắm dưới sông tưởng động đất xảy ra. Nhưng khi nhìn về phía đập thủy điện đang thi công thì thấy khói bụi bay lên mù trời. Tôi tìm cách vào bên trong coi thử nhưng bảo vệ không cho vào, sau đó chỉ biết rằng có người chết”.  Đập dài 80m, 60m vỡ vụn hoàn toàn   Ảnh: Hữu Khá - TTO Theo quan sát của PV Tuổi Trẻ Online (TTO), hiện trường đập thủy điện đổ nhào. Từng khối bêtông lớn gãy, nằm chỏng chơ dưới sông. Tấm bạt che làm nơi mổ tử thi nạn nhân vẫn còn hương, đèn. Mặt đập phía thượng nguồn đổ gãy, từng cây thép lớn nằm la liệt, cong vẹo. Đất đá bên trong đổ văng ra xa mấy chục mét. Trên đống đất đá, một chiếc xe ben đã bị móp méo.   Theo ông Lê Bá Thanh - giám đốc Công ty cổ phần thủy điện Hồng Phát Đăk Mek (chủ đầu tư), sự cố vỡ đập xảy ra lúc 17 giờ 30 ngày 22-11. Khi công nhân của các đơn vị đang thi công chèn đá vùng thân đập thì xảy ra sự cố khiến đập vỡ về phía thượng lưu. Lúc xảy ra sự việc, một tài xế đang đứng cạnh bị vùi xuống vực sâu.   Cũng theo ông Thanh, đập có thiết kế dài khoảng 80m, cao 20m nhưng hiện tại hơn 60m đập đã vỡ hoàn toàn. Nguyên nhân vỡ đập, theo ông Thanh lý giải, do một chiếc xe ben khi chở đá đã va vào thân đập khiến đập vỡ dây chuyền.   Ông Thanh nói công trình của ông có mua bảo hiểm, khi sự việc xảy ra chỉ có một người chết, không có ai bị thương. Tuy nhiên, trưởng trạm y tế xã Đăk Choong Cao Văn Dương nói có một người bị thương nhưng sau đó không rõ đi đâu.   Chiều 25-11, ông Nguyễn Quang Oánh - phó chủ tịch UBND huyện Đăk Glei - cho biết ông có nắm thông tin về vụ vỡ đập thủy điện Đăk Mek 3. Sau khi sự cố xảy ra, huyện đã cho lực lượng vào nắm tình hình hiện trường, tuy nhiên đây là việc của chủ đầu tư, sự cố vừa xảy ra chỉ là tai nạn lao động. Ông Đỗ Hoàng Liên Sơn, giám đốc Sở Xây dựng Kon Tum, cho biết sự cố vỡ đập xảy ra tại thủy điện Đăk Mek 3 chủ đầu tư chưa báo cáo nên ông chưa nắm được.   Nói về chất lượng công trình thủy điện, ông Sơn bình luận: “Vì chủ đầu tư và đơn vị thi công là một nhà cả nên chưa chắc họ đã thi công đúng theo thiết kế được duyệt. Giám sát cũng do một đơn vị của chủ đầu tư thuê luôn. Về tiến độ công trình, chủ đầu tư làm mình không nắm được nên các công trình này cũng chưa tổ chức giám sát”. Dự án thủy điện Đăk Mek 3 Khởi công tháng 3-2009, dự kiến phát điện đầu năm 2013 với công suất 7,5MW, vốn đầu tư hơn 200 tỉ đồng. Công trình do Công ty cổ phần tư vấn thiết kế Nam Việt (trụ sở tại TP.Sài Gòn) thiết kế và Công ty thi công cơ giới Hồng Phát thi công.  
......

Đợi về hưu rồi ta lên tiếng - âu cũng là một nét văn hóa của nhà sản.(**)

Hà nội, ngày 12.11.2012Với người dân và truyền thông Việt Nam ông Đặng Hùng Võ, cựu thứ trưởng bộ Tài nguyên Môi trường là một người khá quen. Quen vì ông là người tử tế và có trình độ - một sự lạ và hiếm trong giới chính khách Việt Nam. Chưa kể ông còn là người gần gũi với báo chí và công chúng, yêu thích các phương tiện giao tiếp hiện đại trên Internet. Nhưng vừa rồi, ông có làm một chuyện “lạ”, thật là lạ, bởi trước ông chưa ai làm như vậy, là còn vì việc ông làm lại liên quan mật thiết và trực tiếp tới những người dân khiếu nại, tố cáo, chống lại chính quyền cưỡng chế đất đai trong dự án khu đô thị mới rất cao cấp là Ecopark, còn gọi là “vụ Văn Giang”. Chiều ngày 8.11.2012 ông Võ gặp một số người dân và luật sư của họ để đối thoại về một số vấn đề mà người dân thắc mắc. Nơi gặp là một phòng tiếp dân ở trụ sở bộ Tài nguyên Môi trường. Trước đó nhiều ngày báo chí đã đồng loạt đưa tin về việc “lạ” và “hot” này. Nội dung chủ yếu là các quan chức thuộc hàng cao nhất của bộ như thứ trưởng, chánh văn phòng … chỉ ra sức nhấn mạnh rằng đây hoàn toàn là cuộc gặp của cá nhân ông Võ, do ý tưởng và tổ chức của riêng ông Võ, bộ chỉ cho mượn địa điểm vì dù sao thì ông Võ cũng từng là thứ trưởng của bộ, và một ý nữa cũng được nhấn mạnh không kém là ý kiến của ông Võ chỉ là cá nhân, hoàn toàn không phải ý kiến của bộ. Việc các quan cứ nhấn mạnh, nói đi nói lại ý đó làm người dân cảm tưởng họ sợ dân nghĩ rằng họ cũng có ý tưởng “dân chủ vượt rào” như vậy thì khốn cho họ. Ấy là chưa kể 99% mọi người đều đoán được nội dung chính mà ông Võ sẽ “đối thoại” chính là lý giải, thanh minh, vớt vát chút gì đó về vai trò của ông ta trong vụ việc này, tạm hiểu là nhận lỗi, nhận sai ở một mức độ nào đó.  Nội dung quan trọng nhất của cuộc gặp là câu hỏi tại sao thời hạn xét duyệt giao đất cho chủ đầu tư chỉ vỏn vẹn mất có 3 ngày-một khoảng thời gian nhanh tới mức không tưởng. Cụ thể là từ khi Ủy ban tỉnh Hưng Yên ký trình việc giao đất – ngày 28.6.2003, đưa lên Bộ Tài nguyên Môi trường duyệt, ký trình – ngày 29.6.2003, đưa lên Thủ tướng ký duyệt ngày 30.6.2003 – ngày cuối cùng Luật đất đai 1993 còn hiệu lực. Ông Võ giải thích rằng “Vì đây là dự án trọng điểm. Khi cuộc sống cần thì không thể chờ luật. Tôi quan niệm như vậy khi đứng trước dự án dù bà con có thể cho rằng tôi sai. Đó là con đường chiến lược, mang lại lợi ích cho Hưng Yên, Hà Nội và ngay cho người dân Văn Giang. Khi ký trình tôi đã cân nhắc kỹ, nếu dừng lại dự án sẽ phải chậm 1,5-2 năm vì phải làm lại từ đầu. Ký thì chắc chắn có điều tiếng. Nhưng nếu phân tích lịch trình toàn bộ như trên thì thấy hợp lý thôi.” (**)  Thật ngạc nhiên và vui sướng siết bao khi nghe một quan chức – dù là cựu quan chức đi nữa nói rằng “Khi cuộc sống cần thì không thể chờ luật.”. Nhưng cần phải nói rõ là cuộc sống của ai cần, của chủ đầu tư, của doanh nghiệp, của các quan chức nhà nước hay của người dân bị thu hồi đất. Những người nông dân này rất tha thiết được nhà nước lấy đất của mình rồi giao cho người khác đến nỗi chờ không nổi Luật Đất đai mới có hiệu lực sao? Có lẽ nào họ khát khao điều ấy đến nỗi dù Luật Đất đai mới chỉ một ngày nữa là có hiệu lực nhưng vẫn chờ không nổi, muốn làm ngay để được nhận tiền đền bù thấp hơn, được thỏa thuận ít hơn, được bình đẳng ít hơn với chủ đầu tư, với chính quyền sao ? Dân gì mà cứ như một lũ thiểu năng trí tuệ và yếu hèn đến vậy? Lẽ nào trong mắt quan chức cộng sản Việt Nam dân đều là như thế ? Ngay cả một vị quan chức được coi là tử tế thuộc “hàng Top” của chính quyền Việt Nam cũng nghĩ về dân mình như vậy thì nhà nước này, chính quyền này mạt vận là cũng đúng thôi.  Ngày trước khi còn là luật sư, khi đi lấy giấy chứng nhận người bào chữa, một thủ tục mà chẳng có người dân hay vị luật sư nào lại muốn cả thì cũng phải mất ít nhất là 3 ngày. Nhưng thường thì hiếm có ai lấy được tờ giấy vớ vẩn có tác dụng duy nhất là thể hiện quyền uy và sự quan liêu của các vị quan nhà nước đúng hạn. Chả có cuộc sống ngheo khó, tối tăm, trăm thứ bề bộn lo toan nào của người dân mà cần đến cái giấy chứng nhận người bào chữa đó. Vậy mà ra trước quốc hội, dù nhiều người lên tiếng phải bỏ nó đi, nhưng các quan nhà nước vẫn quyết tâm giữ bằng được cái thủ tục phản động ấy. Tất cả cũng chỉ để duy trì quyền lực không chính đáng của công chức nhà nước, gây phiền nhiễu và hạ thấp vị thế của luật sư. Đặc điểm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vạn lần hơn hơn tư bản là luật sư là những người  bị giới nhân viên nhà nước làm việc trong ngành kiểm sát, tòa án và đặc biệt là công an ưu tiên ghét số 1, thậm chí bị coi như kẻ thù không đội trời chung. Những nhân viên nhà nước này quên mất mình là công bộc của dân. Thậm chí họ còn coi họ là bố dân. Các đương sự, bị cáo, bị hại ..v..v.. chỉ được phép đặt niềm hy vọng vào họ và chỉ có họ mới có thể mang đến chút ánh sáng cuối đường hầm cho những con người đang bế tắc, khủng hoảng, lo lắng sợ hãi, còn “luật sư chỉ là bọn phá đám” trong mắt họ. Phá đám quá đi ấy chứ, có luật sư thì đường làm ăn tham nhũng của bọn nhân viên nhân nhà nước trong các vụ việc, án từ sao còn trơn tru, kiêu ngạo được nữa, làm sao còn tiếp tục vừa dọa dân, hành dân, trù dập, gây oan sai cho dân để được ăn của đút lót mà vẫn vẫn kiêu kỳ, sang trọng, cao đạo toàn phần được nữa. Không sớm thì muộn, không ít thì nhiều cái bọn luật sư kiểu gì chúng nó mà chẳng phanh phui được ra, hoặc ít nhất cũng ngăn chặn được tí ti những cái trò tham nhũng đê tiện tởm lợm này. Mà đây lại là nguồn sống chính của đám nhân viên nhà nước ấy, nên ghét là phải thôi, hành là đúng rồi, còn kêu ca gì nữa.  Đây chỉ mới là 1 ví dụ về vấn đề thời hạn và như thế nào là “khi cuộc sống cần”. Có thể kể ra đây muôn vàn ví dụ khác như thời hạn ban đầu giải quyết khiếu nại tố cáo-30 ngày, đăng ký kết hôn-5 ngày (hẹn dân 7 ngày), đăng ký cái xe máy cũng 1 tuần ..v..v.. Lạ là chính vấn đề đất đai và nhà ở mà ông Võ đã từng là một trong các quan chức lãnh đạo nghành ở cấp cao nhất của nhà nước lại là lĩnh vực quan liêu, trây ì, chống chéo kéo dài nhất về mặt thủ tục, tạo thành cái nôi vàng, thành cánh đồng màu mỡ phì nhiêu cho nạn tham nhũng, tham ô sinh sôi nảy nở chưa từng thấy, vô địch tuyệt đối so với mọi nghành khác. Đây là lĩnh vực mà người dân bị oan sai nhiều nhất, bị làm cho khốn khổ nghèo mạt nhiều nhất. Có những vụ kiện đất đai nhà cửa mà người dân sau khi vác đơn đi kiện từ nam chí bắc, từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, kêu gọi cả đến báo chí của giới Việt kiều ở hải ngoại lên tiếng giúp, kêu gọi cả Liên Hợp quốc can thiệp, đi suốt gần 30 năm, được thanh tra chính phủ, ủy ban tư pháp quốc hội nhà sản khẳng định là dân oan thật, viết cho tờ giấy yêu cầu cơ quan địa phương giải quyết cho. Thế là xong, coi như đã hết trách nhiệm. Con sâu cái kiến tên gọi là Dân oan lại ôm cái đống hồ sơ có khi nặng đến 6kg ấy quay về điểm ban đầu để đối mặt với một đống Củ khoai tên gọi là quan chức nhà nước để bắt đầu lại từ đầu, cho đến khi hơi tàn lực kiệt, chẳng còn xu dính túi, sống vô gia cư, nghèo khổ như ăn mày ăn xin. Con sâu cái kiến nào mà bỗng dưng nhận ra mình cũng là con người, mình có quyền con người tự thân đương nhiên, mình phải biết nổi giận và nổi dậy chống lại bọn cường hào ác bác, bọn nội xâm ung thư cộng sản này là bọn hiểm ác bóc lột đàn áp nô dịch người dân bằng trò thủ tục và quyết định hành chính, nhận thấy đất đai này là của mình, của tổ tiên cha ông mình để lại, mình đang sử dụng hợp pháp, mạnh mẽ lên tiếng đòi quyền làm người, mãnh liệt bảo vệ quyền con người của mình, thì bị nhà nước và cái chính quyền độc tài cộng sản này trù dập, sát hại cho thân bại danh liệt, thân tàn ma dại, thành tội phạm nguy hiểm, lý lịch xấu xa đeo bám đến tận đời con cháu. Đấy mới là “khi cuộc sống cần”. Còn cái mà ông Võ nói thì chính ông đã tự mâu thuẫn. Ông Võ là một người tài giỏi sáng suốt, quyết định đối thoại với dân cho ra nhẽ, lại vô tình nhầm lẫn như vậy sao, có chăng là ông cố ý đánh tráo đối tượng, tung hỏa mù biến điều chủ đầu tư muốn, điều chính quyền muốn – mà trong đó có ông, lại trở thành điều cuộc sống cần.  Ngoài ra, cũng cần nhắc lại ông chính là người chấp bút dự thảo Luật Đất đai 2003 và ông vẫn luôn tự hào về điều đó vì những sự hay hơn, tốt hơn vượt trội của luật này so với Luật đất đai 1993. Cớ nào ông Võ không muốn Luật ấy được áp dụng với một dự án trọng điểm như vậy để không chỉ người dân được đền bù thỏa đáng mà mọi khía cạnh khác của dự án này cũng sẽ được xem xét thấu đáo hơn. Cớ gì phải quyết tâm thông qua quyết định giao đất cho bằng được vào đúng ngày cuối cùng luật cũ còn hiệu lực?  Ba ngày hỏa tốc, siêu tốc hay thần tốc ấy (Chẳng biết dùng từ nào cho xứng!) lại không hề là sự vội vàng, ẩu xị mới hay! Tất cả được phối hợp sao mà nhịp nhàng chính xác để tận dụng từng giờ từng phút vàng ngọc trong 8 giờ hành chính (Vì không lẽ lại còn nhiệt tình nỗ lực đến mức ở lại làm ngoài giờ, ngồi chờ đợi công văn đến.) để ký cái xoẹt rồi lại chuyển đi lên cấp cao hơn, cao hơn nữa, cao đến tận trung ương là văn phòng thủ tướng. Lịch sử Việt Nam sẽ ghi nhận trường hợp này vào sách kỷ lục về thời hạn xét duyệt một vấn đề lớn như vậy từ cấp địa phương đến trung ương.  Khi tên quan công an Đỗ Hữu Ca ở xứ Hải Phòng, vênh cái mặt bị thịt lên đắc chí cười nói về quá trình vây bắt công dân Đoàn Văn Vươn trong khu đầm ven biển hay đến như thế nào, chưa từng có trong giáo trình dạy bắt người, xứng đáng được viết thành sách ra sao, tôi lại không thấy khó chịu và tăm tối như khi nghe ông Võ nói trong cuộc gặp này. Vì dù sao đồng chí Ca đại ca này cũng là một tên võ biền, tinh anh nó hiện ra mặt cả rồi, chả dám mong chờ gì khác ở một tên quan công an như vậy nữa. Ông Võ thì khác, ông là giáo sư, là tiến sĩ nên dù ông đã về hưu thì người ta vẫn có quyền đòi hỏi, và ông vẫn phải có nghĩa vụ trung thực và thẳng thắn để thừa nhận và đối mặt với hậu quả những gì mà ông đã làm.  Nội dung quan trọng thứ hai là ông Võ thừa nhận việc Thủ tướng (giao Phó Thủ tướng ký thay) ký quyết định 742 ngày 30.06.2004 giao đất của dân cho chủ đầu tư là sai thẩm quyền trong khi đó số đất này còn chưa có được thu hồi. Sau khi thừa nhận chỉ có Chính phủ mới có thẩm quyền quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, giao đất với những dự án quy mô như vậy, thì ông lại nói thêm cho rõ, rằng “Nhưng suốt mười năm, từ  năm 1993 (Luật Đất đai năm 1993) cho đến ngày 1.7.2003 (Luật Đất đai 2003 có hiệu lực) thì tất cả dự án đều như thế chứ không phải riêng dự án này. Thông lệ nó là vậy. Đây là cách vận hành của Chính phủ và tôi cũng góp ý là nên thay đổi” (*).  Quả thật một người có học hành tử tế, làm chính khách lâu năm, lại chăm giao lưu đối ngoại thì ông Võ ăn nói sao mà nhẹ nhàng đến thế về một điều kinh khủng – là sự vi phạm pháp luật của Chính phủ, lại còn là vi phạm phổ biến, trường kỳ và có hệ thống. Cho nên sự nhẹ nhàng này phải nói là nhẹ nhàng đến phát sợ. Bởi vì nếu nói “vi phạm pháp luật” nghe nó nặng nề, sợ người dân vì “dân trí thấp” mà tưởng là vi phạm pháp luật hình sự, thì ít ra cũng phải nói là “làm trái quy định pháp luật” thì mới đúng bản chất sự việc. Hóa ra đến giờ ông mới thừa nhận rằng cái nhà nước, cụ thể là cái chính phủ mà ông là chính khách cấp cao trong đó, lại luôn hành xử tùy tiện, trái pháp luật. Tôi thắc mắc là ông đã nhận thấy điều ấy, đã góp ý (có lẽ là góp ý một cách bí mật) từ hồi nảo hồi nao cách đây tận 19 năm, mà cứ ấp ủ mãi trong lòng, đến giờ mới dám thừa nhận theo cách mềm mại, vuốt ve như vậy sao. Thảo nào, đám con dân chúng tôi ở ngay thành phố, chứ chưa nói gì đến nông thôn cách đây gần hai chục năm đã phải chịu không biết bao nhiêu là hậu quả từ những sự tính toán kỹ lưỡng, tuy nhận thấy mà chưa dám nói ra sự sai trái trong cách vận hành của bộ máy nhà nước Việt Nam.  Sau đó là một loạt những lời nhận lỗi của ông được báo chí đăng tải nguyên văn, như “Ở cương vị cá nhân tôi mà không giám sát được những chuệch choạc thì tôi chịu trách nhiệm. Còn những thất thoát của bà con, đó là lỗi của tôi.”(*). Câu này mới nghe tưởng là hay, những nghĩ kỹ lại thấy sao mà vô nghĩa và mơ hồ! “Chuệch choạc” là cái gì? “Thất thoát” của bà con là cái gì, giá trị bao nhiêu? Cái thiệt hại nhất là quyền được phát biểu ý kiến, được thỏa thuận cách tôn trọng và bình đẳng, quyền làm chủ mảnh đất bao đời của mình và gia đình truyền lại vì “đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý” thì tại sao quyền của kẻ quản lý lại có thể cao hơn quyền của người chủ sở hữu được ..v..v..  Và cuối cùng là câu chốt “, đó là lỗi của tôi.”. Tôi rất muốn biết lỗi của ông Võ cụ thể là lỗi gì, vì ngay trước đó ông còn khăng khăng rằng những việc mà ông làm đều hợp lý cả.  Suốt 10 năm ấy (1993-2003) cách vận hành của Chính phủ vẫn là làm sai thẩm quyền của mình, chứ không riêng gì dự án Ecopark.  Có lẽ nào lỗi của ông là thấy sai mà vẫn tham gia, tham gia rồi cái sai vẫn sai nên góp ý, góp ý rồi cái sai ấy trơ trẽn ra, nên thôi dừng việc góp ý lại, chờ cái sai ấy nó tự sửa sai, chờ mãi giờ ông cũng đã về hưu rồi mới dám thừa nhận tí ti. Thôi thì nói ngắn gọn thế này, cái lỗi ấy của ông gọi cho đúng là hèn. Nói ông hèn, ông cũng chớ có giận vì khi mà ông biết điều sai đó, ông thừa sức, thừa quyền, thừa điều kiện để lên tiếng mạnh mẽ, thẳng thắn để đả phá cái sai ấy. Cái sai ấy đâu phải là nhỏ, chính quyền mà lại vi phạm, làm sai luật, lại còn tất cả vẫn luôn vi phạm, làm sai như vậy suốt từ trước đến giờ, thì phải gọi cái chính quyền ấy là gì, nếu không phải là một băng tội phạm, một đảng cướp.  Tôi không mắng ông Võ chẳng lẽ tôi lại đi mắng mấy ông bà nông dân, xe ôm, buôn thúng bán mẹt, hay những người công nhân phải ăn cả cơm thiu, cơm dòi … những người mà giới nhân viên nhà nước luôn cho rằng có dân trí thấp, động đất tí mà cũng sợ !?! Hay tôi mắng bọn quan tham trơ trẽn, đám lãnh đạo ngu tối mà lại cao siêu là những tên tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch nước chủ tịch quốc hội, trưởng ban khoa giáo trung ương… với  những kẻ này thì phải chửi, phải lên án kịch liệt, phải đấu tố truy cứu tội ác của chúng – bè lũ dối trá, ác ôn, lạc hậu man rợ, độc tài toàn trị, dối trá xảo quyết nhưng lại rao giảng đạo đức và văn minh, một đảng cướp nhưng lại rao giảng hòa bình và thịnh vượng.  Vì thế tôi nghĩ và khẳng định những người như ông Võ là đáng trách nhất cho hiện trạng suy đồi, nghèo khổ và khó khăn mọi bề của đất nước và đời sống người dân Việt Nam hiện nay.  Giờ ông về hưu lâu rồi thì (hay nên?) ông lại nhận lỗi. Việc làm của ông thực hiện khá lâu đến nỗi gần 1 năm nữa là thập kỷ đã trôi qua. Ông sẽ làm gì để được tha lỗi, để khắc phục những hậu quả đáng sợ vừa là thiệt hại to lớn về vật chất vừa là những hệ lụy danh dự, tinh thần của người dân từ sự kháng cự cái ác điều sai của các ông mà họ phải gánh chịu? Chính ông góp phần vào những điều đau khổ này bằng sự tham gia và những nỗ lực nhiệt tình kỳ lạ không thể chối cãi của ông.  Việc ông nhận lỗi khiến tôi buồn cười và nổi giận nghĩ đến những lời xin lỗi kiểu quan chức cộng sản, mà nổi tiếng nhất là lời xin lỗi của ông Hồ Chí Minh sau vụ cải cách ruộng đất khiến gần nửa triệu người mà đa phần là tinh hoa, tài giỏi của nông thôn miền bắc bị giết chết vô cùng tàn nhẫn, man rợ, thậm chí ông ta còn vặn cái rô bi nê nước mắt cho chảy ra vài giọt tí ti nữa cơ. Thế là xong !  Tất nhiên, mọi sự so sánh đều khập khiễng, nên tôi không so sánh lời xin lỗi của ông Võ với ông Hồ, chỉ là sự liên tưởng nhớ đến. Có thể ông Võ đã học tập và làm theo rất tốt tấm gương đạo đức kiểu Hồ Chí Minh, và vận dụng thành công, khéo léo tinh vi trong vụ việc của mình. Chúc mừng ông! Tiếc là tôi không làm giám khảo cuộc thi học tập và làm theo tấm gương đạo đức kiểu Hồ Chí Minh, nếu không tôi sẽ chấm ông ít nhất là giải nhì!  Kiểu như ông mới là đáng nể. Sau khi phân tích mọi sự để vớt vát chứng minh là mình vẫn đúng vì thời đó kiểu nó phải thế (Hậu quả về sau không cần biết !?!) thì ông chốt lại bằng câu nhận sai và xin lỗi!  Thật hoàn hảo! Thật khéo hết chỗ nói!  Bảo đảm giới quan chức nhà sản sau phen này sẽ đua nhau học tập ông Võ, vì đây là phương án an toàn nhất trong thời buổi hiện đại này, thời buổi mà cái sự về hưu, cái trò xin nghỉ vì lý do sức khỏe, việc gia đình vẫn chưa chắc là màn hạ cánh an toàn cho một kết thúc có hậu cuối cùng. Thời này đã khác quá xa thời cải cách ruộng đất khi mà đám lâu la và cỗ máy bạo lực vũ trang mà đảng tự nhận là của mình, bắt phải phục vụ và tuyệt đối trung thành với đảng, đã thấy rõ cái thứ mà họ phải trung thành và phục vụ ấy chẳng qua là điêu hơn, xảo quyệt hơn, tham nhũng hơn mình, ác hơn họ mà thôi.  Tôi nghĩ ông Võ là người tử tế trong giới quan chứcViệt Nam, đến giờ tôi vẫn không nghĩ khác đi, chỉ thấy thêm một điều là ông quá khôn ngoan. Giá như hồi “vụ Văn Giang” nổ ra, dân chúng, nhà báo, phóng viên chân chính chịu không biết bao nhiêu là gậy gộc, đấm đá của công an và nhân viên nhà nước, máu đã rơi, xương đã gẫy mà ông lên tiếng ngay lúc đó. Hoặc còn hơn thế khi ông vừa mới về hưu ông đã lên tiếng ngay lập tức, hoặc trong sự tưởng tượng mê ly của tôi, ngay khi đương chức ông đã dám nói lên một cách ngay thẳng và mạnh mẽ những điều sai trái mà ông thấy, thì nhiều sự việc đã khác đi.  Ông quá khôn ! Người ta nói cái gì quá cũng không tốt, nhưng ông không cô đơn trong cái sự khôn ấy, vì ngày càng có nhiều người khôn như ông, không khéo nhóm người như ông lại tạo thành một kiểu khôn thời thượng, ngày càng được học tập và làm theo như một trào lưu. Đợi về hưu rồi ta lên tiếng - âu cũng là một nét văn hóa của nhà sản.  Bỗng dưng lại thấy mình ngu! Lẽ ra phải cố, không quen biết thân thiết thì dùng tiền, không tiền thì dùng cái chi chi, vào bằng được một cơ quan nhà nước nào đấy. Sau đó dùng cái đầu – tự thấy là cũng khá thông minh tinh quái, để leo lên một vị trí nào đó “kiếm lắm”. Từ đấy tha hồ mà nghĩ ra đủ trò hành dân, hành doanh nghiệp dù nó đúng hay sai, ăn cho đậm, lương mấy phẩy nhưng nhà lầu xe hơi, du lịch khắp thế giới, con cái du học nước ngoài, thoải mái mua sắm hàng hiệu cho thỏa niềm khát khao tư bản dấu kín bao lâu nay… Rồi đợi ngày về hưu nhà cao cửa rộng, con cái chân trong chân ngoài vững chắc cả thì tha hồ mà đạo mạo ung dung thanh thản như tiên ông, tiên bà. Khi ấy nhận lỗi, nhận sai tí ti lại là hay! Đảng vẫn yêu, mà dân lại mến ! Lê Thị Công Nhân * Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh thứ 6, 9.11.2012, page 5 “Giáo sư Đặng Hùng Võ thừa nhận có lỗi”. ** Tựa đề do BBT Thông Tin Đức Quốc đặt.
......

Công an Hà Nội đã xua quân trấn áp dân oan

Hàng ngày, rất nhiều người dân oan khắp nơi, tập trung ở Hà Nội khiếu kiện trong vô vọng. Một số người còn bị đánh đập hay bắt giữ.     Tin trong ngày Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012 cho hay người đầu tiên bị CA đánh đến ngất xỉu vào trưa ngày, 21/11, là cụ bà Nguyễn Thị Hồng, dân oan Quảng Bình. Người thứ hai là cụ Nguyễn Xuân Hiền, 75 tuổi, một cụ ông trong số hàng chục người từ Ðà Nẵng tới thủ đô Hà Nội khiếu kiện ở trung ương. Nhận được tin báo, cụ Lê Hiền Đức đã nhanh chóng đến can thiệp, đồng thời yêu cầu công an lập biên bản về việc dùng bạo lực xô xát với dân oan. Trong lúc cụ Hiền Đức đang tiếp xúc lăng nghe bà con dân oan phản ánh nỗi oan khuất của mình thì công an và dân phong lại kéo đến đòi giải tán. Cụ Lê Hiền Đức đã bị xô ngã, đầu đập vào vỉa hè. Tưởng cũng nên nhắc lại là cụ Lê Hiền Đức là một người nổi tiếng chống tham nhũng, từng đoạt giải thưởng Liêm chính nhất năm 2007 của tổ chức Minh Bạch quốc tế.   Tính đến hôm nay, đã xảy 5 trường hợp công an dùng bạo lực đối với dân oan khiếu kiện tại Hà Nội. Trước đó, cụ bà dân oan Hà Thị Nhung do công an xô xát đã làm cụ bà ngã xuống chết trong uất ức. Một trường hợp bị công an đánh đập đến mức phải nhập viện là cô Trần Ngọc Anh, dân oan Vũng Tàu. Cô Ngọc Anh nhập viện từ hôm 13/11/2012, hiện sức khỏe vẫn còn đang rất yếu. Với hành động bao che tội ác như trên, phải chăng CA Hà Nội đã 'bật đèn xanh' cho những hành vi trấn áp ngày càng dã man, thô bạo đối với dân oan khiếu kiện, đặc biệt là những dân oan lớn tuổi.  
......

Trung Quốc in đường 'lưỡi bò' trên hộ chiếu

Nhật báo Anh Financial Times (FT) nói Đại sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh xác nhận: "Phía Việt Nam đã biết việc làm này và hai bên đang thảo luận về động tác mới của Trung Quốc, nhưng chưa có kết quả". Quan ngại chính là khi công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu in hình bản đồ, vẫn được gọi là 'đường lưỡi bò' chiếm phần lớn Biển Đông, ra nước ngoài; nếu các nước sở tại đóng dấu xuất nhập cảnh thì có thể được xem là chấp nhận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc hay không. Trong trường hợp không chấp nhận bản đồ chủ quyền này, thì dựa trên lý do nào để từ chối xuấ̉t nhập cảnh đối với người Trung Quốc? Philippines, xưa nay vẫn là quốc gia lớn tiếng chỉ trích Trung Quốc ở Biển Đông nhất, cũng lập tức phản đối một cách mạnh mẽ.   Truyền thông Philippines dẫn lời Ngoại trưởng Albert del Rosario viết trong công hàm ngoại giao gửi tới Bắc Kinh thông qua đường đại sứ quán, rằng Manila "cực lực phản đối việc in hình đường chín đoạn trong hộ chiếu điện tử vì bản đồ này bao gồm các phần lãnh thổ và lãnh hải của Philippines". “Philippines không chấp nhận đường chín đoạn, cho đây là tuyên bố chủ quyền về lãnh hải một cách quá đáng, vi phạm luật pháp quốc tế." Giới quan sát nhanh chóng đưa ra bình luận về động tác mà một số người gọi là 'thâm độc' này của Trung Quốc. Một nhà ngoại giao ở Bắc Kinh, đề nghị giấu tên, nói với tờ FT: "Đây là bước leo thang khá nghiêm trọng vì Trung Quốc đang cấp hàng triệu hộ chiếu mới, và hộ chiếu người lớn nay có thời hạn 10 năm". Trước những hành động trơ trẻn này của Trung Quốc, không chỉ Philippines, Việt Nam, mà ngay cả Đài Loan cũng đã lên tiêng phản đối hộ chiếu mới mà nước này phát cho công dân.   Theo tin AFP cho biết, ngày 23/11, Đài Loan lên tiếng phản đối Trung Quốc, sau khi nước này phát hành hộ chiếu mới có in bản đồ "đường lưỡi bò". "Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu kêu gọi Trung Quốc không “đơn phương phá vỡ hiện trạng eo biển Đài Loan”, quan chức của ông phát biểu trong một tuyên bố. Tuyên bố này được phía Đài Loan đưa ra là do hộ chiếu điện tử mới của Trung Quốc có in thêm bản đồ có Hồ Nhật Nguyệt và Vách núi Cingshui. Theo tờ Hindustan Times vào hôm nay, 23.11, tòa đại sứ Ấn Độ ở Trung Quốc đã trả đũa bằng cách cấp cho các công dân Trung Quốc thị thực có in hình bản đồ của họ, trong đó mô tả hai khu vực tranh chấp nói trên thuộc lãnh thổ Ấn Độ.
......

Đường lưỡi bò và chiếc lưỡi của những con bò

 Nguyễn Minh Triết đang nói về phân hóa nội bộ Obama(!) Vị thế Việt Nam và đường lưỡi bò Còn nhớ, trong một buổi gặp Việt kiều, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói: “Ngay tại Đại hội Đồng LHQ vừa rồi mình lên tiếng mạnh mẽ phê phán cấm vận Cuba. Ngoài ý kiến chung, tôi còn thêm một ý kiến tôi hoan nghênh ông Obama. Ổng tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Guantanamô mà… Tôi nói mà tôi thấy ổng cũng nhìn chăm chú lắm a, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên, vừa phân hóa nội bộ của ổng. Như vậy, cái vai trò cái vị trí của mình giờ cũng ngang hàng với người ta, nói năng cũng đúng mức, đàng goàng”.  Ông chủ tịch nước nói vậy là hơi khiêm tốn về vị thế của đất nước ta cũng như của chính phủ ta khi chỉ nói rằng “cái vai trò cái vị trí của mình giờ cũng ngang hàng với người ta”. Cái vai trò và vị trí Việt nam giờ lên cao, cao đến đâu chắc chỉ cần nhìn qua những hành động của nhà nước ta cũng đủ chứng minh. Rất cụ thể và rất nhiều. Nhưng không cần lấy những ví dụ xa xôi, chỉ lấy vài ví dụ nóng bỏng nhất, gần đây nhất cho dễ thấy và dễ hiểu.   Những vụ xâm lấn biển đảo của Tổ Quốc đã không còn là những lời đe dọa suông, mà là những hành động hết sức cụ thể, liên tục và có hệ thống đối với Hoàng Sa, rồi bây giờ là Trường Sa. Tương tự như vậy, bàn tay bành trướng của Bắc Kinh cũng vươn ra đến tận Philippine, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn… Song hai cách xử sự khác hẳn nhau. Chứng tỏ vị thế đất nước ta hơn hẳn các nước cùng bị nạn xâm lược.   Khi , Trung Cộng thành lập Thành phố ngay trên đất của ta, “đàng goàng” đưa quân đội chiếm đóng trái phép ngay trên đất nước ta, người người phẫn nộ, dân biểu tình ôn hòa chống lại, thì nhà nước cho dập tan, bắt bớ vào tù hoặc ít nhất là vào trại phục hồi nhân phẩm, báo chí bôi nhọ đủ trò bẩn thỉu. Đích thị bọn yêu nước là bọn phản động vì mọi vấn đề “đã có đảng và nhà nước lo”. Trong khi đó, ở Philppines thì bọn "đảng và nhà nước" không chịu lo, lại còn tổ chức cho dân biểu tình phản đối. Nói về cách giải quyết, thì đảng và nhà nước ta hơn hẳn đảng và nhà nước Philippines một bậc. Đảng và nhà nước Việt Nam lấy "16 chữ vàng và 4 tốt" làm trọng, còn lãnh thổ, đất đai chỉ là chuyện “con sâu cái lá” – nói theo cách của cán bộ Công an nói về nạn mãi lộ, tham nhũng của cảnh sát giao thông. Còn Philippines thì chẳng cần chữ vàng và một tốt nào, sẵn sàng liên kết với Mỹ, động viên nhân dân chiến đấu chống kẻ thù xâm lược.   Philippines biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Do vậy mà kết quả là gì? Dù Hiến pháp quy định rõ “Đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”, nhưng nhà nước chỉ lo quản lý đất đai của dân bao đời gây dựng, đất nhà thờ, thánh thất, tu viện để làm dự án, để chia chác là nhanh. Còn Hoàng Sa, Trường Sa Lãnh thổ ta dần dần được anh bạn vàng quản lý hộ. Cũng không sao, lý do là vì ngay Chủ tịch Quốc hội http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/450093/Chu-tich-Quoc-hoi-Nguyen-Sinh-..." target="_blank">Nguyễn Sinh Hùng đã nói: “Ta và Trung Quốc cần hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đoàn kết để hai dân tộc cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Quốc hội thì thế, còn ông Tổng bí thư Đảng CS thì: “Biển Đông không có gì mới”. Mà không có gì mới thật, cũng là anh bạn cũ, cũng là việc xâm lược như cũ, cùng là nạn nhân là ngư dân Việt Nam như cũ, nên chẳng có gì phải bàn. Còn anh Philippines thì sao, hẳn là họ không có sự lãnh đạo sáng suốt nên không nhìn thấy cái CNXH mà đi lên. Vì vậy, dù nước họ nghèo, bão tố thiên tai triền miên, thì họ vẫn quyết tâm “còn bát gạo cũng thổi nốt” để bảo vệ lãnh thổ. Kết quả là gì: Trung Quốc không dễ dàng gì bắt nạt người dânPhilippines qua vụ bãi cạn vừa qua.   Đàn áp biểu tình yêu nước ở Hà Nội Vài hôm nay, Trung Cộng hung hăng đi thêm một bước mới trong âm mưu bành trướng ra các nước láng giềng bằng cách in lên hộ chiếu cái bản đồ phản ánh tham vọng của họ. Trong đó có đường lưỡi bò chiếm hơn 80% Biển Đông và vùng lãnh thổ tranh chấp với Ấn Độ.   Ngay lập tức, các nước lên tiếng mạnh mẽ. Ấn Độ lập www.thanhnien.com.vn/pages/20121123/an-do-tra-dua-vu-ho-chieu-trung-quoc...">http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121123/an-do-tra-dua-vu-ho-chieu-tru..." target="_blank">tức trả đũa bằng hình thức như sau: “Theo tờ Hindustan Times vào hôm nay, 23.11, tòa đại sứ Ấn Độ ở Trung Quốc đã trả đũa bằng cách cấp cho các công dân Trung Quốc thị thực có in hình bản đồ của họ, trong đó mô tả hai www.thanhnien.com.vn/pages/20120710/bao-dong-nguy-co-chien-tranh-trung-a...">http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120710/bao-dong-nguy-co-chien-tranh-..." target="_blank">khu vực tranh chấp nói trên thuộc lãnh thổ Ấn Độ”. Còn Philippines thì “Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez cũng tuyên bố nước này sẽ không thừa nhận bất cứ công dân Trung Quốc nào sử dụng hộ chiếu có bản đồ “đường lưỡi bò”.   Còn ở ta, truyền thống xưa nay khi có việc lãnh thổ bị xâm lược bởi , Trung Cộng thì động tác duy nhất là Người phát ngôn kéo lại cái băng rè mà mỗi người dân Việt Nam đều đã nghe đến thuộc lòng “Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý…”. Cao hơn, căng thẳng hơn, nóng bỏng hơn thì “Giao thiệp” với Đại sứ quán Trung Cộng. Chấm hết.   Thậm chí lần này, người phát ngôn cũng im như thóc, chỉ đến khi Phóng viên hỏi về cái Hộ chiếu lạ của Trung Cộng, thì ông ta mới trả lời rằng là Việt Nam phản đối và gặp gỡ, trao công hàm. Ông ta coi như đây là một việc thường ngày, bình thường như ăn cơm xong phải uống nước vậy. Nếu như cái lão phóng viên nào đó không tọc mạch mà hỏi chuyện này, thì cả nước cũng cứ vậy mà cung kính cái hộ chiếu của anh Tàu lạ mà thôi?   Có thể là vị thế Việt Nam quá cao, nên chỉ cần ông Phát ngôn trả lời một phóng viên như vậy mà không thèm làm gì hơn thì bọn bành trướng bá quyền Trung Cộng đã vãi đái ra quần mà cuốn gói chăng? Cứ xem thực tế thì biết.  Và cái lưỡi của những con bò Đường lưỡi bò Bắc Kinh Hình dáng đường 9 khúc mà Bắc Kinh cố vẽ ra nhằm cướp Biển Đông được gọi là đường lưỡi bò. Có lẽ vì nó giống cái lưỡi con bò. Song thật ngẫu nhiên và ý nghĩa, vì lưỡi bò là cái lưỡi tham lam, thấy ngon là vơ vào, ăn được là ăn bất chấp chính nghĩa hay phi nghĩa, nếu ai đã từng chăn bò sẽ hiểu điều này. Và cũng thật đúng với việc nhà cầm quyền Bắc Kinh bất chấp lẽ phải chứng cứ và luật pháp để dùng sức mạnh phục vụ lòng tham vô đáy của mình bất chấp dư luận quốc tế hay sự thật lịch sử, pháp lý.   Điều đó cũng có thể hiểu được, dù sao thì họ cũng vì lợi ích của đất nước họ. Song có những cái lưỡi bò ngay trong nước ta, phục vụ lợi ích của bọn giặc mới là đáng nói và đáng phỉ nhổ. Khi những người dân xuống đường vì lòng yêu nước, những kẻ thông đồng với giặc đã gân cổ gào trên báo đảng rằng như vậy là phá hoại chính sách đối ngoại của đảng và nhà nước, là gây rối trật tự công cộng, là xuyên tạc tình hữu nghị Việt – Trung… ngoài ra còn bịa đặt rằng những người biểu tình nhận tiền của thế lực thù địch để phá hoại đất nước. Mục đích là để phụ họa và lấp liếm hành động của nhà cầm quyền Hà Nội đã làm đối với tấm lòng yêu nước của nhân dân.   Thậm chí, những người có học hàm, học vị hẳn hoi (hẳn hoi ở đây theo nghĩa là có chứng nhận, còn thực chất thế nào thì chỉ có họ và những người bán bằng mới biết) cố sức bêu riếu, đặt điều nói xấu, dạy dỗ nhân dân, ngăn cản lòng yêu nước của họ. Thực chất là nối giáo cho giặc, rước voi giày mả tổ. Điển hình cho những hành động này là tờ Hà Nội mới với các tác giả như http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2011/08/24/th%C6%B0-ng%E1%BB%8F..." target="_blank">Vũ Duy Thông, hoặc Đài http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/08/08/sp_khoncung/" target="_blank">phát thanh – Truyền hình Hà Nội…   Rồi ngay việc hôm nay, khi phát hiện Trung Quốc đã vẽ hình lưỡi bò trên hộ chiếu, nhằm khi công dân Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam và được đóng dấu vào đó, sẽ là bằng chứng rằng Việt Nam đã công nhận đường lưỡi bò của Trung Quốc. Ngoài ra, nó còn nhằm khắc sâu vào đầu mỗi người dân Trung Quốc ý đồ xâm lược và bành trướng lâu dài đối với đất nước ta. Với sự việc nghiêm trọng này, nhà nước Việt Nam sẽ làm gì ngoài một câu trả lời qua chuyện của người phát ngôn Bộ Ngoại giao? Hay tất cả cũng sẽ qua, chỉ vì “Về vấn đề Biển Đông http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/10/hoi-dam-cap-cao-viet-trung-tai-..." target="_blank">không phải là toàn cục trong quan hệ Việt – Trung” như Nguyễn Phú Trọng đã khẳng đinh với Hồ Cẩm Đào, mà vấn đề toàn cục là ở chỗ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/450093/Chu-tich-Quoc-hoi-Nguyen-Sinh-..." target="_blank">cùng tiến lên CNXH mới là quan trọng?   Một người dân khi nghe câu này, bỗng nhiên nổi khùng: Có thể, với hai cái đảng cộng sản của hai ông, thì tiến lên CNXH, CNCS hay cái gì đó các ông tưởng tượng ra mới là mục đích, mới là toàn cục. Còn với người dân Việt Nam chúng tao, thì nếu mất biển, mất đảo, thì chỉ còn toàn cục… cứt.   Lại phụ họa với luận điệu toàn cục với toàn hòn, một số báo chí lên tiếng theo nhiều kiểu khác nhau sau một thời gian dài cấm khẩu về chuyện biển đảo của đất nước. Trong đó không thiếu những “lưỡi bò” trên báo chí Việt Nam.   Tờ Tuần Việt Nam mới đây đăng bài viết www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/tuanvietnam.vietnamnet.vn/Bien-Dong-...">http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/tuanvietnam.vietnamnet.vn/Bie..." target="_blank">“Biển Đông: Chuẩn bị kỹ để chắc thắng” của Huỳnh Phan, phỏng vấn một người lạ hoắc tên là “nhà nghiên cứu Việt Long”. Chẳng biết cái “nhà nghiên cứu” này chui từ đâu ra, nghiên cứu được những gì, nhưng ông đưa lên mặt báo một mớ bùng nhùng rằng là pháp lý, lịch sử, rằng là “nếu cuốn sách “Toàn tập Thiên nam Thư chí lộ Đồ thư” của Đỗ Bá, chẳng hạn, là một cuốn sách tốt. Nếu là vua sai cụ viết thì giá trị pháp lý khác hẳn so với quan tỉnh”. Nhưng chính ông cũng không khẳng định cuốn sách đó ai sai ông Đỗ Bá viết ra? Hoặc “tuy đúng là đội Hoàng Sa, đội Trường Sa do Nhà nước lập ra, nhưng vẫn phải tìm những bằng chứng cụ thể hơn về phạm vi hoạt động của những đội này. Hoặc họ đã ra tới những hòn đảo đến tận Philippines chưa?”… Vậy mà nhà nghiên cứu này cũng không chỉ ra được ông đã nghiên cứu được đội đó đi đến đâu? Hay ông đã nghiên cứu được rằng Đội Hoàng Sa và đội Trường Sa thậm chí vẫn chưa đến khu vực Boxit Tây Nguyên nên chủ quyền Việt Nam ở nơi đó cũng cần xét lại?   Rốt cuộc, cả bài báo của cái gọi là “nhà nghiên cứu Việt Long” không có chút giá trị nghiên cứu nào, mà chỉ có một ý rất rõ là “có ai dám đảm bảo rằng sự chia rẽ đó sẽ không bị lợi dụng?” và  “chúng ta nên học cách ứng xử của Đài Loan với Trung Quốc. Họ không bao giờ công kích nhau cả, thậm chí còn hỗ trợ nhau vì lợi ích chung của dân tộc Trung Hoa”. Câu này nghe quen quen như câu  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/450093/Chu-tich-Quoc-hoi-Nguyen-Sinh-..." target="_blank">”Ta và Trung Quốc cần hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đoàn kết để hai dân tộc cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội”.   Đọc những dòng này, người ta nghĩ rằng ông ta có thể là một nhà nghiên cứu, nhưng là của Trung Cộng như Vương Hàn Lĩnh, kẻ đã ngạo mạn nói rằng “cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc”. Do vậy ông khuyên Việt Nam học tập Đài Loan, một vùng lãnh thổ mà đến nay nhà nước Việt Nam vẫn công nhận là của Trung Cộng. Và cũng có lẽ đến khi nào Việt Nam trở thành Đài Loan thứ 2 thuộc Trung Cộng, thì ông sẽ hài lòng.   Trang thông tin Thông tấn xã Việt Nam rất hài hước khi trích dẫn một sự quan ngại của một nhà ngoại giao giấu tên rằng: “sự kiện trên là hết sức nghiêm trọng vì nếu sau này Bắc Kinh thay đổi ý kiến, họ sẽ mất rất nhiều công sức để thu hồi hàng triệu hộ chiếu như vây”. Thì ra, vấn đề lãnh thổ bị chiếm đoạt công khai chưa đáng quan ngại bằng việc ông anh Trung Cộng phải mất công sức khi thu hồi nếu họ thay đổi ý kiến.   Xin thưa là đừng mơ kẻ cướp thay đổi ý kiến, nếu Việt Nam vẫn chỉ phản đối bằng một câu trả lời chiếu lệ của Người phát ngôn và những hành động trấn áp người yêu nước. Cũng do vậy, TTXVN đừng phải lo Trung Cộng mất nhiều công sức sau này. May chăng, họ chỉ sẽ mất nhiều công sức khi người dân Việt Nam cũng như các nước bị xâm lược cùng đứng lên mà thôi. Và lưỡi những con bò nội địa   Những tờ báo ca ngợi tướng Tàu đã gây tang thương cho dân tộc ta trên biên giới 1979, những bài báo lăng nhục, bịa đặt kết tội người yêu nước như Hà Nội mới, http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/08/08/sp_khoncung/" target="_blank">Đài Truyền hình Hà Nội… những lời lẽ của ông Việt Long nào đó, thực chất là cái lưỡi của những con bò.   Tinh thần dân tộc và yêu nước của người dân Việt Nam từ xa xưa luôn luôn mạnh mẽ. Song những cuộc chiến chỉ là sự bất đắc dĩ khi bị dồn đến bước đường cùng của sự sống còn của cả dân tộc thì bùng lên giành lấy cơ hội tồn tại. Nhưng những cuộc chiến bằng vũ lực, bằng quân đội, một cách rõ ràng, còn đỡ nguy hiểm hơn cuộc chiến tranh mềm mại bằng 16 chữ vàng và 4 tốt, bằng tình đồng chí anh em môi hở răng lạnh, bằng tinh thần quốc tế cộng sản… Rốt cuộc là lãnh thổ teo dần, sinh mệnh đất nước ngàn cân treo đầu sợi tóc.   Và ở đó, nguy hiểm nhất lại là lưỡi những con bò ngay trong đất nước Việt Nam.  Ngày 23/11/2012 J.B Nguyễn Hữu Vinh   nguồn: http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/11/24/luoibo_luoiconbo/" target="_blank">http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/11/24/luoibo_luoiconbo/  
......

Đất Sông Tranh 2 lại rung chấn

Rạng sáng ngày (19.11), khu vực thuỷ điện Sông Tranh 2 tiếp tục ghi nhận các đợt rung chấn và những tiếng nổ lốp bốp phát ra từ lòng đất.   Ngay sau trận động đất vào chiều 15.11 có cường độ 4,7 richter, lớn nhất kể từ khi thủy điện Sông Tranh 2 tích nước, Viện Vật lý địa cầu đã lắp đặt nốt 2 trạm quan trắc tại khu vực này, trước đó 3 trạm quan trắc cũng đã được lắp đặt xong. Khi Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cùng đoàn chuyên gia của Viện Vật lý địa cầu rời khỏi Bắc Trà My sau khi tham quan, thì “lòng đất” lại nổi cơn rung nhẹ với những tiếng nổ lốp bốp xảy ra rạng sáng ngày (19.11), khiến người dân Bắc Trà My lại một đêm không dám ngủ trong nhà. Ông Nguyễn Hữu Trung - Chủ tịch UBND xã Trà Tân cho hay: "Bà con nói ở ngoài nhà cho an toàn". Trong 5 trạm quan trắc đã được lắp đặt. Một trạm đặt ở xã Trà Đốc thì lại bị “mất” intenet, bốn trạm còn lại đang chờ... kết nối với Hà Nội nên động đất ở khu vực này đã không đo được. Các trạm quan trắc ở xa thì không đo được những trận động đất có cường độ nhỏ. Trận động đất vào chiều 15.11, chỉ mấy phút sau trạm quan trắc ở Thái Lan đã đo được cường độ là 4,7 độ richter, còn ở ta, phải đến một tiếng rưỡi đồng hồ sau, Viện Vật lý địa cầu mới có thông báo về trận động đất này. Dư luận không khỏi thắc mắc về hiệu quả hoạt động của ba trạm quan trắc giá tiền tỉ vừa được lắp đặt ở khu vực thủy điện này. Người dân Bắc Trà My lại phải tiếp tục chờ và lo vì động đất.
......

Nhật Ký Yêu Nước - Nước vẫn trẻ con

Ai sẽ đưa dân tộc Việt Nam đến tương lai tự do, thịnh vượng, tiến bộ, và tránh xa vực thẳm diệt vong ? Vào những lúc hiếm hoi mà người Việt Nam chịu đối diện với câu hỏi này, câu trả lời thường chỉ giản đơn là sự trốn tránh. Lối trốn tránh của chúng ta là NGỒI ĐỢI. Nhiều người đợi bộ máy quyền lực gỉ sét của Đảng Cộng sản tự thay đổi, để đùng một cái, biến thành một hệ thống độc đảng "Của Dân, Do Dân, Vì Dân". Nhiều người đợi Đảng rủ lòng thương, hoặc chán lợi quyền, mà về trời vui thú điền viên, trao trả quyền lực cho dân chúng. Nhiều người đợi Đảng tự tan, tự suy yếu đi vì những cuộc chiến bè cánh xoay quanh mâu thuẫn quyền lợi. Nhiều người còn chờ đợi một phép nhiệm màu trong cái Đảng đã trở thành nhơ nhớp, bẩn thỉu và phi nhân tính chẳng khác gì địa ngục: từ cái bãi rác tởm lợm ấy, một Gorbachev thánh thiện sẽ bỗng chốc trồi lên... Nhiều người đợi các biến cố từ nước ngoài. Nhiều người đợi lòng thương của người Âu Mỹ. Nhiều người đợi độc tài Trung Quốc sụp đổ. Nhiều người đợi hương hoa nhài Bắc Phi. Nhiều người đợi sự phẫn nộ của dân nghèo. Nhiều người mong đồng bào mình khổ cực hơn biết mấy! Nhiều người mừng húm khi ngửi mùi thịt khét của người mẹ tự thiêu, khi thấy máu của người cha đổ trong đồn Công an, khi nghe tiếng súng oán hờn của người nông dân bị cướp đoạt. Nhiều người tụng niệm và chờ đợi: "Có áp bức thì sẽ có đấu tranh...". Nhiều người ngồi đợi kì tích của đoàn biểu tình Bờ Hồ. Nhiều người ngồi đợi đổi thay từ những kiến nghị, kháng thư có kèm học hàm, học vị trong chữ kí. Nhiều người ngồi đợi động lực đấu tranh bùng lên từ những án tù oan sai bất tận. Nhiều người ngồi đợi một minh chủ tài đức vẹn toàn giáng thế, lãnh đạo cuộc đấu tranh... Và như thế, chúng ta ngồi đợi nhau. Ngồi đợi ngoại bang, ngồi đợi Trời thương xót. Đối với mỗi người Việt Nam, ngồi đợi quả là một cách yêu nước dễ dàng và thuận tiện. Ngồi đợi, chúng ta quẳng lên vai người khác tất cả những mạo hiểm, gian khổ và mòn mỏi mà đáng lẽ phải thuộc về bản thân. Ngồi đợi, chúng ta nhường hi sinh cho kẻ không quen biết, và nhận tự do miễn phí về mình. Nhưng NGỒI ĐỢI, suy cho cùng, chỉ là lối thoát cá nhân được vạch ra trong dự tính ngây thơ của người ích kỉ. Với nước Việt Nam, NGỒI ĐỢI chỉ vạch ra ngõ cụt. Nó không chỉ ra giải pháp, mà chỉ xây núi bế tắc cao thêm và vững chãi thêm. Khi ai cũng ngồi đợi, thì ai làm ? Khi tất cả chúng ta bất động, đất nước bất động. Bất động, nhưng không thể đứng yên. Rõ ràng, vận mệnh của nước Việt Nam không lệ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của những đứa con chẳng mấy khi quan tâm đến nó. Trong thời đại này, số phận của mỗi quốc gia đều rơi vào vòng xoáy của muôn nghìn lực tác động đan xen, y như những con thuyền nằm giữa dòng nước dữ sôi sục. Chẳng hạn, dù cái mái chèo có được dùng đến hay không, thì sau cùng, dòng chảy của thời đại mới đang mở ra cũng sẽ cuốn phăng mọi dân tộc ra khỏi bãi lầy lâu nay của những nền độc tài đã cũ nát. Nhưng dòng chảy chủ đạo này không phải con sóng duy nhất đang đập lên mạn thuyền của các dân tộc. Còn tồn tại muôn vàn lực đẩy khác, mà không phải cái nào cũng hứa hẹn điều tốt đẹp, đang quyết định nước Việt sẽ đi về đâu. Đó là dục vọng của những bè cánh tài phiệt và xã hội đen - điểm tựa và nội dung thực chất của chế độ mục rữa hiện tại - sẽ không ngừng tranh cướp lợi quyền. Đó là dục vọng xâm lăng của một ngoại bang mà ai cũng biết. Đó là bối cảnh địa chính trị, mà khi khủng hoảng xảy ra, sẽ hứa hẹn nhiều tiếng súng trong khu vực. Con thuyền Việt Nam đang bị bủa vây bởi chúng - những thác ghềnh dữ tợn tiềm ẩn đầy nguy cơ. Hơn bao giờ hết, người Việt Nam cần vững tay chèo. Nhưng chúng ta quẳng mái chèo, ngồi đợi nhau, và mặc kệ con thuyền con trôi vào chỗ chết. Đó chỉ là một phần của sự dại dột. Trong trường hợp đất nước tránh được mọi hiểm họa ấy nhờ một may mắn không tưởng, tương lai nào chờ đón một dân tộc chỉ biết ngồi đợi nhau? Có Độc Lập không, cho những ai phó mặc số phận của đất nước cho những chuyển biến bên ngoài? Có Tự Do không, cho những ai không chịu Tự Lập? Có Dân Chủ không, cho những ai đùn đẩy lên vai người khác Trách Nhiệm Công Dân của chính bản thân? Khi chúng ta vứt bỏ Trách Nhiệm Công Dân của mình, chúng ta cũng vứt Quyền Công Dân của mình vào tay kẻ ác. Ngồi đợi nhau, chúng ta sẽ chỉ được sống trong nền Dân Chủ Cuội. Ai cho anh làm chủ nhân đất nước, nếu anh mãi hành xử như thể đất nước này là của cuộc chiến Ba-Tư trong Đảng Cộng sản , của cải tổ chính trị ở Bắc Kinh, của kho thuốc súng trong lòng dân nghèo, của lòng thương đến từ nước Mỹ, của quân du kích các nước Ả-rập, của sấm trạng Trình và mấy lời tiên tri vu vơ...; chứ không phải ĐẤT NƯỚC CỦA CHÍNH MÌNH? Chúng ta sẽ mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của số phận lệ thuộc và tôi đòi nếu tiếp tục ôm khư khư thứ tư duy đổ nát của những thời đại đã đổ nát. Đằng đẵng 1000 năm, chúng ta mắc kẹt trong bóng đêm phong kiến tập quyền khi giao hết quyền định đoạt số phận quốc gia cho những "minh quân", "minh chủ". Tiếp đó, đất nước rơi vào ách độc tài toàn trị vì một niềm tin ngu xuẩn mù quáng: "Việc nước đã có Đảng và Nhà nước lo!". Ấy là chưa kể đến hệ lụy quen thuộc của những lần "ỷ Nhật kháng Pháp", dựa vào Quốc tế Cộng sản để "giành độc lập", rồi chém giết anh em bằng súng đạn của Mỹ, Nga, Tàu... Hiện trạng nô lệ, tụt hậu và ô nhục tới mức bi đát của những ngày này là bởi ai, nếu không phải bởi chính chúng ta - những kẻ chuyên ngồi chờ ngoại nhân, ngồi chờ "lãnh tụ"? Nếu người Việt không vùng thoát khỏi nhà tù tư duy, lịch sử sẽ lặp lại. Khi đám "dân thường" bỏ bê vận mệnh đất nước trong cuộc đổi thay quan trọng, những kẻ cơ hội sẽ bước lên sân khấu để cầm lái thay. Đó có thể là các phe cánh tài phiệt, tư bản đỏ dưới tầng tầng lớp lớp những vỏ bọc thân thiện, hấp dẫn và an toàn. Chúng có thể nấp sau nhiều loại mặt nạ đáng yêu: một số nhân sĩ khoa bảng, một đảng phái đối lập bị gián điệp kiểm soát từ trung ương, hay một nhóm quan chức cấp cao bỗng ngả theo chủ trương "cải tổ", "cấp tiến"... Tình báo Trung Quốc, như bấy lâu nay, dễ dàng thâm nhập mọi nơi và khuynh đảo mọi sự. Nhưng ngay cả trong trường hợp may mắn, nền độc tài mới cũng có thể là sản phẩm của một lãnh tụ đối lập đầy thiện chí trong ngày hôm nay. Nên nhớ quyền lực làm tha hóa con người. Trong một nước toàn những người NGỒI CHỜ "lãnh tụ" - những thần dân vốn vẫn viện đủ cớ để vứt bỏ Quyền và Trách Nhiệm Công Dân, khi được đặt quá nhiều niềm tin và được giao phó quá nhiều quyền, người lãnh đạo nào có thể không tha hóa? Nước Việt Nam sẽ lại như con ngựa đổi chủ. Người Việt sẽ bước từ ách nô lệ này tới ách nô lệ khác kín đáo hơn. Đó là một kết cục đã nhãn tiền. Bởi như lời cửa miệng của một người bạn tôi: "Người Việt Nam chưa xứng đáng được thụ hưởng tự do dân chủ". Hãy tự soi mình và nghĩ lại. Có thực là yêu nước, khi chúng ta không đùn đẩy những gian khổ, hi sinh và mòn mỏi trong cuộc tranh đấu vì đất nước cho tha nhân? Có thực là yêu Độc Lập, khi chúng ta hành xử như thể đất nước không phải của mình? Có xứng đáng được thụ hưởng thứ Tự Do của người trưởng thành không, khi chúng ta vẫn chỉ biết ỷ lại người ngoài, hoặc NGỒI CHỜ "minh chủ" đến dắt đi, như đứa con nít há mồm chờ mẹ cho bú? Không thể có thành công, nếu lấy "Há Miệng Chờ Sung" làm tinh thần của cuộc đấu tranh giành Tự Do và Độc Lập. Đã đến lúc chúng ta nghĩ khác đi, và làm khác đi. Đã đến lúc hành xử như những Công Dân trưởng thành. Hôm nay, mỗi chúng ta phải tâm niệm rằng mình có Quyền sống như một con người Tự Do, trong một quốc gia Độc Lập và Hòa Bình, nơi mọi người đều có cơ hội ngang nhau để vươn lên, nơi mọi sáng kiến và giấc mơ đều có cơ hội nảy mầm và đơm trái. Và mỗi chúng ta phải đảm đương Trách Nhiệm của mình với một Tổ quốc như vậy. Chính chúng ta sẽ mở miệng và đứng thẳng lưng. Chính chúng ta sẽ học cách tôn trọng quyền tự do của nhau, học cách sống chung trong dân chủ và hòa bình. Chính chúng ta sẽ hình thành và gia nhập các Câu lạc bộ và hội đoàn tự nguyện của Công Dân, để giải phóng sức mạnh vô địch của nhân dân tự muôn đời: Đoàn Kết. Hôm nay, cái thời kì "Nước 4000 năm vẫn trẻ con" đã đến lúc khép lại! 16/11/2012 ADMIN J - Nhật Ký Yêu Nước www.facebook.com/photo.php?fbid=557045757655509&set=a.211836168843138.67...">https://www.facebook.com/photo.php?fbid=557045757655509&set=a.2118361688..." target="_blank">www.facebook.com/photo.php?fbid=557045757655509&set=a.211836168843138.67...">https://www.facebook.com/photo.php?fbid=557045757655509&set=a.2118361688...
......

Trung Quốc: Bước Đại nhảy vọt và Nạn đói 1958-1961

Ba mươi sáu triệu người chết vì nạn đói hay bị bạo hành tại Trung Quốc trong suốt 4 năm (1958-1961) là kết quả của một cuộc điều tra tỉ mỉ, do nhà báo Dương Kế Thằng – phó tổng biên tập tờ Trung Hoa thường niên thực hiện. Nhân dịp tác phẩm của ông mang tựa đề «Những tấm bia. Nạn đói lớn tại Trung Quốc, 1958-1961 », do nhà xuất bản Seuil, tại Pháp phát hành, tuần san Le Nouvel Observateur đã có buổi nói chuyện với tác giả để hiểu rõ mức độ tàn khốc của thảm kịch đó. Theo tác giả bài viết, vào thời điểm Mao Trạch Đông lên cầm quyền vào năm 1949, đâu đâu cũng thấy những lời tuyên truyền tốt đẹp, đến mức mà tác giả cũng như bao thế hệ thanh niên lúc ấy đều tin rằng : Mao Chủ tịch là một vị thần ; chủ nghĩa cộng sản là thiên đường và phần còn lại của thế giới chỉ là địa ngục. Người ta tin vào huyền thoại đến nỗi mà ông xem cái chết của cha mình chỉ là một nỗi bất hạnh cá nhân. Không ai nghĩ rằng đó là hậu quả của chủ trương tập thể hóa và « Bước Đại nhảy vọt lên phía trước ». Thậm chí, cả bộ máy chính quyền lúc bấy giờ cũng tin tưởng một cách mù quáng vào chính huyền thoại do Mao đề ra, đến mức phải mất một thời gian rất lâu sau để mà đánh giá hết tai biến đó. Tác giả cho biết, sau này khi đã trở thành nhà báo, ông mới có điều kiện tiếp xúc với các nguồn tài liệu quý và sự kiện Thiên An Môn 1989 xảy ra đã làm sáng tỏ những mối nghi ngờ của ông về Bước Đại nhảy vọt, vốn đã hình thành từ thời Cách Mạnh Văn Hóa về những năm tháng đầy ghê rợn của thảm kịch đó. Theo ông, lẽ ra người ta có tránh được thảm kịch, bởi vì nó xảy ra không phải là vì do chiến tranh, cũng không phải do thảm họa thiên nhiên, nhưng mà là do cả một hệ thống đã dựng lên bằng mọi giá. Đảng Cộng sản đã hy sinh nông dân Đối với tác giả, vấn đề là không phải do Mao Trạch Đông có chủ ý bỏ đói người dân, mà là Đảng Cộng sản đã quyết định hy sinh nông dân để thực hiện giấc mơ cường quốc của mình. Việc trưng thu đất đai nông dân để đưa vào hợp tác xã năm 1958 đã đẩy nông dân vào trạng thái nông nô. Bếp ăn gia đình bị thay thế bằng những khu « nhà ăn tập thể », phó mặc sự sống còn của mỗi cá thể vào tay của vị quan chức nhỏ. Chính phủ trưng thu hầu như toàn bộ thu hoạch để tài trợ cho các dự án lớn, chỉ để lại cho nông dân một phần rất nhỏ, không đáng kể. Trong khi các kho thóc của chính phủ đầy ắp, các khu nhà ăn tập thể lại bị đóng cửa do thiếu nguồn dự trữ. Hậu quả là nạn đói lớn đã xảy ra. Chính hệ thống chuyên chế đó đã cho phép Mao Trạch Đông triển khai điều không tưởng phi lý và đã để những chính sách sai lầm đó kéo dài bất chấp các tín hiệu báo động. Đói khát làm cho con người mất nhân tính Theo nghiên cứu của tác giả, nạn đói trong 4 năm đó thật là kinh khủng. Người ta đói đến mức đến cái vỏ cây cũng ăn, thậm chí là ăn cả xác người. Nhiều gia đình đào bới cả tử thi hay còn có chuyện giết cả người để ăn thịt. Con người trở nên điên loạn và mất cả nhân tính. Chỉ cần ai đó phản đối việc trưng thu, hay đi mót hạt bắp xanh rơi vãi hay trốn đi ăn xin, là họ bị trừng phạt cho đến chết bằng những chiêu hành hạ rất tàn nhẫn. Trả lời Le Nouvel Observateur, tác giả cho rằng sự tàn bạo đó đã có từ thời cách mạng. Chính sự thù hận đã làm cho con người lúc bấy giờ trở nên điên cuồng, nhất vào những năm 1960. Người ta mất hết cả lý trí đạo đức. Tôn giáo, quan hệ gia đình và tình làng nghĩa xóm, tất cả đã bị phá hủy. Nhiều vị quan chức thương dân thì bị chụp mũ là « hữu khuynh » và bị đánh đến chết. Chính vì thế nhiều vị quan chức hiểu rằng tốt hơn hết họ cứ ra sức làm khổ nông dân. Mao Trạch Đông là ý chí tối cao Vấn đề ở chỗ là ngay trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp, không ai dám lên tiếng phản đối. Đối với họ, đây không phải là thiếu dũng cảm mà là một sự thấm nhuần tư tưởng chuyên chế do Mao đề ra. Một số người còn tin tưởng Mao một cách mù quáng thậm chí khi đẩy đến chỗ phải tự tử mà vẫn hô to khẩu hiệu : « Chủ tịch Mao muôn năm ! » Tác giả cho rằng yếu điểm của Mao Trạch Đông là ở chỗ ông rất ghét ý tưởng phát triển từng bước. Cần phải đốt cháy giai đoạn để tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản, tăng gấp đôi mức sản xuất thép. Nhà nhà sản xuất, rừng cây bị đốn trụi để cung cấp cho các lò rèn gia đình, mà kết quả cuối cùng đạt được là con số không. Những ai cản trở chủ trương Bước Đại nhảy vọt, như trường hợp ông Đặng Tiểu Bình, hay ông Lưu Thiếu Kỳ, sau này đều bị Mao trả thù trong giai đoạn Cách mạng Văn hóa. Một cuộc cách mạng mà theo tác giả đánh giá là đã đạt đến đỉnh cao của cơn điên loạn. Trung Quốc – Mỹ : Hai cường quốc cần phải tiến hành cải cách Trong tương lai, Mỹ và Trung Quốc vẫn sẽ là hai cường quốc hàng đầu của thế giới. Chỉ có điều là vị trí đầu bảng Hoa Kỳ sẽ buộc phải nhường lại cho Trung Quốc. Thế nhưng, theo nhận định của tờ The Guardian – tại Luân Đôn, thì cả hai quốc gia cần phải tiến hành nhiều cuộc cải cách quan trọng để giải quyết các bất ổn trong nước. Đặc biệt là Trung Quốc, hiện đang gặp nhiều vấn đề về hệ thống nghiêm trọng, có nguy cơ cùng một lúc làm tăng trưởng chậm và làm chế độ lung lay. Chủ đề này đã được tuần san Courrier International trích dịch lại qua hàng tựa « Hai cường quốc cần phải cải cách ». Trong cùng một tuần, cả thế giới đều biết đến ai là nhà lãnh đạo tương lai của hai cường quốc. Tuy nhiên, sự trùng hợp đó làm nổi dậy hai câu hỏi : Trong hai cường quốc, nước nào đang đi lên thành cường quốc ? Và tại quốc gia nào, khủng hoảng kinh tế và chính trị là sâu sắc nhất ? Điều nghịch lý xảy ra là câu trả lời cho cả hai câu hỏi đó, chính là Trung Quốc. Đầu tiên hết, tác giả phân tích đến những sự khác biệt giữa hai cường quốc. Theo tác giả, khác biệt thứ nhất nằm ở chỗ sự minh bạch. Từ 5năm qua, Hoa Kỳ đã rơi vào trạng thái bất ổn. Ai cũng hiểu rõ là những bất ổn đó đến từ đâu. Trong suốt quá trình vận động tranh cử tổng thống, mọi chủ đề đều được phơi bày trước công chúng, từ vấn đề nợ công, Quốc hội rơi vào bế tắc, luật thuế dài dằng dặc, cơ sở hạ tầng và trường học bị bỏ rơi, sự lệ thuộc nhiều vào nguồn dầu cung ứng từ nước ngoài và chi phối tài chính trong đời sống chính trị… Ngược lại, tại Trung Quốc, không ai đánh giá được hết tầm mức quan trọng của các vấn đề, bởi một lẽ đơn giản là truyền thông trong nước không thể nào đề cập đến. Trong một nền tảng chính trị độc đảng, những ván cờ được che dấu dưới những bài diễn văn tư tưởng đã được mã hóa. Bên cạnh đó, xã hội và kinh tế Trung Quốc phát triển quá nhanh chóng, có thể nói là nhanh nhất trong lịch sử nhân loại. Trong vòng có 30 năm, dân số Trung Quốc đã tăng thêm 480 triệu người. Hơn 50% dân số sống tại các khu đô thị. Với tình trạng đó, xã hội Trung Quốc đang sắp tiến đến gần hiện tượng gọi là « vòng xoáy Lewis » (một thuật ngữ do nhà kinh tế học Arthur Lewis đưa ra), nghĩa là xã hội sẽ ngày càng khan hiếm lượng nhân công giá rẻ đến từ các vùng nông thôn. Vì vậy, Trung Quốc nên quan tâm nhiều đến nhu cầu nội địa hơn, vì họ không thể nào trông chờ vĩnh viễn vào nhu cầu tiêu thụ tại Mỹ. Điểm khác biệt thứ hai thể hiện rõ trong cách thức bầu chọn lãnh đạo. Phương thức « Đại cử tri » tại Mỹ không có gì là bí mật. Còn tại Trung Quốc, lãnh đạo Đảng và Nhà nước được bầu chọn theo mô hình hình tháp, từ thấp đến cao. Ví dụ, trong kỳ Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 18 này, 2270 đại biểu bầu chọn ra 370 thành viên Ủy ban Trung ương Đảng (UBTW). Sau đó, các thành viên trong UBTW lại bầu chọn tiếp 20 vị thành viên trong Bộ chính trị. Cuối cùng, những người này sẽ chọn ra 9 vị (hay như bây giờ là 7 vị) trong Ban thường vụ, những người lãnh đạo chóp bu của Đảng và Nhà nước. Có điều khác với bầu cử Mỹ, người dân chỉ biết tên người chiến thắng vào giờ chót. Còn tại Trung Quốc, các vị trí chủ chốt vốn đã được phân bổ từ trước thông qua các cuộc mặc cả và các thao túng sau hậu trường. Cải cách triệt để Theo tác giả bài viết, mối quan hệ giữa đồng tiền và chính trị là một rào cản có hệ thống, không chỉ ở tại Mỹ mà ngay cả tại Trung Quốc và ngay cả ở những nước Đông Âu. Tuy nhiên, theo nhìn nhận của tác giả, tại Trung Quốc hơn bất kỳ chỗ nào khác, một cuộc khủng hoảng có thể làm chất xúc tác cho một sự cải cách hoặc là một cuộc cách mạng. Lấy ví dụ nếu là cải cách, theo các nhà phân tích, Trung Quốc sẽ không khai thông cho một nền dân chủ theo kiểu phương Tây. Vì quyền lợi quốc gia, Đảng Cộng sản chỉ cần cải cách theo hướng mở rộng Nhà nước Pháp quyền hơn, minh bạch, an sinh xã hội tốt hơn và phát triển bền vững và tôn trọng môi trường hơn. Cuối cùng, tác giả cho rằng vì quyền lợi chung của cả thế giới, cả hai cường quốc hàng đầu nên tiến hành các cải cách. Các vụ xung đột xảy ra gần đây trong khu vực châu Á – Tháo Bình Dương, giữa Trung Quốc và các đồng minh của Mỹ mang dáng dấp khiêu chiến đáng ngại đến mức thành sự đối đầu giữa các siêu cường. Tác giả nhắc nhở rằng một quốc gia không hài lòng, mất khả năng giải quyết các vấn đề trong nước thường có xu hướng trút sự giận dữ lên đầu các quốc gia khác. Quyền lợi hỗ tương cần đạt đến Cũng liên quan đến chủ đề này, tờ Foreign Policy tại Washington cũng có phân tích, được Courrier International trích dẫn lại qua bài viết đề tựa « Quyền lợi chung cần phải đạt ». Theo tờ báo, với mô hình lãnh đạo « đồng thuận », trong mười năm qua, Trung Quốc đã không thể nào tiến hành các cải cách chính trị quan trọng, dù rằng nhiều lần thủ tướng Ôn Gia Bảo đã lên tiếng kêu gọi tính khẩn cấp của việc cải cách hệ thống. Đồng quan điểm với tờ The Guardian, tờ báo Mỹ cũng cho rằng chỉ có khi nào có một cuộc khủng hoảng xảy ra thì lúc đó, nhà lãnh đạo mới mới có đủ bản lĩnh để có thể tiến hành một cuộc cải cách cần thiết nhưng cũng đòi hỏi nhiều hy sinh.  Về mặt kinh tế, tác giả cho rằng Bắc Kinh cần phải xem xét lại từ gốc đến ngọn. Nhận thức được mối nguy hiểm, nên chính quyền do hai ông Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo điều hành buộc phải chấp nhận một chiến lược mới là phát triển nguồn tiêu thụ nội địa, bớt lệ thuộc vào khu vực xuất khẩu và ưu tiên phát triển ngành công nghiệp chế biến cải tiến hơn và rẻ hơn. Thế nhưng, theo tác giả, trở ngại lớn nhất chính là lối quản lý theo kiểu cũ đã quá ăn sâu vào trong máu của các nhà lãnh đạo từ phường xã cho đến tỉnh thành. Với kiểu thưởng phạt tùy theo mức đóng góp cho sự tăng trưởng của kinh tế nước nhà,  các vị quan chức đã dùng hết quyền hành để phát triển cơ sở hạ tầng và tung ra nhiều dự án tốn kém. Trong ngắn hạn, thì những biện pháp đó cũng thúc đẩy phần nào mức tăng GDP, tạo việc làm cho người dân. Song song với sự phát triển đó, những hành vi trục lợi tại Trung Quốc cũng đã tăng theo. Tuy nhiên, kết quả lại không như mong đợi : tăng trưởng bừa bãi, cơ sở hạ tầng và công nghiệp chế biến phát triển vô tội vạ, tham nhũng ở mọi tầng xã hội, thiệt hại về môi trường vô hạn, bất bình đẳng gia tăng và căng thẳng xã hội ngày càng cao. Một trở ngại khác cũng không kém phần quan trọng đó là số lượng doanh nghiệp nhà nước khổng lồ, vốn được hưởng rất nhiều ưu đãi từ chính phủ. Các doanh nghiệp đó được thiết kế như là những công cụ do Đảng điều hành và duy trì một mối liên hệ chặt chẽ với gia đình của các vị lãnh đạo cao cấp. Mối liên hệ tiền bạc và quyền lực chính trị đó là một trong những rào cản chính trong chiến lược kinh tế. Đó là chưa nói đến bộ máy công quyền nặng nề như thế thì khó có thể mà áp dụng được cải cách để chống tham nhũng. Tuy nhiên, tờ báo cũng nhận định rằng một cải cách cơ cấu tại Trung Quốc cũng sẽ phục vụ một phần lớn cho lợi ích của Hoa Kỳ - nghĩa là những hình thức cạnh tranh bất bình đẳng giữa Trung Quốc với các đối tác thương mại sẽ được thu hẹp lại. Chính quyền Bắc Kinh sẽ phải mở rộng hơn nữa nền kinh tế, và gia tăng hơn nữa vai trò của nền thị trường và tạo nhiều chỗ hơn nữa cho các nhà đầu tư của Mỹ trong nhiều lãnh vực (như dịch vụ tài chính). Giúp đỡ Trung Quốc chọn sự tăng trưởng bền vững và ít tàn phá môi trường hơn có thể sẽ giúp cho chính phủ Bắc Kinh tự tin hơn, cởi mở hơn với bên ngoài và tỏ ra có trách nhiệm hơn trong cách ứng xử trên sân khấu quốc tế. Đổi lại, Trung Quốc đầu tư nhiều vào nền kinh tế Mỹ và nắm giữ nhiều công trái của Hoa Kỳ. Do đó, Trung Quốc cũng sẽ có nhiều lợi nếu như Washington làm chủ được nợ công của mình. Cuối cùng, tờ báo cho rằng quan hệ Mỹ - Trung sẽ bớt căng thẳng hơn nếu như hai quốc gia này cùng nghiêm túc tiến hành các cải cách. http://www.viet.rfi.fr/diem-bao/20121118-trung-quoc-buoc-dai-nhay-vot-va-nan-doi-1958-1961
......

Những ngọn nến của tình liên đới

Nghệ An: Hợp cùng toàn thể Giáo Hội trong ngày kính trọng thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam cũng như cầu nguyện cho những người trong giáo họ đã qua đời. Đặc biệt, cầu nguyện cách riêng cho các Thanh Niên Công Giáo và Tin Lành đã bị nhà cầm quyền bắt bớ và giam cầm một cách mờ ám hơn 1 năm qua nay lại sắp bị đem ra xét xử. Hôm qua, vào lúc 20h ngày 17/11/2012, hơn 200 người đã qui tụ tại tư gia ông Chu Văn Nghiêm, thuộc giáo họ Diệu Ốc, xứ Đức Lân, Gp Vinh (xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An) để cùng nhau cầu nguyện, chia sẻ và hiệp thông cùng những đau khổ mà những người con ưu tú của quê hương đang phải gánh chịu cảnh tù đày chỉ vì yêu đất nước, yêu giáo hội.  Hòa quyện trong ánh nến lung linh là những lời nguyện tha thiết được những người dân chân lấm tay bùn cất lên làm tan biến cảnh tĩnh mịch vốn có của những vùng quê xứ Nghệ mỗi lúc tiết thời chớm lạnh. Họ cầu nguyện cho những người lãnh đạo quốc gia biết hướng đến lợi ích chung của đất nước, biết tôn trọng công lý và sự thật…và cầu nguyện cho những người đang dấn thân để làm chứng cho công lý, sự thật biết noi gương các Thánh Tử Đạo để dù có phải trả giá bằng mạng sống thì cũng không thỏa hiệp với ma quỉ.    Cũng xin được nhắc lại, đây là quê hương của sinh viên, người tù lương tâm Chu Mạnh Sơn, người đã bị nhà cầm quyền kết án 30 tháng tù giam và 1 năm quản chế tại phiên tòa bỏ túi ngày 26/9 vừa qua.    21h30 buổi cầu nguyện kết thúc trong bài hát Kinh Hòa Bình vang vọng đến mọi tâm can của mọi người. Mặc dầu trong số những Thanh Niên sắp bị đưa ra xét xử, không có ai thuộc giáo họ Diệu Ốc, nhưng mọi người đã trao đổi, chia sẻ và hiểu rất rõ về những Thanh Niên này. Vì thế, họ cùng hẹn nhau sẽ có mặt để động viên, sẻ chia và hiệp thông với các Thanh Niên này trong ngày ra tòa sắp tới. Một số hình anh:       Anthony Thiên Ân TNCG http://thanhnienconggiao.blogspot.de/2012/11/nhung-ngon-nen-cua-tinh-lien-oi.html
......

Đảng Cải Cách hay Đảng Luồn Lách?

Đại hội khóa 18 của Đảng Cộng sản Trung Hoa đã kết thúc với một khẩu hiệu và nhiều câu hỏi. Khẩu hiệu đó là "Cải Cách". Câu hỏi là cải cách những gì, vì sao và tiến hành như thế nào?   Từ nhiều tháng qua, dư luận truyền thông Anh ngữ và Hoa ngữ đã tràn ngập tin tức, tiết lộ hay đồn đoán, bình luận về yêu cầu chuyển hướng và cải cách của Cộng đảng Trung Hoa. Xuyên qua các nguồn tin chính thức lẫn bán chính thức - hoặc lời đồn - người ta được biết về các cuộc thảo luận hoặc tranh luận trong nội bộ đảng trước khi thế hệ thứ năm lên lãnh đạo với vai trò trọng yếu của nhân vật Tập Cận Bình, là Tổng bí thư đảng, Chủ tịch Quân ủy Trung ương rồi Chủ tịch Nhà nước từ Tháng Ba năm tới sau kỳ họp tượng trưng của Quốc hội.   Về Tập Cận Bình, người ta chỉ được biết những gì lãnh đạo Trung Quốc cho biết:   Rằng đấy là lãnh tụ có viễn kiến, biết nhìn xa, đã lập thành tích quản lý tại Chiết Giang và các tỉnh thành trú phú ở miền Đông, từng tu nghiệp tại Hoa Kỳ sau khi là nạn nhân của cuộc Đại Văn Cách trong tuổi niên thiếu. Họ Tập còn có quan hệ tốt đẹp với các tướng lãnh xưa là thuộc cấp của người cha, Tập Trung Huân, cũng một nạn nhân Đại Văn Cách và là người yểm trợ Đặng Tiểu Bình trong nỗ lực đổi mới.   Trước khi đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, Tập Cận Bình còn gặp chuyên gia kinh tế Hồ Đức Bình, một trí thức chủ trương cải cách, con trai của cựu Tổng bí thư Hồ Điệu Bang, một lãnh tụ đổi mới bị mất chức vào năm 1987 và tang lễ năm 1989 đã châm ngòi cho vụ thảm sát Thiên An Môn....   Cũng về Tập Cận Bình, hai ngày trước Đại hội, người ta được biết qua một bài viết của thống tấn xã Reuters về những nguồn tin xuất phát từ những người gần gũi với lãnh đạo, rằng Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình đã kín đáo vận động cho những biện pháp dân chủ mang ý nghĩa lịch sử.   Dân chủ ở chỗ họ đề nghị một tiến trình tuyển chọn mới. Số đảng viên được bình bầu vào Ban chấp hành Trung ương được đông hơn 8% số ghế của các Trung ương Ủy viên. Hơn 200 Trung ương Ủy viên này sẽ bầu vào Bộ Chính trị một số đảng viên cao cấp nhiều hơn số ghế 25 Ủy viên Bộ Chính trị. Nền dân chủ tập trung có vẻ đặc quánh hơn nhưng vẫn là dân chủ!   Cũng có chi tiết đáng chú ý được phóng ra ngoài là chính Tập Cận Bình soạn thảo báo cáo chính trị dầy 64 trang để Hồ Cẩm Đào đọc trong hơn một tiếng trong khi một đại biểu khóc sụt sùi đọc thơ ca tụng Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trước Đại hội. Nghĩa là Hồ-Tập hoàn toàn nhất trí, là những lãnh tụ gương mẫu và không có mâu thuẫn giữa hai lớp lãnh đạo vừa chuyển giao quyền lực.   Chúng ta được chuẩn bị để kết luận rằng dù thuộc phe Thái tử đảng – con cháu đại công thần – Tập Cận Bình là người quả cảm và có tinh thần cải cách. Hầu hết các nhà bình luận Tây phương đều suy diễn ngọt ngào như vậy. Vì được cho uống nước đường.   Nghệ thuật gây ấn tượng là một biệt tài của Cộng đảng Trung Hoa. Văn hoá Trung Hoa có chữ "thuật quỷ biển", nghệ thuật quỷ quái biển lận để gây ra nhận thức sai lầm về ta, về địch....   Nghệ thuật cai trị thì khác.   Xin hãy nhìn vào hồ sơ kinh tế. Sau chuyến "Nam tuần" năm 1992 của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc tiếp tục cải cách kinh tế và có hai chục năm tăng trưởng ngoạn mục. Mười năm sau cùng, từ 2002 dưới thời Hồ Cẩm Đào, kinh tế và lợi tức đã tăng gấp năm và Trung Quốc đứng hạng nhì thế giới về sản lượng, chỉ thua có Hoa Kỳ.   Nhưng chu kỳ tốt đẹp ấy nay đã hết.   Kinh tế đạt mức tăng trưởng thấp hơn, bất công gia tăng cao hơn, dị biệt về lợi tức và nhận thức giữa các địa phương đã là hố sâu mở rộng. Và dân chúng bất mãn biểu tình đông hơn, bạo động hơn, về đủ loại vấn đề, như tham nhũng, cường hào ác bá, môi sinh bị hủy hoại, dự án bị rút ruột và gây tai nạn tập thể, v.v.... Trong cả năm qua, chính Hồ Cẩm Đào lẫn Ôn Gia Bảo đều nói đến nạn bất công, bất ổn, thiếu phối hợp và không bền vững. Khai mạc Đại hội, họ Hồ còn cảnh báo rằng nạn tham nhũng có thể làm đảng và nhà nước sụp đổ, một sự nhất trí khác của cặp Hồ-Tập.   Khi ấy, ta mới nhớ đến Bạc Hy Lai, Bí thư Trùng Khánh và Ủy viên Bộ Chính trị đánglẽ sẽ được bầu vào Thường vụ trong Đại hội này. Tám tháng trước, họ Bạc bất ngờ bị cách chức, rồi đuổi khỏi đảng để sẽ bị truy tố về những tội danh chưa ai biết là gì. Nhân Đại hội, người ta mới được giải thêm rằng Bộ trưởng Hoả xa Lưu Chí Quần và Bạc Hy Lai đã bị kỷ luật do nỗ lực chống tham nhũng của đảng nhằm thanh lọc hàng ngũ. À ra thế!   Nhưng sau cùng thì mọi việc vẫn như cũ.     ***     Khi mở ra công cuộc cải cách 30 năm về trước, Đặng Tiểu Bình vẽ ra cái kiềng ba chân: 1) thực tiễn áp dụng chủ nghĩa tư bản trong kinh tế để tìm mức tăng trưởng cao hơn; 2) tỏ vẻ nhún nhường về đối ngoại theo phương châm "thao quang dưỡng hối", tỏa đức sáng và che giấu ý đồ đen tối để không gây lo sợ và tìm hậu thuẫn quốc tế; 3) củng cố quyền lực đảng ở bên trên nhờ phép đồng thuận của tập thể để không cá nhân hay thế lực nào có thể phân hóa thượng tầng lãnh đạo.   Nhằm bảo đảm là đường lối đó được các thế hệ sau thi hành, họ Đặng còn chuẩn bị người sẽ kế vị, từ Giang Trạch Dân từ năm 1992 đến Hồ Cẩm Đào từ năm 2002. Quả nhiên là sau đó Trung Quốc đã đổi thay. Thế giới cũng vậy.   Nhưng ngày nay, sự thể không còn như những gì họ Đặng đã tính và cả ba chân kiềng đều ngả.   Thứ nhất, Trung Quốc đã đạt mức tăng trưởng cao, nhưng cũng đào sâu khác biệt giữa các thành phần dân chúng và các địa phương. Khi kinh tế thế giới bị tổng suy trầm năm 2008, tập thể lãnh đạo xoay không kịp và trở lại bài bản cũ là đẩy mạnh tăng trưởng nhờ các tỉnh duyên hải thay vì nâng cao mức tiêu thụ nội địa để giảm bớt sự lệ thuộc vào thị trường bên ngoài.   Nguyên tắc lãnh đạo tập thể qua sự đồng thuận còn dẫn đến sự hình thành của nhiều phe nhóm cùng thoả hiệp với nhau để nắm quyền mà không dám lấy những quyết định chuyển hướng quá gay gắt khi gặp biến cố kinh tế tài chánh bất ngờ của một thế giới toàn cầu hóa đã tràn ngập thông tin loại tức thì, lập tức.   Mô hình phát triển kinh tế theo chiến lược Đông Á của Đặng Tiểu Bình đã đi hết sự vận hành tốt đẹp và trở thành vấn đề hơn là giải pháp.   Thứ hai, vì kinh tế bị lệ thuộc vào bên ngoài - hiện tượng chưa từng có trong lịch sử xứ này - việc bảo vệ nguồn cung cấp và thị trường xuất cảng khiến Trung Quốc thiên về chánh sách đối ngoại năng động và thực tế hung hăng hơn. Với những phương tiện mới, Quân đội trở thành tự tin đến độ chủ quan và chủ chiến, và qua Quân ủy Trung ương còn tác động vào lãnh đạo.   Tôn chỉ "thao quang dưỡng hối" của Đặng hay khẩu hiệu "quật khởi hòa bình" của Hồ Cẩm Đào đã bị vượt qua.   Cái chân kiềng thứ ba còn bị lung lay nặng hơn.    Không thể chuyển hướng về chính trị vì phải bảo vệ quyền lực đảng, tầng lớp lãnh đạo đã loay hoay với nhiều mô thức khác nhau mà chẳng tìm ra đồng thuận. Kết quả là từng phe phái tranh giành quyền bính với nhiều chủ trương cải cách khác biệt. Bên dưới, mỗi phe nhóm lại có tay chân thân tộc và vây cánh riêng trong hệ thống kinh tế nhà nước, tại các địa phương và thậm chí trong quân đội.   Họ khoanh vùng hoạt động, chia chác quyền lợi và mặc tình tham nhũng. Muốn diệt trừ tham nhũng là mặc nhiên đụng vào quyền lợi phe phái, tức là gây ra vấn đề chính trị. Vụ Bạc Hy Lai chỉ là một trường hợp. Tay đầu sỏ của hệ thống tham ô Trùng Khánh cũng là một lãnh tụ của phe "Tân tả", có tinh thần bảo thủ của Mao Trạch Đông, lại liên kết với một số phần tử cực hữu trong quân đội.   Ở dưới cùng, người dân không thể chịu đựng nổi tình trạng đó và đã có phản ứng gay gắt.   Ý thức được mức độ trầm trọng của vấn đề, cả Hồ Cẩm Đào lẫn Ôn Gia Bảo đều nói đến nhu cầu chuyển hướng về kinh tế và cải cách về chính trị. Nhưng họ không thực hiện nổi và đành trao cho thế hệ nối tiếp một di sản có nhiều rủi ro.   Thế hệ nối tiếp là Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường cùng năm Ủy viên mới của Thường vụ Bộ Chính trị cũng chẳng thể làm gì hơn là xiết chặt quyền lực và tìm cách luồn lách khỏi giông bão. Các ủy viên này đều có tinh thần bảo thủ và không dám trắc nghiệm giải pháp cải cách chính trị cho dân chủ hơn, như Ôn Gia Bảo kêu gọi hay Lý Nguyên Triều hoặc Uông Dương đề nghị. Ôn Gia Bảo thì sắp ra về; hai Uỷ viên Bộ Chính trị là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lý Nguyên Triều và Bí thư Quảng Đông Uơng Dương thì không được vào Thường vụ. Nhờ còn trẻ, năm nay mới 57, may lắm thì Uông Dương còn hy vọng được vào Thường vụ sau Đại hội 19, vào năm 2017, nếu Quảng Đông không có loạn.   Hãy nên thông cảm cho tầng lớp lãnh đạo mới. Trong hoàn cảnh bấp bênh và ngột ngạt hiện nay, bất cứ biện pháp cải cách chính trị nào, dù có nhỏ nhoi và chỉ ở dưới cơ sở, cũng có thể bung ra thành chấn động lớn. Vì vậy, cả Đại hội 18 hay "Thập bát đại" mới thấy hoa mắt đinh tai về khẩu hiệu cải cách.    Huê dạng và hoành tráng như lớp men tráng ngoài. http://dainamaxtribune.blogspot.de/2012/11/ang-cai-cach-hay-ang-luon-lach.html
......

Uỷ ban Công lý và Hòa bình chỉ trích tình trạng nhân quyền ở Việt Nam

Sau bản « Nhận định về một số tình hình Việt Nam hiện nay » công bố tháng 5/2012, Uỷ ban Công lý và Hòa bình, thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, vào đầu tháng này vừa công bố « Phúc trình về tình hình công lý, hòa bình và nhân quyền trong xã hội Việt Nam ». Phúc trình đề ngày 01/11/2012, gởi Hội đồng Giám mục Việt Nam, đưa ra những chỉ trích nặng nề hơn, đặc biệt là về tình trạng nhân quyền. Vấn đề đầu tiên mà bản phúc trình nêu lên là những vụ xử án bất công, điển hình mới nhất là vụ xử phúc thẩm ba thanh niên Công Giáo tại Vinh Chu Mạnh Sơn, Trần Hữu Đức và Đậu Văn Dương ngày 29/09/2012 và vụ xử các blogger Điếu Cày, Anhbasaigon và Tạ Phong Tần ngày 24/09, tại Sài Gòn, với các bản án mà Uỷ ban Công lý và Hòa bình xem là « vô lý và đầy bất công ». Bản phúc trình ghi nhận : « Để che đậy nó, người ta đã cho mở phiên tòa xét xử công khai, nhưng lại không cho dân chúng tự do tham dự và ngay cả thân nhân của các bị cáo cũng bị ngăn chặn khi đến tòa án, thậm chí có những người còn bị tạm giữ hay bị khủng bố tinh thần ». Trong bản phúc trình, Uỷ ban Công lý và Hòa bình cũng chỉ trích việc chính quyền chụp mũ những người tham gia các vụ khiếu kiện đông người về đất đai là « bị kích động của thế lực thù địch ». Bản phúc trình còn lên án án tình trạng dùng bạo lực để giải quyết các tranh chấp dân sự, cụ thể là việc sử dụng « côn đồ » để đàn áp các cá nhân lẫn các đám đông, từ đám tang riêng lẻ, đến các vụ khiếu kiện tập thể hay biểu tình. Uỷ ban Công lý và Hòa bình đặc biệt lo ngại trước một thực tế là, trong khi chủ quyền đất nước đang bị đe dọa, phản ứng của chính quyền Việt Nam lại « quá yếu ớt, tạo cớ cho các lực lượng thù nghịch lấn tới ». Bản phúc trình viết : « Khó hiểu hơn nữa là việc chính quyền đã mạnh tay đàn áp các tổ chức và các cá nhân yêu nước phản đối hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc. Thái độ lập lờ, thiếu nhất quán của các nhà lãnh đạo trong vấn đề phân định lãnh thổ vùng biên giới và bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông đang gây bất bình trong dư luận. » Bản phúc trình của Uỷ ban Công lý và Hòa bình được công bố chỉ vài ngày sau khi chính quyền kết án tù nặng nề hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, tác giả của những bài hát cổ vũ lòng yêu nước, phản đối những hành động xâm lấn của Trung Quốc ở Biển Đông. Đến đầu tháng 11, chính quyền Việt Nam thông báo khởi tố một sinh viên yêu nước, cô Nguyễn Phương Uyên, với tội danh « tuyên truyền chống Nhà nước ». Đức cha Nguyễn Thái Hợp, chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hòa bình, cũng là một trong những người đầu tiên ký kiến nghị gởi chủ tịch nước Trương Tấn Sang, yêu cầu trả tự do cho Phương Uyên. Trong bản phúc trình, Uỷ ban Công lý và Hòa bình còn chỉ trích những vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam ở Việt Nam, cụ thể qua việc kiểm soát, cấm đoán, phá hoại các trang web, trang blog, nhất là việc bắt bớ, kết án các blogger. Về tự do tôn giáo, bản phúc trình ghi nhận : « Mặc dù hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định và thông tư đã quy định về tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, nhưng việc thực hiện các quy định trên tại nhiều địa phương lại rất tùy tiện. Chính vì vậy, ở một số nơi, việc cử hành các lễ nghi tôn giáo và thiết lập các điểm sinh hoạt tôn giáo ngoài cơ sở thờ tự rất nhiêu khê và tùy thuộc nhiều vào cảm tính của giới chức chính quyền địa phương. » Điểm bao trùm lên xã hội Việt Nam hiện nay, theo Uỷ ban Công lý và hòa bình, đó là phẩm giá con người bị chà đạp và xúc phạm nặng nề. Bản phúc trình viết : « Trong xã hội Việt Nam hôm nay, con người dễ bị tha hóa trở thành công cụ, hay bị coi là công cụ để phục vụ các mục tiêu chính trị, kinh tế hơn là một nhân vị, chủ thể của các thực tại xã hội ». Lý do, theo Uỷ ban Công lý và Hòa bình, đó là nền giáo dục Việt Nam hiện nay « không những lạc hậu, mà còn lạc hướng, chạy theo hình thức và phô trương thành tích nhằm tạo ra những con người chỉ có khả năng phục vụ cho những mục tiêu chính trị chứ không nhằm đào tạo con người có nhân cách, phát triển tâm và trí toàn diện. »
......

Văn hóa từ chức: bánh vẽ mới của thời đại

Trên những con đường đầy bụi và khói người ta đã thấy quá nhiều những biểu ngữ, panno mà cụm từ sau cùng là đạo đức, vinh quang, muôn năm và vĩ đại. Về nhà, ở diễn đàn quốc hội phóng ra từ màn hình nhỏ, trên các trang báo lề đảng, ngay cả ở lề Dân lẫn thông tấn quốc tế xôn xao một cụm từ mới: văn hóa từ chức. Từ bao năm rồi, đạo đức, văn hóa, nhân cách đã bị đem ra làm chiếc áo khoác lên người của những tên ăn cướp. Đức trị được tính toán có kế hoạch để trở thành những bánh vẽ, xâm nhập vào những nơi mà đáng lẽ ra phải là chỗ của Pháp trị. Văn hóa từ chức là một loại bánh vẽ mới nhất trong ao tù đảng là đạo đức là văn minh này.   Ở những nước "bình thường", từ chức đa phần là hành động sau cùng để giữ thể diện cá nhân. Không từ chức thì cũng bị đuổi nếu làm việc trong một công ty, hoặc bị truất phế nếu là một quan chức nhà nước hay một chính trị gia đang nắm một chức vị trong đảng. Đôi khi nó là kết quả của một cuộc thương lượng, mặc cả để giữ thể diện 2 bên - phía đuổi người và người sẽ bị đuổi. Có lúc nó xuất phát từ mục tiêu duy trì sự ổn định của thị trường hay niềm tin chính trị. Nhiều lúc hành động từ chức là cú vớt vát sau cùng để không có vết tì bị đuổi trên CV - Resume - sơ yếu lý lịch. Tóm lại, hành động rời chức vụ, bỏ ghế không tùy thuộc vào thiện chí của kẻ ra đi. Nó là kết quả đương nhiên của một trật tự trong quan hệ quyền hạn mang thuần tính pháp trị, theo những quy luật, quy ước hoạt động. Biến nó thành cái gọi là văn hóa (từ chức) là một việc làm khiên cưỡng.    Tại Việt Nam, sau bao nhiêu năm bị cai trị bởi một đảng độc tài, sự sợ hãi đã làm tê liệt mọi ý chí phản kháng của đại khối bị trị. Đa phần dân chúng trong nỗi sợ hãi (dẫn đến tuyệt vọng) đã phải bám vào - hoặc là thiện chí tự đổi thay của kẻ cai trị hay là từ những tranh giành quyền lực để mà tập đoàn cai trị tự đổi thay (!?). Thái độ của nhiều người trong cuộc đấu đá Ba-Tư vừa qua là tấm gương phản chiếu rõ nhất cho điều thứ 2 và sự tiếp đón tương đối nồng nhiệt cho khái niệm "Văn hóa từ chức" là một minh chứng mới cho điều thứ 1.    Nếu Quốc Hội là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền hạn bãi nhiệm Thủ tướng theo như Điều 84 Hiến pháp thì thay vì áp dụng một nền pháp trị công minh, ông ĐBQH Dương Trung Quốc đã mang "đức trị" qua cái gọi là "văn hóa từ chức" vào nghị trường. Và nhiều người vỗ tay, phụ họa "văn hóa từ chức phải khởi đầu từ Thủ tướng".    Không! Từ chức, bãi nhiệm không bắt đầu từ cá nhân nào cả. Nó phải bắt đầu từ việc thi hành nghiêm chỉnh vai trò và trách nhiệm của mỗi bộ phận được quy định trong Hiến pháp quốc gia. Nó phải được áp dụng nghiêm khắc lên mọi thành viên - từ những đại biểu quốc hội cho đến Thủ tướng, Chủ tịch nước...   Và không phải ai cũng không biết điều này. Biết nhưng lờ đi vì bất lực trước một xã hội rừng rú và quyền hạn nằm hết trong tay của một tập đoàn tha hóa, sâu bọ mà chính những kẻ đứng đầu tập đoàn cũng phải thú nhận - thú nhận về những điều mà xã hội đã quá tỏ tường.   Người dân có thể hoan nghênh thiện chí của ông Dương Trung Quốc đã đại diện nhân dân đặt vấn đề với ông Thủ tướng. Nhưng trong trách nhiệm của Quốc Hội là cơ quan làm luật, sửa đổi luật và giám sát tối cao việc tuân theo luật, thiện chí của ông Quốc thật ra đã làm xấu thêm tình trạng quăng hiến pháp và luật pháp vào thùng rác khi áp dụng cho thành phần lãnh đạo.    Và không phải ông Dương Trung Quốc không biết điều này. Nhưng ông lờ đi.    Vì đất nước VN ngày hôm nay không phải chỉ có người dân sợ hãi. Chính những kẻ cầm quyền cũng đang sợ hãi nhau. Họ sợ hãi lẫn nhau không còn giống như thời các đảng viên cộng sản Sô Viết sợ trùm Stalin quá tàn bạo. Họ sợ hãi lẫn nhau vì biết chính mình cũng đang là kẻ phạm tội ít nhiều như những tên đồng chí bên cạnh, như tên đồng chí đứng trên kia đang quanh co đạo đức và bề dày cách mạng 51 năm. Nếu đem đặt để con cá kia nằm trên thớt thì tự họ cũng đang cho mình lên thớt.   Để cai trị lâu dài chế độ độc tài phải tiếp tục duy trì sự sợ hãi bao trùm. Bao trùm tất cả. Từ ngoài dân cho đến trong đảng. Nhưng chưa đủ. Tinh xảo hơn, thâm độc hơn, họ vừa duy trì nỗi sợ hãi vừa tạo ra những loại hy vọng mơ hồ kiểm soát được. Hy vọng có một ông đại biểu sẽ thay đổi guồng máy. Hy vọng ông này đánh ông kia chế độ sẽ sụp. Hy vọng các thành viên của một đảng (đã còng lên đầu dân tộc một thể chế phong kiến cai trị đời đời bằng cái còng số 4 hiến pháp) có cái gọi là văn hóa từ chức. Hy vọng tên tham nhũng gạo cội nhất, tham quyền cố vị nhất mở đầu cho vở kịch không bao giờ kéo màn mang tên văn hóa từ chức.   Đảng cộng sản VN luôn luôn muốn những người dân đang sợ hãi mang theo trong mình những niềm hy vọng kiểu này.    Gieo rắc sợ hãi VÀ ban bố niềm hy-vọng-kiểm-soát-được là vũ khí sắc bén nhất, hiệu quả nhất của chế độ độc tài.   http://danlambaovn.blogspot.de/2012/11/van-hoa-tu-chuc-banh-ve-moi-cua-thoi-ai.html#.UKUvxGfcxcU    
......

Khát vọng vẫn chỉ là khát vọng

Thế là sáu mươi bảy năm đã trôi qua. Kể từ lúc ông Hồ chí Minh đứng trên lễ đài tại quảng trường Ba đình mở đầu bản tuyên ngôn độc lập bằng những câu trích từ tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và tuyên ngôn nhân quyền của nước Pháp. Người dân Việt nam háo hức lắng nghe như muốn nuốt lấy từng lời vàng ngọc.   Những tưởng sau một ngàn năm bị giặc tàu cai trị và một trăm năm dưới sự đô hộ của Pháp, người dân Việt có thể được hưởng mọi quyền tạo hóa đã ban giống như dân Âu- Mỹ với nền độc lập của quốc gia mình. Nhưng rồi “Lời nói gió bay”, dân Việt đợi dài cổ hết năm này đến năm khác, gần trôi qua một thế kỷ mà khát vọng cũng chỉ là khát vọng. Tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn vời vợi bên phía trời tây. Những lời ông Hồ trịnh trọng đưa ra ngày mồng hai tháng chín năm một chín bốn lăm,sau đó phần nào được thể hiện trong hiến pháp năm 1946 cũng chỉ là thứ bánh vẽ.   Thôi! Cứ bó qua những bất cập trong thời gian chiến tranh. Nhưng bao nhiêu người đổ xương máu ra cũng mong thực hiện được khát vọng ấy. Nếu như không vì tự do dân chủ và độc lập dân tộc thì người ta xông vào nơi khói lửa bom đạn để làm gì? Lẽ ra sau năm 1975. Chúng ta phải thực hiện ngay khát vọng ấy, để tạo điều kiện tốt cho đời sống xã hội phát triển tiến bộ mạnh mẽ tất cả mọi mặt. Nhưng sự việc lại diễn ra trái ngược hẳn. Cuộc sống con người bị ngột ngạt trong cảnh cấm chợ ngăn sông. Đi tới đâu cũng gặp các trạm kiểm soát liên ngành. Hàng hóa người dân sản xuất ra chết đứng tại chỗ. Mọi thứ thượng vàng hạ cám đưa ra khỏi nhà là bị bắt, còn bị các cơ quan chức năng gán cho cái tội buôn lậu và tịch thu luôn. Có người đã phải đi tù vì mua hai bánh xe bò lốp hoặc vài bì phân đạm. Một thời gian dài chúng ta phải sống nghiệt ngã như thế, đến mức thành thói quen cam chịu mà quên luôn khát vọng làm người. Ở miền nam, nhiều người không chịu đựng được sự hà khắc của chế độ đã liều lĩnh vượt biển, băng rừng đi tìm cuộc sống tự do ở đất nước khác. Nỗi đau li biệt mất mát vẫn còn tê tái cho đất nước tới tận bây giờ…   Câu hỏi được đặt ra là : Tại sao lại như vậy? Có người lập luận rằng tại vì dân trí nước ta đang thấp nên chưa có nhu cầu tự do dân chủ. Đây là sự ngụy biện liều lĩnh và trơ tráo nhất. Thử hỏi cách đây hai trăm năm dân trí Mỹ có cao không? Và năm 1945 dân trí nước ta có cao không? Mà người ta vẫn hiểu được thế nào là quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc… Có như vậy ông Hồ chí Minh mới đem vấn đề này ra mở đầu bản tuyên ngôn độc lập để lấy lòng người dân chứ. Và tất nhiên người dân đã hết lòng tin tưởng ùng hộ ông. Nhưng rồi ông nói một đàng, làm một nẻo. Thế là cái quyền tạo hóa ban cho mà không ai có thể xâm phạm được của con người đã bị ông và bè đảng tước đoạt hết. Ai cũng phải chấp hành đường lối chủ trương của các ông đề ra.  Cho dù những chủ trương đường lối đó không ít sai lầm và chứa đựng vô vàn tội ác.   Tự do-dân chủ-nhân quyền không có gì là khó hiểu cả. Nó là nhu cầu thiết yếu đôi khi còn cao hơn cơm ăn nước uống của đời sống con người. Được tự do tư tưởng, được sáng tạo độc lập, được bày tỏ quan điểm, được yêu, được ghét theo ý mình, được bình đẳng trước pháp luật chứ có gì xa xôi kỳ bí đâu. Vậy mà sáu mươi bảy năm qua,dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam, những nhu cầu đơn giản, dễ hiểu ấy vẫn xa vời vợi, luôn là mục tiêu trên các khẩu hiệu để người dân ra sức phấn đấu đạt tới. Tước đoạt của người dân rồi bảo dân phấn đấu thì có lạ không? Đây là chiêu thức gì vậy?  Đưa cỏ đến trước mồm bò nhưng không cho ăn, nhử nó đi và phải kéo theo cái cày nặng nề sau đít. Trắng trợn và đểu cáng đến thế là cùng.   Nếu không nhận ra chiêu thức đểu cáng này thì người dân nước Việt còn lầm than, tăm tối dài dài… Khát vọng vẫn chỉ là khát vọng http://www.radiochantroimoi.com/spip.php?article11057  
......

Thông báo về phiên toà “bỏ túi” các Thanh Niên Công Giáo

Để dọn đường cho phiên toà “bỏ túi” xử các Thanh Niên Công Giáo (TNCG) trong thời gian sắp đến, Bộ Công An Việt Nam đã lần lượt cho đăng trên báo Công An TP Hồ Chí Minh ở các số báo các ngày 8, 10, 13 tháng 10 năm 2012. Với bản chất “tạo bằng chứng giả và xảo trá” của nghành công an Việt Nam, cả 3 bài báo đã qui chụp, kết tội các TNCG yêu nước với tội danh theo điều 79 của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam. Trong những ngày qua, qua sự tìm hiểu của chúng tôi, thân nhân của các TNCG yêu nước cho biết, hồ sơ của các anh Phêrô Trần Đức Hoà, Nguyễn Xuân Anh, Paul Trần Minh Nhật, Nguyễn Văn Oai, Paulus Lê Sơn, Hồ Văn Oanh, Nguyễn Đình Cương, Thái Văn Dung đã được chuyển về toà án Vinh tỉnh Nghệ An. Những hồ sơ còn lại, đến hôm nay, vẫn chưa biết đang ở đâu. Ngoài ra, chúng tôi cũng được gia đình của các TNCG yêu nước cho biết là người thân yêu của họ vẫn còn đang bị giam giữ tại Hà Nội. Vào ngày 5/11/2012, luật sư Hà Huy Sơn đã từ Hà Nội vào Vinh để xúc tiến thủ tục xin biện hộ cho các thân chủ của mình. Tuy nhiên, việc nộp đơn xin biện hộ đã không thực hiện được vì người có trách nhiệm cấp đơn đã đi vắng? Theo chúng tôi được biết luật sư Hà Huy Sơn chỉ có thể thăm hỏi các gia đình thân chủ của ông và về lại Hà Nội sau đó. Mới đây, vào ngày 12/11/2012, luật sư Trần Thu Nam cũng đã vào Vinh để tiếp xúc với các gia đình và nghe trình bày các nguyện vọng của họ về việc người thân của họ sắp bị đem ra xử án. Qua tiếp xúc với các gia đình của các TNCG yêu nước, chúng tôi được biết họ rất hoang mang và lo lắng vì không biết tình hình người thân đang bị giam cầm kể từ sau khi bị CA, an ninh Việt Nam bắt cóc, nhốt giam. Thêm vào đó, đến bây giờ, cũng chưa biết được ngày giờ và nơi xử án “bỏ túi” sẽ diễn ra ở đâu, Hà Nội, Sàigòn hay Vinh? Chúng tôi kính gởi bản tin này để thông báo đến toàn thể đồng bào về phiên xử “bỏ túi” sắp đến của nhà nước Việt Nam đối với các TNCG yêu nước. Chúng tôi kêu gọi mọi người chú ý, quan tâm đến vụ án sắp xảy ra. Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật thông tin liên quan đến vụ án xét xử “bỏ túi” các TNCG yêu nước trong những ngày sắp đến. Trân trọng kính chào! BBT Thanh Niên Công Giáo http://thanhnienconggiao.blogspot.com/2012/11/thong-bao-ve-phien-toa-bo-tui-cac-thanh.html
......

Mỹ tài trợ 124.000 đôla cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam hôm 13/11 trao gần 124.000 đôla Mỹ (hơn 2 tỷ đồng) cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam để thực hiện 12 dự án nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Các dự án này liên quan đến các lĩnh vực như xây dựng năng lực cho các cán bộ quốc hội, vận động chính sách, dân chủ cơ sở và quản lý nhà nước hiệu quả, tính minh bạch và giải trình cho khu vực phát triển địa phương, tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp xã hội, và lĩnh vực truyền thông số đang nổi lên. Trong khuôn khổ Chương trình Tài trợ Dự án Nhỏ năm tài khoá 2012, Liên minh các Tổ chức Phi Chính phủ Việt Nam được tài trợ gần 18.000 đôla cho dự án “Xây dựng khả năng vận động chính sách cho Liên minh các Tổ chức Phi Chính phủ Việt Nam”, và Trung tâm Phát triển Cộng đồng Ánh Dương (Hậu Giang) nhận 20.000 đôla cho dự án “Tiếng nói của tôi - Quyền của tôi”. Bà Huỳnh Hoàng Tố Trinh, một thành viên của Trung tâm Phát triển Cộng đồng Ánh Dương, cho rằng dự án nhận được tài trợ vì nó phù hợp với các tiêu chí của đại sứ quán Hoa Kỳ đặt ra liên quan tới quyền con người. Bà Trinh cho VOA Việt Ngữ biết rằng dự án “Tiếng nói của tôi – Quyền của tôi” sẽ giúp nâng cao năng lực cho phụ nữ nông thôn, giúp cho họ tiếp cận các điều luật như luật hôn nhân gia đình hay về vấn đề bình đẳng giới và phòng chống bạo hành gia đình. Bà Trinh nói: "Trong quá trình tôi làm việc ở cộng đồng, tôi gặp được rất nhiều trường hợp mấy chị bị bạo hành, bị chồng đánh, nhưng các chị lại giấu, không nói cho người ngoài biết. Các chị sợ là nếu nói cho người ngoài thì sẽ xấu chàng, hổ thiếp. Người ta sẽ đánh giá mấy chị có người chồng như vậy nên các chị giấu. Tôi nghĩ dự án này lập nên để giúp các chị tự tin chia sẻ các vấn đề của các chị trước mọi người cũng như các chị em phụ nữ trong các nhóm của chị đó để mọi người giúp chị đó tự giải quyết, có nghĩa là các thành viên trong cộng đồng tự giải quyết các vấn đề của họ. Trung tâm Ánh Dương chỉ là tác nhân ở bên ngoài, giúp các chị, định hướng các chị giải quyết." Bốn dự án khác của các cựu thành viên chương trình học bổng của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được tài trợ từ nguồn kinh phí Chương trình Tài trợ Thường niên dành cho Cựu thành viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ. Ngoài ra, một dự án khác của Cựu thành viên Bộ Ngoại giao với tổng kinh phí 25.000 đôla được tài trợ từ một chương trình cạnh tranh toàn cầu của Vụ các vấn đề Văn hoá & Giáo dục, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mang tên Quỹ Kết nối Sáng kiến Cựu thành viên 2012. VOA 13.11.2012
......

Bài học yêu nước qua tấm gương Ngô Đình Diệm

Trong buổi thuyết trình với Sinh viên cao học khoa Quản trị kinh doanh của trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội, một sinh viên đặt câu hỏi „tại sao nước Đức đã phát triển một cách nhanh chóng và trở thành nước giầu nhất Âu châu mặc dù đất nước họ bị tàn phá nặng nề sau thế chiến thứ hai?“. Người viết đã trả lời rằng, „trong những thập niên gần đây những quốc gia phát triển nổi bật là Nhật, Đức, Hàn quốc, Do Thái và Đài Loan. Đặc tính rõ rệt chung của 5 Dân tộc này là lòng yêu nước và tự hào Dân tộc. Một thí dụ nhỏ là khi sản xuất một cái muỗng (thìa) mang tên nước họ, vì tính tự hào Dân tộc họ cố sức sản xuất cái muỗng (thìa) với chất lượng cao nhất để khi xuất cảng ra nước ngoài người tiêu dùng nể nang Dân tộc họ. Do đó sản phẩm của họ được mua nhiều và đất nước họ được phát triển“. Trong hai bài „Thời nào Dân Việt sướng nhất?“ người viết đã so sánh mức lương người dân trong  các thời đệ nhất, đệ nhị Cộng hoà với mức lương người dân Việt vào năm 2006 là năm có thể nói là sung túc nhất của thời kỳ XHCN trước khi xảy ra những cuộc khủng hoảng liên tục từ năm 2008. Kết quả cuộc so sánh là người dân trong thời đệ nhất Cộng hoà có mức lương cao nhất mặc dù tài chánh hỗ trợ từ nước ngoài vào nước ta thời đấy thấp nhất.   Tại sao thời đệ nhất Cộng hoà người dân sống sướng hơn thời năy mặc dù chế độ đó đã chấm dứt trước đây 49 năm? Chẳng lẽ người dân Việt thời bấy, theo logic được trên đây, yêu nước hơn các thời kỳ về sau? Việc chứng minh lòng yêu nước của người dân Việt thời bấy giờ rất khó khăn, chúng ta cùng lật lại những trang sử để cùng xem xét lòng yêu nước của lãnh tụ thời đó đại diện qua Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông.   Trong bài nhận xét ngắn này, chúng ta cùng tìm hiểu thân thế của Tổng thống Diệm là nền tảng hun đúc con người và cũng là nền tảng cho mọi quyết định hành động của ông. Sau đó chúng ta cùng xem xét một số tình huống ông giải quyết dựa trên nển tảng quyền lợi đất nước hay quyền lợi bản thân?  Thân thế   Thân sinh của Tổng thống Ngô Đình Diệm là cụ Ngô Đình Khả, người đã sáng lập trường Quốc Học Huế là ngôi trường đầu tiên tại Việt Nam dậy theo chương trình Đông và Tây, và làm tới chức Thượng Thư Phụ Đạo Đại Thần thời Vua Thành Thái. Cụ Khả là bạn thân của các nhà cách mạng nổi danh thời đó như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Do mưu toan một cuộc cách mạng ôn hoà của Vua Thành Thái bị bại lộ, thực dân Pháp gán cho nhà Vua chứng bịnh điên, ép các quan trong triều đình ký sớ xin Vua thoái vị rồi đưa đi an trí ở Phi châu. Riêng chỉ có một mình cụ Ngô Đình Khả không ký, sau đó cụ  từ quan và bị thực dân Pháp cho tước mọi quyền lợi, bổng lộc. Gia đình cụ sống rất khó khăn, cảm phục khí phách của đồng liêu, cụ Tôn Thất Hân đã ngầm giúp cụ Khả mỗi tháng 10 đồng để chi dùng.[1]   Ngoài người cha ruột ông Diệm còn có một cha đỡ đầu đã đóng góp rất nhiều trong việc giáo dục tinh thần ông là Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Khi người Pháp tham lam muốn đào mả Vua Tự Đức để lấy của thì Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài là người duy nhất trong triều đình chống đối. Cho nên dân chúng miền Trung kính trọng khí tiết của hai cụ đã truyền tụng với nhau rằng: „Đày Vua không Khả, đào mả không Bài“   LM Trần Qúy Thiện đã mô tả nền giáo dục mà TT Diệm đã được hấp thụ như sau: „Ngoài việc hấp thụ những đức tính cao đẹp và lòng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, cậu Diệm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu Nho Giáo đã hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã đào tạo ông Diệm thành một con người đày lòng bác ái, vị tha và công chính.[2]“   Trước khi lìa đời, cụ Khả căn dặn ông Diệm rằng: „Diệm con có đủ đức tính cần thiết để trở thành người lãnh đạo tốt, con phải lãnh đạo.“ và cụ nói với các con: „Các con phải cùng với nó (ông Diệm) dành lại nền độc lập hoàn toàn, thì mới thực hiện được công cuộc cải tạo xã hội, xoá bỏ bất công được“. Tất cả các con cụ đã thề sẽ cùng với ông Diệm thực hiện bằng được ước nguyện của cụ[3].   Khi Vua Bảo Đại lên ngôi vào năm 1932, nhà Vua đã mời ông Ngô Đình Diệm lúc đó là Tuần vũ Phan Thiết làm Thượng Thư Bộ Lại (Thủ tướng). Trong chức vụ quan trọng này ông đề xướng hai điều với chính quyền bảo bộ Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Hòa ước Giáp Thân 1884 và hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận mọi vấn đề. Vì không được toàn quyền Pháp Pasquier chấp nhận, ông từ chức ngày 12 tháng 7 năm 1933[4].   Ông Diệm trở về sống tại nhà của thân sinh gần Huế và đi dậy học trường Thiên Hựu (Providence). Ông từ chối mọi sự mời mọc của Nhật, Việt Minh, Bảo Đại và không tham gia vào bất cứ chính quyền nào lập sau Đệ Nhị Thế Chiến. Có một lần ông bị Việt Minh bắt và giải đến Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh mời ông tham gia chính phủ nắm bộ nội vụ nhưng ông từ chối.   Năm 1951, ông Diệm qua Mỹ sống phần lớn trong các chủng viện Maryknall, Lakewood, Ossining và đi vòng quanh nước Mỹ để vận động độc lập cho Việt Nam. Tháng 5 năm 1953 ông sang Pháp, Bỉ. Tháng 6 năm 1954 ông nhận lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại trở về Việt Nam làm Thủ tướng.  Giáo hội ở trong quốc gia chứ không phải quốc gia ở trong giáo hội   Dưới thời Pháp các chủng viện Công giáo không chịu ảnh hưởng, kiểm soát bởi chính quyền. Vào năm 1958/59 Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thay đổi luật Chủng viện Công giáo, điều luật mới xếp hệ thống giáo dục Chủng viện Công giáo tương đương với các trường tư thục, dưới sự chi phối của Nha Tư thục. Hàng giáo phẩn Công giáo coi đây là một cưỡng chế tự do tôn giáo. Các Linh mục nhiều điạ phận đồng loạt đứng lên phản đối. Đức Khâm sứ Toà thánh trực tiếp can thiệp nhưng Tổng Thống Diệm nhất định không thay đổi. Một số Linh mục xin vào yết kiến, Tổng thống nghe xong rồi trả lời rất ngắn ngủi „Giáo hội ở trong quốc gia chứ không phải quốc gia ở trong giáo hội[5]“.  Chủ quyền quốc gia, quyền lợi Tổ quốc là trên hết   Năm 1961 cộng sản gia tăng khủng bố nên Tổng thống Diệm cần phải tăng cường quân đội. Hoa kỳ cũng cho tăng viện trợ quân sự và lợi dụng tình thế họ đòi hỏi Tổng Thống Diệm phải cải cách, „biến miền Nam Việt Nam thành một chế độ chính trị dân chủ theo kiểu Mỹ và để người Mỹ đồng cai trị miền Nam[6]“. Đòi hỏi này Tổng Thống Diệm không chấp thuận và đề nghị chính phủ Mỹ ký kết với Việt Nam một hiệp nghị phòng thủ song phương tương tự như Mỹ đã ký kết với Đại Hàn nhưng không được Tổng Thống Kennedy đáp ứng. Một số chính khách Mỹ, trong đó có Đại sứ Elbridge Durbrow với chủ chương cứng rắn là buộc Tổng Thống Diệm chấp nhận đề nghị cải cách của Mỹ. Nếu không thì lật đổ ông và kiếm người thay thế.   Có lần ông Nhu đặt câu hỏi với ông John Mecklin, một người Mỹ có chủ trương lật đổ TT Diệm, Giám đốc sở báo chí Hoa Kỳ kiêm phát ngôn viên toà Đại sứ Mỹ tại Sàigòn, tại sao chính phủ Mỹ không giúp Việt Nam như kiểu giúp Tito ở Nam Tư là viện trợ vật chất nhưng không xâm phạm vào hiện tình của xứ được giúp đỡ? Qua cuốn sách của ông John Meklin được xuất bản vào năm 1965 mang tựa đề „Mission in torment: an intimate account of the U.S. role in Vietnam“ (Sứ mệnh trong đau khổ: một mật báo về vai trò của Mỹ tại Việt Nam) đòi hỏi cải cách của Mỹ được nêu trên dẫn đến việc thành lập một chính quyền trong bóng tối thuộc Toà Đại sứ Mỹ, nhiệm vụ của chính quyền trong bóng tối này là xét những việc cần làm sau đó đốc thúc chính quyền miền Nam Việt thi hành.   Đại úy Lê Châu Lộc cho biết trước khi tiếp xúc với Đô đốc Felt vào năm 1962, Tổng thống Diệm rất đăm chiêu, đọc kỹ nhiều tài liệu và thảo luận với rất nhiều người. Trong phần người Mỹ muốn đưa quân vào tham chiến tại Việt Nam, Tổng thống Diệm đã nói với Đô đốc Felt với đại ý như sau: „Trong cuộc chiến đấu chống lại Cộng sản quốc tế chúng tôi cần sự giúp đỡ. Ngó quanh khắp thế giới không ai có thể giúp chúng tôi, ngoài người Mỹ. Nhưng cuộc chiến này tế nhị lắm! không chỉ thuần tuý giao tranh bằng súng đạn, mà có cả chiến tranh tâm lý, có công tác tuyên truyền. Chúng tôi vừa mới đuổi được người Pháp đi sau bao nhiêu năm chúng tôi chịu sự đô hộ của họ. Nếu bây giờ người Mỹ lại tới đây, hiện diện trên đất nước tôi bằng những đạo quân tác chiến. Người dân Nông thôn vốn chất phát, họ sẽ nghĩ rằng người Mỹ đến đây cũng chẳng khác chi người Pháp trước kia. Như thế tôi biết làm sao giải thích cho đồng bào tôi hiểu. Vì dân tôi rất nặng lòng với nền độc lập, không muốn chủ quyền bị xâm phạm… Tôi mong rằng người Mỹ hiểu cho tôi. Vì nếu tôi chấp nhận cho quân đội tác chiến Mỹ ở đây, tôi nói làm sao với dân tôi bây giờ?[7]“      Trong cuộc đi viếng vùng Tràm chim với Tổng Thống Diệm và một số Bộ trưởng, Đại sứ Nolting có dò ý yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hoà cho Mỹ sử dụng căn cứ Cam Ranh, tháng 3.1963 đại ttướng Harkins lại ngỏ ý qua ngã tướng Khánh, nhưng Tổng Thống Diệm đều từ chối[8]   Tháng 10 năm 1963 nhân dịp về thăm nhà tại Huế Tổng Thống Diệm đã hàn thuyên rất lâu với cụ Võ Như Nguyện, một cựu cộng sự viên thân tín mà Tổng Thống Diệm đã quen biết từ thuở ông thường đi lại với cụ Phan Bội Châu. Tổng thống cho cụ Nguyện biết mưu toan của Mỹ muốn làm cuộc đảo chánh và nguy hiểm đang chờ ông:  „Sẽ nguy hiểm lắm! Mỹ sẽ chơi sỏ tôi. Nếu tôi accepter (chấp nhận) những chuyện của hắn (thay đổi cho Mỹ đem quân vào Việt Nam) thì yên, nhưng còn chi uy tín của Tổng Thống, còn chi uy tín của nước Việt Nam.[9]“   Trong quyển „Bên giòng lịch sử“ Linh mục Cao Văn Luận đã viết lại cuộc gặp gỡ của ông với TT Diệm vào tháng 10,1963, sau cuộc viễn du Hoa kỳ ông đã đề nghị với TT Diệm:„-…Bây giờ, thưa cụ chúng ta cần người Mỹ, lệ thuộc nhiều vào người Mỹ, chịu ảnh hưởng nặng nề vì sự thương hay ghét của họ. Nếu không vì những lợi ích thiết thực mà phải cải tổ chính phủ, thì cũng nên vì để làm hài lòng người Mỹ mà cải tổ, để họ khỏi phá hoại. Cụ cũng đã hiểu câu châm ngôn “ai chi tiền thì kẻ đó cai trị”. Hiện nay người Mỹ đang chi tiền. Nếu cụ cứng rắn quá sẽ bị bẻ gẫy.Ông Diệm có dáng suy nghĩ, lo lắng, chú ý hơn lúc đầu một chút:- Nếu bây giờ chúng ta nhượng bộ Mỹ một bước thì Mỹ sẽ đòi thêm, biết nhượng bộ đến bao giờ cho vừa lòng họ? Tôi muốn võ trang cho Bảo An, Dân Vệ, Thanh niên Chiến Đấu, Mỹ không chịu. Tôi muốn tăng cường quân đội, Mỹ từ chối không chiụ cấp vũ khí và phương tiện, Mỹ chỉ mưốn đưa quân sang Việt Nam thôi[10]“.  Trân quý mạng sống người dân, mạng sống người lính   4 giờ chiều ngày 01.11.1963 đại sứ Lodge lần thứ hai trong ngày gọi điện thoại nói chuyện với Tổng Thống Diệm, đề nghị anh em Tổng thống Diệm rời dinh Gia Long đến tỵ nạn tại Toà đại sứ Mỹ và sau đó sẽ thu xếp để anh em ông xuất ngoại, nhưng Tổng thống Diệm đã từ chối. Đến 4:30 Tướng Đôn điện đàm cùng Tổng thống Diệm yêu cầu ông từ bỏ mọi quyền hành và xuất ngoại vì quân đội đã đứng lên đảo chánh và đã vây chặt thành Cộng Hoà cùng dinh Gia Long. Tổng thống Diệm nói như quát trong điện thoại „Quân mô? Vây ở mô?“. Thực sự lực lượng đảo chánh không đáng kể. Sư đoàn 5 còn ở ngoài đô thành. Phú Lâm, Khánh Hội, Chợ Lớn, Cầu Chữ Y, Thị Nghè còn bỏ trống. Các Tướng lãnh tưởng rằng, khi đọc hiệu triệu trên đài phát thanh thì các cánh quân của Quân đoàn III (trong đó có sư đoàn 5) đã vây chặt thành Cộng Hoà và dinh Gia Long. Trên thực tế quân đảo chính còn rời rạc, lẻ tẻ, chưa vượt qua được cầu Phan Thanh Giản và cầu Thị Nghè vì bị Lữ Đoàn Phòng vệ Phủ Tổng Thống chận lại.[11]   Đại Tá Duệ đã tường thuật rằng, ông được báo cáo từ nhiều nguồn cho biết phòng thủ ở Bộ Tổng tham mưu rất sơ sài chỉ có một số tân binh quân dịch ở Quang Trung lên tăng cường mà thôi nên ông đề nghị Tổng thống cho quân kéo lên đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu bắt các Tướng.Tổng thống không đồng ý và ra lệnh qua sĩ quan tùy viên rằng [12]: „Bảo Duệ đừng nóng nảy, Tổng Thống đang liên lạc với các tướng lãnh để cố tránh đổ máu“   Cụ Cao Xuân Vỹ lúc đó ở cạnh Tổng thống Diệm lên tiếng đồng ý với ý kiến của Đại tá Duệ  bị Tổng thống Diệm lên tiếng trách: „Tôi là Tổng tư lệnh quân đội. Tôi lại ra lệnh cho quân đội đánh quân đội à? Tôi còn mặt mũi thấy quân đội nữa không? Có chi thì ngồi giải quyết, chứ quân đội là để chống Cộng, sao lại đem đánh nhau?[13]“   Trong bài phỏng vấn với ông Minh Võ, cụ Cao Xuân Vỹ cho biết lúc đó không phải chỉ có Lữ đoàn Phòng vệ phủ Tổng thống xin lên tấn công mà còn đại đội Biệt kích thuộc Lực lượng Đặc biệt cũng báo cáo là phòng vệ các Tướng ở Bộ Tổng tham mưu rất yếu, xin được cùng 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Thổng thống đột kích bắt sống các Tướng đảo chánh. Nhưng Tổng thống Diệm từ chối.   Từ nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn, sáng ngày 02/11/1963 Tổng thống Diệm đã liên lạc với các Tướng đảo chánh và các Tướng đã cho xe „rước“ Tổng thống và ông cố vấn Nhu về Bộ Tổng tham mưu.   Theo tiết lộ của LM Jean, ông đã thuyết phục anh em Tổng thống Diệm không nên gặp các tướng đảo chánh, nhưng hai ông từ chối[14]: „Xin Tổng thống và ông Cố vấn nghĩ lại. Chính tôi sẽ dưa Tổng thống và ông Cố vấn đến một nơi an toàn nhất.“ Tổng Thống Diệm: „Cảm ơn Cha, tôi thấy không có gì nguy hiểm cả. Cá nhân tôi đã dâng trọn cho Chúa và Mẹ Maria nhưng tôi vẫn còn là nguyên thủ quốc gia. Tôi còn trách nhiệm với dân.“   Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị các tướng đảo chánh mà Tổng thống Johnson gọi là „bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (a goddam bunch of thugs) ra lệnh giết chết trên chiếc xe M113 sau khi họ đón hai ông từ nhà thờ Cha Tam.  Phản ứng sau cuộc sát hại TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu   Khi đuợc tin ông Diệm bị lật đổ, ông Hồ Chí Minh nói với ký giả cộng sản danh tiếng, Wilfrid Burchett: „Tôi không thể ngờ rằng tụi Mỹ ngu đến thế“".   Nguyễn Hữu Thọ nói với báo Nhân Dân: „Sự lật đổ Diệm là một món quà mà Trời ban cho chúng tôi.“   Khi tướng Võ Nguyên Giáp và những đồng chí còn sống sót của ông gặp Ông McNamara ở Hà Nội tháng 11 năm 1995, họ nói rằng: „Chính sách Kennedy ở Việt Nam sai lầm hết chỗ nói. Ngô Đình Diệm là một người có tinh thần quốc gia, không khi nào ông chịu để cho người Mỹ dành quyền điều khiển chiến tranh, và sự người Mỹ dành quyền đã đưa người Mỹ đến thất bại đắt giá. Cho nên, kết quả của cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm năm 1963 là sự kết thúc sớm [sự hiện diện] Hoa Kỳ ở Việt Nam, một điều đáng làm cho người ta ngạc nhiên“ [15]   Những người gần gũi Tổng thống giờ phút cuối kể lại cho họ hàng, bè bạn về cách hành xử của Tổng thống mặc dù cái chết bản thân mình đang cận kề, nhưng nhất quyết không để người khác phải đổ máu để bảo vệ bản thân ông. Nên dân chúng đã truyền nhau câu vè:  „Đày Vua không Khả, đào mả không Bài,hại dân không Diệm“  Bài học từ Tổng thống Ngô Đình Diệm   Lòng yêu nước, tinh thần Dân tộc là sợi dây chắc chắn nhất, bền bỉ nhất và chân thành nhất  liên kết mọi con dân của Dân tộc.Vì sự liên kết đó dựa trên một nền tảng duy nhất là quyền lợi Dân tộc, Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam đã được cha ông chúng ta gầy dựng và gìn giữ từ hơn 4000 năm qua  cho dù phải trải qua nhiều cuộc chiến với kẻ thù xâm lược. Dân tộcViệt Nam đáng tự hào là có được những trang sử oai hùng với Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi vv… Dân tộc và đất nước chỉ được phát triển thực sự, nếu những tinh hoa của Dân tộc được phát huy.      Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một tấm gương sáng cho sự thanh liêm, lòng yêu nước, tính tự cường, sự bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước mà mọi con dân nước Việt cần phải nuôi dưỡng và phát huy. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, gìai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Giai đoạn mà chính người Việt lại đàn áp, bắt bớ, đánh đập, giam tù đồng bào của mình, bởi vì họ thổ lộ lòng yêu nước lên tiếng đòi hỏi quyền lợi Dân tộc, đòi hỏi chủ quyền đất nước. Giai đoạn mà lòng ái quốc, tinh thần Dân tộc bị trừng phạt, hèn nhát, tinh thần vọng ngoại được ban thưởng. Chính sách này rõ ràng nhằm tiêu diệt Dân tộc Việt Nam.   Là người Việt Nam, chúng ta phải có trách nhiệm bằng mọi cách hoá giải Quốc nạn hiện nay để giao lại cho thế hệ sau một Tổ quốc Việt Nam tốt đẹp hơn Tổ quốc mà chúng ta đã nhận lại từ thế hệ trước.   Xã hội biến chuyển không ngừng, đặc biệt là tốc độ biến chuyển xã hội trong giai đoạn toàn cấu hoá hiện nay rất nhanh đến độ khó lường trước được. Chế độ chính trị tại Việt Nam do đó sớm muộn rồi cũng sẽ thay đổi không bằng cách này cũng bằng cách khác.   Những trang lịch sử Việt Nam sau này chắc chắn sẽ không ca tụng ông Tổng Bí thư A, Chủ tịch B, Thủ tướng C có được gia tài kếch sù trị giá 10 tỉ Mỹ kim mà lịch sử sẽ nguyền rủa các ông đã không thi hành trách nhiệm của mình đối với đất nước mà chỉ biết lợi dụng chức vụ vơ vét của công làm giầu bản thân và gia đình để mặc người dân phải sống vất vưởng, khổ cực.   Nhưng lịch sử Việt Nam sẽ ca ngợi các ông bà trong ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước CSVN tương tự như lịch sử thế giới hiện nay đang ca ngợi Gorbachov và lịch sử Miến Điện sẽ ca ngợi Chính quyền Quân nhân Miến Điện. Nếu các ông, bà vì Nước, vì Dân từ bỏ quyền lợi cá nhân, đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Dân tộcViệt Nam, đồng thời  thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ ôn hoà tương tự như ở Miến Điện. Vì đó là điều kiện triệt hạ hệ thống tham nhũng rất hệ thống và qui mô hiện hữu từ vài chục năm qua trên đất nước Việt Nam và đó cũng là điều kiện để mọi tầng lớp người dân Việt hết lòng, hết sức tham gia tái kiến thiết quê hương.    Nguyễn Hội Tháng 11 năm 2012 [1] Nguyễn văn Minh: Giòng họ Ngô Đình giấc mơ chưa đạt. [2] LM Trần Quý Thiện: Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm Với Những Bài Học Lịch Sử. [3] Nguyễn văn Minh: Giòng họ Ngô Đình giấc mơ chưa đạt. [4] Có tài liệu ghi ngày 01.09.1933 [5] Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 112, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước) [6] Hoàng Ngoc Thành; Thân Thị Nhân Đức: Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tr.198. [7] Vĩnh Phúc: Những Huyền Thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, Tr. 462-464, Nhà xuất bản Tam Vĩnh 2006 [8] Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 477, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước) [9] Vĩnh Phúc: Những Huyền Thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, Tr. 488, Nhà xuất bản Tam Vĩnh 2006 [10] Cao Văn Luận: „Bên Giòng Lịch Sử“ http://truyen.catbui.info/re.php?keng=9783 [11] Nguyễn Hữu Duệ: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh T.T. NGÔ ĐÌNH DIỆM; Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 470, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước)   [12] Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 521-522, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước) [13] Vĩnh Phúc: Những Huyền Thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, Tr. 579, Nhà xuất bản Tam Vĩnh 2006   [14] Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 549, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước) [15] Tôn Thất Thiện: Cộng sản nghĩ sao về Tổng thống Ngô Đình Diệm?
......

Việt Nam xuất cảng gạo nhiều, nhưng nông dân vẫn nghèo

Theo nguồn tin của Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam thì Việt Nam có nhiều hy vọng sẽ trở thành nước dẫn đầu thế giới về xuất cảng gạo trong năm 2012, với 7.7 triệu tấn. Tin này không làm ai vui mừng vì càng sản xuất nhiều lúa gạo thì nông dân càng lỗ nặng, và vị trí này chắc chắn không duy trì được lâu. Một số chuyên viên nông nghiệp, cho rằng Việt Nam lâu nay chỉ chạy theo năng suất và sản lượng nông nghiệp. Vì vậy mà nông dân chỉ chọn giống lúa phẩm chất thấp để gieo cấy, miễn sao cho năng suất cao. Hậu quả là giá lúa thương phẩm luôn thấp. Điều hệ lụy của khuynh hướng không lành mạnh này là nông dân không chỉ bị sụt giảm lợi nhuận, mà còn bị lỗ. Có người còn quả quyết rằng mặc dù có thể trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về xuất cảng gạo, nông dân Việt Nam “nghèo vẫn hoàn nghèo”. Tại cuộc họp diễn ra mới đây tại Sài Gòn, ông Nguyễn Minh Nhị, cựu chủ tịch tỉnh An Giang, cảnh cáo chính quyền Việt Nam rằng “chớ ảo tưởng chạy theo thành tích vì dù sản lượng đứng đầu thế giới nhưng giá trị xuất cảng gạo của Việt Nam vẫn thua Thái Lan và Ấn Độ”. Cũng theo ông, tin này không mang lại vui mừng cho nông dân vì lợi tức của họ vẫn sẽ tiếp tục bấp bênh; đời sống tiếp tục nghèo khổ, khốn cùng. Báo Tuổi Trẻ cũng dẫn lời của ông viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, Lê Văn Bảnh, cho rằng Việt Nam không thể duy trì lâu “kỳ tích” quốc gia có lượng gạo xuất cảng số một thế giới. Theo ông, vì bởi Việt Nam chỉ có trên 4 triệu ha trồng lúa và sản lượng hàng năm không thể vượt quá 7 triệu tấn. Trong khi đó, ông Bảnh cho biết, Thái Lan có tới 10.5 ha diện tích trồng lúa với năng suất có thể lên tới 22 triệu tấn gạo mỗi năm, nhiều gấp ba lần Việt Nam. Ông nói rằng, sở dĩ năm nay Việt Nam tăng được sản lượng gạo xuất cảng là nhờ Thái Lan cắt bớt định mức sản xuất và xuất cảng gạo, bỏ ngỏ thị trường.
......

Thế giới tố cáo Việt Nam tiếp tục vi phạm nhân quyền, qua bản án

Sau phiên xử 2 nhạc sĩ yêu nước Trần Vũ Anh Bình (tức nhạc sĩ Hoàng Nhật Thông) và Việt Khang (tức Võ Minh Trí tại tòa án Sài Gòn, vào sáng ngày 30-10 vừa qua, tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội đã bày tỏ quan ngại sâu sắc. Phát ngôn viên của tòa đại sứ cho rằng vụ kết án này là một sự kiện mới nhất trong một loạt các bước đi của Việt Nam nhằm giới hạn quyền tự do ngôn luận, đồng thời kêu gọi Hà Nội phóng thích hai nhạc sĩ này cùng với tất cả các tù nhân lương tâm khác. Một số tổ chức bảo vệ nhân quyền như Hội Ân xá Quốc tế và Human Rights Watch cũng chỉ trích bản án và kêu gọi phóng thích các nhạc sĩ. Thượng nghị sĩ Ron Boswell của tiểu bang Queensland của Úc Đại Lợi hôm 31/10 cũng đã cho phổ biến một bản thông cáo báo chí nhấn mạnh việc bỏ tù hai nhạc sĩ ôn hòa Việt Khang và Anh Bình, cho thấy một mức thấp kém nữa của Việt Nam, tiếpp tục giữ một thành tích nhân quyền tồi tệ cùng cực. Ông Boswell kêu gọi Hà Nội hãy lắng nghe lời kêu gọi của quốc tế, tôn trọng quyền tự do phát biểu của người dân, và trả tự cho tất cả các tù nhân bị giam giữ chỉ vì đã phơi bày các hành động của nhà nước ra ánh sáng. Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH) và tổ chức thành viên mang tên Ủy ban Bảo vệ Quyền làm người Việt Nam đồng lên tiếng tố cáo phiên xử và bản án khắc nghiệt đối với hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ là bằng chứng mới nhất cho thấy Việt Nam đang leo thang xâm phạm quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân và vi phạm trắng trợn luật nhân quyền quốc tế. Thông cáo báo chí của Liên đoàn phổ biến ngày 2/11 trích phát biểu của Chủ tịch FIDH, Souhayr Belhassen, nói rằng là quốc gia thành viên ký kết Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị, Việt Nam có nghĩa vụ pháp lý phải bảo vệ quyền tự do thể hiện tư tưởng của công dân qua mọi hình thức kể cả nghệ thuật, theo điều 19 quy định trong Công ước. Cần nói thêm, tuy tình trạng kiểm duyệt gay gắt đã kéo dài nhiều thập niên, các nhạc sĩ ở Việt Nam hiếm khi bị truy tố về nội dung các tác phẩm của họ. Tuy nhiên các bài hát của Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình đã vượt qua lằn ranh đó. Các quan sát viên nói Hà Nội đặc biệt nhạy cảm trước sự chống đối Trung Cộng ngày càng lan rộng trong mọi giới ở Việt Nam. Theo dư luận thì mới đây Việt Nam - Trung Quốc cam kết giáo dục cho nhân dân không nói xấu lãnh đạo nhau. Điều này có nghĩa là dạo đầu cho một chiến dịch lập công tới nhân dịp đại hội Đảng Trung Quốc, cùng ban lãnh đạo mới của Bắc Kinh. Và những vật hiến tế có thể là những người yêu nước phản đối đường lưỡi bò, hay những ai lên tiếng chỉ trích hàng hóa độc hại của Trung Quốc.
......

Đông dược từ Trung Quốc chứa hóa chất độc hại

Một phúc trình mới nhất của Bộ Y Tế Cộng sản Việt Nam xác nhận có đến 66% mẫu dược liệu được bày bán khắp Việt Nam, từ Saigon đến Đà Nẵng, Quảng Nam, Hải Dương, Hà Nội có chứa hóa chất độc hại. Phúc trình này cũng cho biết, hầu hết dược liệu có mặt tại thị trường Việt Nam hiện nay đều được nhập cảng từ Trung Quốc. Kết quả cho thấy có 66% trong gần 200 mẫu thuốc thu thập có chứa hóa chất, nhiều tạp chất khiến cho thuốc không còn là thuốc, mà trở thành chất độc. Có ít nhất 20 vị thuốc không xác định được tên gọi, cũng không đạt chỉ số về hoạt chất. Một số loại thuốc Bắc khá quen thuộc trong dân gian, được nhiều người tìm mua để sử dụng như đảng sâm, hoàng cầm, khương hoạt, hà thủ ô đỏ, hoàng bá, đan sâm, ngưu tất, nhục thung dung có hàm lượng hoạt chất rất thấp, không còn được coi là vị thuốc Bắc đúng nghĩa. Một số Đông dược khác còn được nhuộm màu cho đúng với tên gọi, từ bạch linh, hoài sơn, cho đến hồng hoa. Chưa hết, cán bộ y tế còn phát giác nhiều loại thuốc giả. Chẳng hạn như người bán đã dùng củ sắn để chế thành hoài sơn, dùng cây tầm gửi trên cây dâu làm thành tang ký sinh. Phúc trình này còn kết luận rằng hầu hết các vị thuốc Bắc nhập từ Trung Quốc chứa đầy các loại hóa chất độc hại cho sức khỏe người sử dụng. Cuộc xét nghiệm được Bộ Y Tế Cộng Sản Việt Nam thực hiện từ tháng 4 vừa qua cho thấy có xi măng, thuốc nhuộm trong gần 200 mẫu Đông dược được thu thập từ thị trường. Báo chí dẫn lời một số nhà chuyên môn nói người bệnh sẽ bị hư gan, hư thận và dẫn đến ung thư nếu dùng các loại Đông dược có chứa hóa chất nói trên lâu ngày.
......

Học sinh xỉu hàng loạt vì thiếu ăn

Báo Người Lao Ðộng cho biết, tình trạng này xảy ra lẻ tẻ hồi tháng 10 qua và rộ lên thường xuyên từ đầu tháng 11 cho đến nay. Báo dẫn phúc trình của ông Ngô Tấn Hưng, hiệu trưởng trường An Nghĩa nói rằng ngay sau buổi chào cờ sáng ngày 5 tháng 11, có trên 50 nữ sinh của ba cấp lớp 10, 11 và 12 đồng loạt lăn ra xỉu. Chỉ bốn ngày sau, tình trạng này tái diễn với số học sinh bị ngất lên tới 75 em trong cùng một lúc. Cũng theo báo Người Lao Ðộng, một bác sĩ bệnh viện tâm thần Sài Gòn xác nhận rằng có nhiều học sinh bị ngất “tập thể” là biểu hiện của cơn “rối loạn tâm thần”. Một giáo viên trung học Cần Giờ - bà Trần Thị Tâm, còn cho biết, tất cả các trường trung học ở Cần Giờ đều xảy ra hiện tượng này, chứ không riêng gì trường An Nghĩa. Trong khi đó, theo ông Ngô Tấn Hưng, hiệu trưởng trường An Nghĩa, hầu hết các học sinh bị ngất xỉu đồng loạt đều có thể trạng kém. Ông cho biết, các em thường nhịn ăn sáng hoặc chỉ nhấm nháp miếng bánh ngọt qua loa trước khi đến trường. Nhiều em nhịn cả buổi trưa, vì không có gì trong cặp để ăn, và không có cả tiền mua thức ăn của trường bán. Còn theo Bác Sĩ Nguyễn Thị Nga Hương, trưởng khoa dinh dưỡng Trung Tâm Dinh Dưỡng Sài Gòn, một nửa trong số học sinh bị ngất xỉu vì thiếu Calcium. Bà nói: “Calci đường huyết dễ bị tuột nếu học sinh không chịu ăn sáng dẫn đến trình trạng thiếu dinh dưỡng cần thiết cho bộ não.” Trong khi đó theo một phúc trình của Trung Tâm Dinh Dưỡng Sài Gòn, có 1/4 học sinh các trường trung học không có thời gian ăn sáng, phần lớn vì bài vở nhiều, thức khuya nên dậy muộn. Phúc trình này còn cho biết, số học sinh trung học ở Sài Gòn nhịn ăn sáng chiếm 18%; 2.6% không ăn bữa trưa và 2.4% nhịn ăn buổi tối. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này thường vì yếu tố tài chính tại các quận huyện ngoại vi Sài Gòn.
......

Sức khỏe người dân bị đe dọa do ô nhiễm không khí

Khí thải từ các nhà máy và đường phố đang khiến không khí tại Saigon bị ô nhiễm nặng. Đây cũng là nguyên nhân khiến những người tiếp xúc với môi trường này dễ mắc bệnh tai mũi họng. Cảnh báo vừa được các bác sĩ Hội Y tế Cộng đồng Saigon nêu tại hội nghị khoa học bàn về những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân sống tại thành phố. Một chuyên gia thuộc trường Đại học Tài nguyên Môi trường cho biết kết quả quan trắc chất lượng không khí trong 5 năm qua cho thấy lượng bụi trong không khí ở khu vực Saigon là đáng báo động. Bụi, benzen và NO2 là những chất đang gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường. Nồng độ chì cũng khá cao so với quy chuẩn của nhiều nước trên thế giới. Trong số các chất ô nhiễm trên, Benzen có thể gây ung thư. Hiện trường đại học này có đặt 6 điểm quan sát tại nhiều địa điểm trong thành phố ở quận 1, quận 6, quận 7, quận 12 và một số nơi khác. Kết quả cho thấy, tổng số bụi tại tất cả các trạm vượt 5 lần cho phép; 2 địa điểm luôn có hàm lượng CO cao quá quy chuẩn và hầu hết các trạm đều cho lượng NO2 và chì vượt mức cho phép. Tại một số điểm, nồng độ Benzen đo được cao hơn 10 lần, đây là loại chất thường có trong khói thải xăng dầu. Kết quả này phù hợp với bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới về mức độ ô nhiễm không khí tại Saigon năm 2010. Theo đó, Saigon là một trong 10 thành phố có mức độ nhiễm bụi cao nhất thế giới.
......

Hoàn cảnh của các nhà bất đồng chính kiến đang bị giam cầm tại Việt Nam

Sau khi lãnh bản án 12 năm tù giam từ phiên tòa tháng Chín, blogger Điều Cày Nguyễn Văn Hải bị chuyển đi nhiều nơi trước khi về ở chung với tù hình sự tại Khám Chí Hòa. Theo tin tức, Nguyễn Trí Dũng và bà Dương Thị Tân đã gặp rất nhiều khó khăn từ việc làm thủ tục đi thăm cho đến lúc được gặp ông Hải. Và cuối cùng thì chỉ có anh Nguyễn Trí Dũng con trai ông Nguyễn Văn Hải cho gặp được bố vào ngày 7/10 vừa qua, sau khi bị khám xét rà soát rất kỹ, bốn công an mặc sắc phục và một công an mặc thường phục được bố trí ngồi canh chừng cuộc gặp của cha con ông Điều Cày. Khi nghe hai người đề cập đến chuyện kháng án và nhờ luật sư thì Công an nói là cuộc gặp này vi phạm qui định trại giam, họ cho người kéo ông Hải ra khỏi phòng ngay lập tức. Tóm lại, sau bao nhiêu ngày bị "đá qua đá lại" giữa các bộ phận, cơ quan để có giấy phép, anh Nguyễn Trí Dũng chỉ được gặp bố trong một thời khắc rất chóng vánh, hầu như 1/3 thời gian là giằng co và nghe đọc luật. Tổng thời gian vỏn vẹn hơn 5-7 phút nói chuyện dưới sự theo dõi tại chỗ và nạt nộ của công an. Một điều đáng lưu ý là sự kiện blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đang gặp đe dọa và trấn áp tâm lý trong nhà lao số 42 khu AB trại giam Chí Hòa. Một tù nhân lương tâm khác, nhà giáo hay còn gọi là nhà báo tự do Đinh Đăng Định, thì đang bị bệnh nặng trong tù. Trong tuần qua sau khi đi thăm nuôi chồng, bà Đặng Thị Dinh là vợ ông Đinh Đăng Định báo cho biết ông đang bị xuất huyết dạ dày, ông xin đi bệnh viện mà cán bộ trại giam không cho đi mà còn bị đánh. Xin nhắc lại, nhà giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định bị bắt ngày 21 tháng Mười 2011, với tội tuyên truyền chống phá nhà nước, vi phạm Điều 88 bộ luật hình sự vì những bài viết cổ võ dân chủ và lòng yêu nước. Ông Đinh Đăng Định bị giam giữ tại trại tạm giam công an tỉnh Dak Nông. Ngoài ra, vào đầu tuần trước, ông Trần Văn Huỳnh đã đến trại giam Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai để thăm nuôi con trai là Trần Huỳnh Duy Thức, người tù nhân lương tâm đang bị giam giữ với bản án 16 năm tù giam. Ông Huỳnh cho biết khoảng 3 tháng nay anh Thức bị chuyển phòng giam và chỉ còn ở một mình một phòng nhỏ, chứ không ở chung với các anh em tù chính trị như trước đây nữa. Thời gian được ra sân vườn cũng bị hạn chế lại, mỗi ngày 3 lần tổng cộng khoảng 1 tiếng rưỡi chứ không như suốt ban ngày như trước.
......

Chính phủ có cố ý làm trái luật đất đai?

Gs. TsKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường (TNMT), đã mạnh bạo lên tiếng về sự thu hồi đất trái pháp luật của chính quyền Hải Phòng đối với gia đình anh Đoàn Văn Vươn. Ông được đánh giá là chuyên gia đất đai số một của Việt Nam và sự lên tiếng này của ông được báo giới đánh giá rất cao. Bà con nông dân Văn Giang liên quan đến dự án Ecopark đã liên tục khiếu kiện suốt 8 năm nay. Và vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Văn Giang ngày 25-4-2012 với lực lượng vũ trang hùng hậu đã gây xôn xao dư luận trong nước và quốc tế. Ba ngày sau, 28-4-2012 BBC phỏng vấn chuyên gia đầu ngành về đất đai, Gs. TsKH Đặng Hùng Võ. Với câu hỏi của BBC “quyết định thu hồi đất của chính quyền Văn Giang có đúng với pháp luật hay không?” ông trả lời “Tôi cho rằng đây là một quyết định đúng”.  Ông cho rằng những bất cập của dự án Ecopark “chủ yếu thuộc về khung pháp luật mà không thuộc về phần thực thi pháp luật”. Nói cách khác việc thực thi pháp luật là đúng (thẩm quyền, thủ tục) nhưng do pháp luật chưa hoàn chỉnh nên đã nảy sinh những rắc rối. Rồi những người nông dân Văn Giang cho biết: Ngày 28/6/2004 UBND tỉnh Hưng Yên ký tờ trình lên Bộ TNMT; ngày 29-6-2004 thứ trưởng Bộ TNMT Đặng Hùng Võ đã ký tờ trình số 99/TTr-BTNMT gửi Thủ tướng Chính phủ về việc giao đất để xây dựng tuyến đường liên tỉnh Hưng Yên-Hà Nội và xây dựng Khu đô thị thương mại-Du lịch Văn Giang; trên cơ sở đó phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30-6-2004 về việc thu hồi đất và giao đất cho dự án (đổi đất lấy hạ tầng) này đúng (chưa đầy) một ngày trước khi Luật Đất đai 1993 (đã được sửa và bổ sung năm 1998 và 2001) hết hiệu lực và Luật Đất đai 2003 (được thông qua ngày 26-11-2003) bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1-7-2004. Luật 1993 còn cho phép “đổi đất lấy hạ tầng”, luật 2003 thì không. Bà con nông dân Văn Giang rất bức xúc với phát ngôn của Gs. Võ. Bà con nông dân Văn Giang đã nhờ các luật sư tư vấn cho mình và đã có một cuộc đối thoại rất văn minh và mang tính xây dựng với Bộ TNMT tại trụ sở của Bộ vào ngày 21-8-2012. Bà con nông dân nói các quyết định thu hồi và giao đất là trái pháp luật, Bộ nói không sai và đã cung cấp cho bà con các bản sao của các tờ trình của Bộ khi đó do thứ trưởng Đặng Hùng Võ ký. Bà con, thông qua các luật sư của mình, đã gửi ý kiến của họ đến Gs. Võ và yêu cầu có đối thoại với ông. Ngày 7-11-2012 Gs. Võ trả lời phỏng vấn nhiều báo rằng ông sẽ mượn hội trường của Bộ TNMT để đối thoại với bà con nông dân Văn Giang từ 2 giờ chiều ngày 8-11-2012. Trong các phỏng vấn này ông vẫn nhấn mạnh: “Thanh thiên bạch nhật mà nói thì thủ tục thu hồi đất của dự án này, tôi nhắc lại, không có gì sai pháp luật”; “Việc ký 2 tờ trình vào thời điểm đó là đúng đắn và tốt cho đại cục, tốt cho sự phát triển kinh tế của Hà Nội và Hưng Yên, như vậy có nghĩa là người dân cũng sẽ được hưởng lợi”; ông muốn “giúp bà con hiểu về pháp luật đất đai”; làm cho “bà con hiểu rõ tính chính đáng của dự án và tôi tin rằng không ai có thể cãi về điều này”.  Ông cũng mời các nhà báo đến dự và đưa tin. Có thẻ nhà báo từ cả chục năm rồi nhưng năm nay không được cấp lại, nên tôi chỉ ké các nhà báo thật để vào quan sát để học hỏi. Hàng trăm nông dân Văn Giang tụ tập bên ngoài Bộ TNMT. Chỉ có một số đại diện của họ, các luật sư, các nhà báo (có cả 3-4 đài TV ghi hình liên tục), khoảng 50-60 người dự đối thoại.  Cuộc đối thoại đã kéo dài gần 3 giờ liên tục, không có giải lao. Nội dung chỉ xoay quanh 3 câu hỏi mà bà con nông dân Văn Giang đã gửi cho Gs Võ: 1) Quyết định thu hồi đất và giao đất số 742/QĐ-Ttg do Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 30-6-2004 dựa trên tờ trình số 99/Ttr -BTNMT do chính Gs. Võ ký có đúng thẩm quyền hay không? 2) Quyết định giao đất cho chủ đầu tư (mà bà con cho là không đúng quy hoạch và chủ đầu tư chưa đủ điều kiện được giao đất theo luật lúc đó) có đúng luật hay không? 3) Quyết định giao đất có đúng không khi không nghi rõ tên người sử dụng đất (mà bà con cho rằng thực chất là ủy quyền cho cấp dưới [UBDN tỉnh Hưng Yên] là không phù hợp với Điều 25 của Luật Đất đai 1993]? Chỉ cần ít nhất một 3 câu trả lời cho 3 câu hỏi trên là không [đúng] thì có nghĩa là Quyết định 742/QĐ-Ttg do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký là trái luật và trong trường hợp đó tất cả các quyết định của các cơ quan cấp dưới dựa vào Quyết định đó cũng trái luật và bà con yêu cầu Gs Võ chính thức cải chính lời tuyên bố của ông với BBC (ngày 28-4-2012) và với các phóng viên báo chí (ngày 7-11-2012). Cuộc trao đổi đã hết sức sôi nổi, đôi khi khá gây cấn. Gs. Võ lúc đầu vẫn giữ quan điểm của mình như đã nói với BBC và phóng viên các báo ngày 7-11-2012. Đại diện của bà con nông dân Văn Giang (và các luật sư của họ) đã trưng ra hết bằng chứng này đến bằng chứng khác của Luật đất đai khi đó (1993 và được sửa đổi bổ sung 1998 và 2001), tranh cãi khá gay gắt về sự hiểu luật kém cỏi của những người ký các tờ trình. Gs Võ đã thực sự bị các đại diện của bà con Văn Giang áp đảo về lý lẽ. Nhưng sau hơn 2 giờ trao đổi ông vẫn không nhận mình sai khi ký các tờ trình. Tôi có cảm giác rằng những người nông dân Văn Giang hiểu luật đất đai sành hơn ông Giáo sư và chính họ đã giúp ông “hiểu về pháp luật đất đai” chứ không phải ngược lại. Mỗi lần ông thanh minh hay giải thích khá lòng vòng, thì luật sư hay bà con nông dân đưa ra những lý lẽ, bằng chứng bằng các điều khoản của luật, nghị định, thậm chí thông tư của chính Bộ của ông để bác lại. Về thẩm quyền ký quyết định thu hồi đất và giao đất bà con lập luận: luật đất đai 1993 đã giao cho thủ tướng chính phủ quyết định; nhưng sau đó do thấy tập trung quyền lực vào ta một người dễ gây ra sự lạm dụng hay quyết định thiếu cơ sở nên Quốc hội (trong đợt sửa 1998 và 2001) đã chuyển quyền đó sang cho Chính phủ chứ không phải Thủ tướng. Thế nhưng trong tờ trình số 99/Ttr –BTNMT Gs. Võ đã ghi “kính gửi Thủ tướng Chính phủ” chứ không phải Chính phủ và khiến cho phó Thủ tướng đã ký Quyết định 742/QĐ-Ttg (chứ không phải Chính phủ có một nghị quyết rồi trên cơ sở đó Thủ tướng thay mặt Chính phủ ra Quyết định). Gs. Đặng Hùng Võ nói, Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng. Bị truy, quyết định ủy quyền đâu? Ông trả lời có nghe nói thế và ông nói thêm tất cả các dự án tương tự từ trước đến nay đều làm thế chứ không chỉ dự án này. Tôi phát hoảng nên nói xem vào: Xin Gs. Võ thận trọng bởi vì nếu đúng như Giáo sư nói là Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng quyết định về thu hồi đất và giao đất đối với các dự án như vậy, thì không khác gì bảo “Chính phủ đã cố ý làm trái luật vì trước kia do ngại một mình Thủ tướng quyết định là không tốt nên Quốc hội mới bỏ việc đó và bắt Chính phủ phải quyết định. Nay nếu Chính phủ lại ủy quyền cho Thủ tướng thì chẳng phải Chính phủ (tất cả các thành viên Chính phủ) đã cố tình vi phạm luật hay sao?” Kết quả có hậu là, cuối cùng Gs Võ đã được bà con nông dân và các luật sư của họ thuyết phục và đã thừa nhận và trả lời rành rọt cho các câu hỏi: 1) không đúng thẩm quyền và thậm chí ông còn nói là trái luật; với câu hỏi 2) ông thừa nhận mình đã sai vì đã dùng từ “giao đất” [mà lẽ ra phải là từ “thu hồi đất”] trong Tờ trình số 99 [trong đó có 7 lần nhắc đến “giao đất” (4 lần của Bộ TNMT), 2 lần của Hưng Yên, 1 lần của Bộ Tài chính], nói cách khác câu trả lời cho câu hỏi 2 cũng là không; về câu hỏi thứ 3) quyết định thu hồi đất không ghi tên từng người bị thu hồi đất (được quy định bởi luật lúc đó và hiện hành) cũng như không ghi tên người được giao đất cũng là sai luật. Mỗi lần Gs Võ trả lời “không” cho các câu hỏi trên thì bà con tham dự đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh. Bà con đã đại xá cho Gs Võ. Thật đáng trân trọng sự dũng cảm của Gs Võ khi ông thực sự hiểu mình đã sai và thừa nhận sự sai đó. Sai là chuyện con người, ai cũng mắc phải. Vấn đề là có dám nhận sai không để tìm ra cách khắc phục những sai lầm đó, thay cho việc coi bà con đi khiếu kiện là bị “các thế lực thù địch” xúi giục. Đối thoại trên tinh thần xây dựng để tìm ra sự thật như đã xảy ra tại Bộ Tài Nguyên Môi trường lần trước và lần này rất đáng được hoan ngênh. Và đấy là cách duy nhất để giải quyết thấu đáo các rắc rối hiện tại sao cho có lợi cho bà con nông dân, cho chủ đầu tư và cho chính nhà nước, rút kinh nghiệm để cho việc sửa đổi Luật đất đai hiện thời tốt hơn. Các quan chức nhà nước khác và cơ quan nhà nước khác có thể lấy đấy làm tấm gương. Giá mà có cuộc đối thoại tương tự giữa bà con nông dân Văn Giang với nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và giá như ông cũng can đảm nhận sai lầm, nếu ông đã sai, và trong trường hợp ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định của nguyên phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì uy tín của Thủ tướng chắc sẽ lên cao. Giá mà các quan chức nhà nước và các cơ quan nhà nước bớt được 50% (hay hơn) số vụ họ vi phạm luật do chính họ (nhà nước) làm ra, thì sự phát triển của đất nước đã tốt đẹp hơn rất nhiều. N.Q.A.http://anhbasam.wordpress.com/2012/11/09/1366-chinh-phu-co-co-y-lam-trai-luat-dat-dai/
......

Tại Sao Lại Để Cho Lào Xây Đập Xayaburi, Trên Thượng Nguồn Sông Tiền, Sông Hậu Của VN ?

Lào đã khởi công xây đập Xayaburi trên khúc sông Mekong chảy ngang qua nước này theo đồng thuận của CSVN và Kampuchia.  Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn quật cường chống trả lại mọi cuộc xâm lăng của ngoại bang, trong đó giặc có Tàu phương bắc. Ðất nước được vẹn toàn trên hai mươi thế kỷ và tồn tại tới hôm nay là do công đức dựng và giữ nước của tiền nhân bao đời. Cho nên đừng thấy lạ khi tìm hiểu về tôn giáo đích thực của người Việt cả nước, mà dân tộc gọi là đạo Việt, thờ kính Ðức Phật, Các Anh hùng liệt nử VN như Hai bà Trưng,Ðức Thánh Trần, Lê Lợi, Quang Trung.. và Thần Nông. Tổ tiên ta bao đời ngoài võ công hiển hách để bảo vệ lãnh thổ, bản sắc tự chủ cũng như nền độc lập của mình, còn biết cách mềm mỏng kết thân với kẻ thù để hoà giải hiềm khích và hấp thụ những tinh hoa của Hán tộc. Nhờ biết người, biết ta, vừa can đảm anh hùng lại có óc thực tiển. Tóm lại đây là chủ nghĩa anh hùng và chiến lược khôn ngoan của người Việt, mà các vi minh quân mọi thời đem áp dụng, để vừa đánh bại ngoại xâm, vừa giữ vững độc lập cho nước nhà trong danh dự. Khác với tiền nhân trong suốt dòng lịch sử, rất khôn khéo và uyển chuyển mỗi lần chiến thắng kẻ thù. Trái lại VC từ trên xuống dưới, hèn hạ xảo quyệt, sớm đầu tối đánh, lúc nào cũng lừa bịp thiên hạ để tiên hạ thủ vi cường. Vì vậy cũng đừng lấy làm lạ, khi biết năm 1958, Hồ ra lệnh cho Phạm văn Ðồng, quyền thủ tướng nước, công khai xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa (lúc đó đang thuộc chủ quyền VNCH) là của Trung Cộng, để đổi lấy mọi thứ cần thiết cho cuộc xâm lăng miền Nam.Thế rồi khi cưởng chiếm được VNCH vào ngày 30-4-1975, VC liền phản thầy bằng cách tuyên bố tức khắc chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa mà trước đó vào năm 1974, đã giúp giặc Tàu tàn sát hải quân VNCH để cưởng đoạt gấm vốc của tổ tiên Hồng Lạc. Trên đất Bắc, từ năm 1954 tới nay, vì quyền lợi riêng tư mà đảng cọng sản hoặc nhắm mắt làm ngơ hay đã đồng thuận dâng hiến hoặc bất tài để cho Trung Cộng công khai chiếm đoạt nhiều đất đai của Việt Nam dọc theo biên thuỳ Hoa Việt. Trong sự mất mát này, quan trọng bậc nhất vẫn là ẢI NAM QUAN, với địa thế hiểm trở có một không hai, nằm trên con đường độc đạo Quảng Tây-Hà Nội. ‘Quỷ môn quan,quỷ môn quan thập nhân khứ, nhất nhân hoàn.’ Nơi mà bao đời tiền nhân ta đã tạo nên những chiến công hiển hách vào năm 981 (STL),Thập đạo tướng quân Lê Hoàn bêu đầu Hầu nhân Bảo. Năm 1076 Thân cảnh Phúc chận đứng 30 vạn quân Tống của Quách Quỳ, để Lý thường Kiệt giết trọn trên sông Như Nguyệt, tạo hứng cho Ðại tướng quân viết bài thơ thần ‘NAM QUỐC SƠN HÀ’ khẳng định với giặc Bắc, về cương thổ độc lập của Ðại Việt.. Nhưng lừng lẫy nhất vẫn là trận Liễu Thăng, danh tướng số một của nhà Minh, bị các tướng Lam Sơn của Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, chém rụng đầu năm 1427, nay vết tích vẫn còn nơi ‘Liểu Thăng Thạch’ và ‘Lê Tổ kiếm’ như một bài học thách thức người Hán trước ác mộng xâm lăng VN. Riêng ngoài biển Ðông, cũng do VC hèn nhục ký nhượng phần lớn lãnh hải của VN, khiến cho Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố chủ quyền 200 hải ly tính từ Hoàng Sa, cộng thêm một hiệp ước khác vừa lén ký,cho phép Trung Cộng ra vào tự do trong vịnh Bắc Việt.. làm cho vùng biển của VN, bây giờ thành cái ao của Trung Cộng nên mới dám hung tàn tập trận bắn đạn thiệt.và xua hàng chục ngàn tàu thuyền đánh cá xâm nhập lãnh hải của VN. Tóm lại hành vi bán nước của VC ngày nay, chẳng những gây phẩn nộ cho cả nước, mà còn làm cho người ngoại quốc bất bình và khinh bỉ, mà nhà báo người Pháp Sylvaine Pasquier, gọi đó là quốc nhục của người Việt. Mới đây, Hà Nội lại ký thêm nhiều hiệp ước bất bình đẳng với Tàu, công khai đồng thuận để giặc bắn giết đồng bào ngư phủ ngay trên biển đảo yêu quý của quê hương mình. Thảm kịch trên khiến VN đã nghèo khổ lại càng khốn đốn hơn vì diện tích canh tác càng ngày càng bị giới hạn bởi thiên tai, nguồn tưới và nạn nhân mãn trầm trọng, với 5,2 triệu ha ruộng, phải nuôi hơn 85 triệu người, nên bình quân 0,16 ha dành cho 1 nông dân, nếu theo quy định của Liên Hiệp Quốc, thì quá thấp, dù theo cái loa tuyên truyền thì VN hiện nay là nước đứng thứ hai (sau Thái Lan) sản xuất gạo. Nói chung, gạo thặng dư bán ra ngoài chỉ là vấn đề thời gian, cho nên dù muốn hay không, thức ăn và tương lai của dân tộc cũng vẫn là trên các sông ngòi biển sóng. Lãnh thổ đem bán, kinh tế giao phó, văn hiến thì mời nhập và mạng sống của cả nước nhờ vào hai vựa lúa Sông Hồng, Sông Cửu, nay cũng bị giặc Tàu kiểm soát lưu lượng trên đầu nguồn, bằng một hệ thống đập chằng chịt, khiến cho đồng bào cả nước năm nào cũng bị lũ lút tàn phá, một hiện tưọng không bao giờ xãy ra trước năm 1975. Theo nguồn tin của hảng thông tấn AP cho biết : Lào đã khởi công xây “ Đập Thủy Điện Xayuri “ sau khi CSVN và Kampuchia (là hai nước ở hạ nguồn, nạn nhân chính hứng chịu những tai họa thảm khốc do nó gây ra) đã không còn phản đối và ngăn chận. Ta biết hơn năm nay, sau khi một tập đoàn Thái Lan (dĩ nhiên phía sau là Tàu đỏ) tuyên bố sẽ bỏ vốn để xây dựng đập thủy điện Xayubi với kinh phí trên ba tỉ Mỹ kim, trên khúc sông Mekông chảy qua Lào. Tin trên đã làm cho cho LHQ, Ủy Ban Bảo vệ sông Mekông, Hoa Kỳ, Nhật và các nước liên quan phản đối kịch liệt. Vì vậy Lào phải tạm ngưng nói là để nghiên cứu tìm phương cách giãm nhẹ sự tàn phá, thiệt hai do nó gây ra (nếu có). Nhưng tình hình đã xoay chiều, sau khi Nguyễn Tấn Dũng sang chầu Tập Cận Bình vào cuối tháng 9-2012 tại Quảng Tây, sau đó lại gặp nữ thủ tướng Thái Lan là Yingluck Shinawatra tại Hà Nội.. Tại Hội Nghị Thượng đỉnh Diễn đàn Kinh tế ASEAN ở Viên Chân (Lào) vào ngày 29-10-2012, có sự tham dự của Pháp, Đức..Suốt hội nghị, ngoài phái đoàn Phi Luật Tân đem vấn đề Trung Cộng tại Biển Đông ra bàn thảo. Tuyệt nhiên VC và Nguyễn Tấn Dũng không mở miệng “ nhắc tới một chữ về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông hay sự tác hại của đập thủy điện Xayuri mà Lào đang khởi công xây dựng “. Mấy chục năm nay, đồng bào cả nước VN đã đạu khổ vì TC dùng những đập thủy điện để khủng bố. Nay VC lại nhượng bộ Lào (thật sự là tập đoàn tài phiệt Tàu đỏ) để chúng xây thêm một con đập vĩ đại, so với những con đập tại TC không thua mấy. Đập này, mùa nắng ngăn nước, cá, phù sa không cho chảy xuống Nam Phần VN. Mùa mưa, chúng mở đập, tháo nước, gây lũ lụt và trút hết những cặn bã, hóa chất, rác rưỡi từ TC, Thái Lan, Lào..sang Kampuchia và VN. 1 - TRUNG CỘNG KHỦNG BỐ VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TRÊN SÔNG HỒNG HÀ- MEKONG Bao chục năm qua, người Việt trong và ngoài nước đã căm thù đến tận xương tuỷ, trước những sự việc Trung Cộng xâm lăng cưởng chiếm lảnh thổ của chúng ta. Nhưng đó cũng chỉ là một trong ngàn muôn nổi buồn của thân phận nhược tiểu VN, trong biển máu lệ nước mắt thống hận muôn trùng. Bởi vì cùng lúc, giặc Tàu còn gây ra nhiều cuộc khủng bố khác, mà tàn khốc nhất là đang xữ dụng những đập thủy điện trên các dòng sông phát nguyên trên đất Tàu, chảy vào VN, như một thứ vũ khí môi sinh chiến lược,liên quan tới sự sống còn của dân tộc. Ai có thể ngăn được sự phẩn uất , trước lời tuyên bố xấc xược và ngạo mạn của Wang Xiaodong, chuyên viên nghiên cứu của Trung Cộng, về việc khai thác sông Mekong ‘ Ðây là đất nước Tàu, nên muốn làm gì cũng được , ai dám ngăn cản ‘. Mới đây báo chí tại Trung Cộng đã đồng loạt đăng tải sự lên tiếng của các chuyên gia môi trường tại Hoa Lục, trong đó có Giáo sư Ðại học về môn đia chất là Yuan Aiguo. Theo họ thì tình trạng ô nhiễm đang xãy ra trên sông Dương Tử rất nguy kich, ngoài việc gây bệnh ung thư vì nước uống, dòng sông có thể chết trong 5 năm sắp tới, do việc đổ xuống đây tất cả các loại rác rưởi, trong đó có hóa chất độc hại và cả xác tàu thuyền bị chìm. Hiện 80% nguồn nước ngọt của Thượng Hải là do sông Dương Tử cung ứng (80% thiếu vệ sinh và có chứa hoá chất). Dù Tàu Cộng cố bưng bít nhưng thảm trạng cũng đã bị phanh phui trên dòng sông Tùng Hoa. Xem như vậy làm sao các dòng sông thiêng của VN như Hồng Hà, Ðà Giang, Lô Giang và quan trọng nhất là sông Cưu Long, đều phát xuất từ bên Tàu, chảy qua tỉnh Vân Nam, trước khi vào lãnh thổ chúng ta, chắc chắn cũng đang mang chung số phận của sông Dương Tử. Có điều chừng nào VC mới dám công khai lên tiếng phản đối Tàu và thông báo tình trạng ô nhiểm nguy kịch chết người, để đồng bào cả nước biết., một sự kiện đáng làm trước hết hơn là phung phí ngân khố quốc gia, để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long làm trò cười cho đồng bào cả nước và dư luận khắp nơi trên thế giới. + HỆ THỐNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TẠI TỈNH VÂN NAM, TRÊN SÔNG MEKONG VÀ HỒNG HÀ CHẢY VÀO VN : Sông MeKong phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện, Kampuchia và VN rồi ra Biển Ðông tại chín cửa lớn nhỏ, nên phần sông chảy trong lãnh thổ VN, mới có tên là Cửu Long Giang. Vì Trung Cộng là nước ở thượng nguồn sông Mekong, chẳng bao giờ tôn trọng các ảnh hưởng, sự tác động và lợi ích kinh tế của những nước khác ở hạ nguồn. Ngoài ra còn bá quyền nước lớn, bất chấp sự phản đối của các nước liên hệ, bao chục năm qua đã xây dựng cả hệ thống Ðập Thủy Ðiện trên sông Mekong, trong tỉnh Vân Nam, gây thiệt hại nhiều nhất cho hai nước hạ nguồn là Kampuchia và VN. Thật ra âm mưu khống chế sông Mekong, được Trung Cộng manh nha từ năm 1970. Do sự cô lập và bưng bít nên mãi tới năm 1989 khi Ðặng Tiểu Bình mở cửa đón tư bản vào cứu đảng, người ta mới biết được đại khái là Hoa Lục đang xúc tiến các dự án đập thủy điện tại Vân Nam, đã xây dựng tới 14 con dập bậc thềm, trên thượng nguồn sông này. Ðó là chưa kể các con đập khác ở các phụ lưu và trên sông Hồng Hà. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, ta thấy các đập thủy điện Liutongsiang, Jiabi, Wunenglong, Tuoba, Huangdeng, Tiemenkan, Guongguoqiao, Công Quả Kiều, Xiaowan, Tiêu Loan, Manwan, Daichaoshan, Ðại Triều Sơn, Nuozhado, Nọa Trát Ðộ, Jinhong, Cảnh Hồng, Ganlanba và Mãnh Tòng. Tóm lại chỉ riêng với ba con đập đầu tiên được xây dựng trên thượng nguồn Mekong là dập Mạn Loan, Ðại Triều Sơn và Cảnh Hồng, với các triền núi cao dùng làm vách hồ chứa nước vào mùa mưa và xã nước trong mùa nắng. Hậu quả sông Mekong sẻ không còn những cơn lụt hằng năm, mang phù sa và các loại thủy tộc, từ thượng nguồn xuống Biển Hồ, sông Tiền, sông Hậu. Cuối cùng các hồ chứa nước tại Vân Nam, sẽ giữ lại hết phù sa và nước ngọt tại chuổi đập bậc thềm , làm cho Biển Hồ khô chết, còn đồng bằng miền Nam ven biển Ðông, sẽ bị ngập mặn vì lòng sông thấp hơn mực nước biển. Trước mắt những con đập tại Vân Nam, thường trực gây bất thường cho dòng sông Mekong, làm xói lở hai bờ , đọng nhiều muối trên đất, nguồn phù sa hằng năm từ thượng nguồn bị giữ lại, làm cho ruộng thiếu nguồn phân bón thiên nhiên. Tai hại hơn, là Trung Cộng đã trút đổ những chất phế thải độc hại từ các nhà máy công nghệ như chì, kẽm, cyanide.. gây ô nhiểm nước uống và hệ thủy sản trên sông, nhất là các loại cá . Tháng 12-2001, theo tin Asian Pulse cho biết là Trung Cộng lại khởi công xây đập Tiểu Loan trên khúc giữa Lạn Thương Giang, lớn thứ nhì trên nước Tàu, chỉ thua đập Tam Hiệp. Ðập này có công suất điện 4200 MW, cao nhất thế giới 292 m, riêng hồ chứa nước lên tới 15 tỷ m3 khối nước, từ nguồn sông Mekong. Ðập hoàn thành năm 2010 với kinh phí 4 tỷ đola. Ngày nay Trung Cộng đã công khai đe dọa thế giới, trực tiếp đối đầu với Mỹ, Nhựt, Liên Âu và LHQ, nên đâu có lạ khi thấy người Tàu toàn quyền khai thác sông Mekong và từ chối tham dự Ủy hội bảo vệ con sông này vào năm 1995 cũng như không cầm đếm xỉa tới thảm họa môi sinh của 5 nước dưới hạ nguồn. Thế giới ai cũng nhìn thấy rõ, nhát là mưu đồ dùng sông Mekong như một thủy lộ, khi có cuộc chiến trong tương lai gần. SÔNG NGÒI TẠI BẮC PHẦN, TRƯỚC THẢM HỌA KHỦNG BỐ CỦA TÀU : Diện tích VN hiện nay là 331.000 km2, trong đó hai đồng bằng Bắc và Nam Việt, xưa nay được coi như là vựa lúa gạo của cả nước. Miền châu thổ Bắc Việt hình thang, giới hạn bởi tứ giác Phủ Lạng Thương, Ðồ Sơn, Việt Trì và Phát Diệm, với diện tích 15.000 km2, chỉ chiếm 12% Bắc Phần (115.700 km2), được hình thành bởi phù sa sông Hồng Hà và Thái Bình. Nay Trung Cộng xây đập khắp nơi, mùa nắng thì giữ nước ngọt lại trong hồ chứa để mà tưới , trái lại mùa mưa thì mở đập để nước trên sông lẫn trong hồ, tuôn về hạ nguồn, cho nên mấy năm qua, Hà Nội và các tỉnh Bắc Phần luôn bị nạn lụt. Trong khi đó , hệ thống đê điền ở miền Bắc tuy dài hơn 4000km, nhưng lại có quá nhiều khuyết điểm, chẳng hạn như đê phải đắp cao theo tình hình mực nước, khiến cho đê thường bị vở. Ngoài ra vì bị đê ngăn chặn phù sa, khiến cho đồng bằng Bắc Phần lần hồi không được bồi đắp, nên càng lúc thêm cằn cổi, thu hoạch kém, tốn nhiều phân bón. Riêng hệ thống sông Thái Bình, dài độ 340km, chảy từ Phả Lại, qua Hải Dương ra biển, với các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu, đều phát nguồn trong nội địa VN. Tuy nhiên vì Sông Nhị có hai phụ lưu ở tả ngạn là sông Ðuống và sông Luộc, đều chảy vào sông Thái Bình, cho nên hệ thống sông này cũng bị ảnh hưởng khi nguồn nước hay dòng chảy của sông Hồng bị tắt nghẽn hay bất thường. do những ảnh hửng từ thượng nguồn bên Vân Nam gây ra. ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG : Ngày nay đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 12 tỉnh miền tây Nam phần : Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Ðồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bac Liêu và Cà Mâu. Khu vực này chiếm một diện tích 40.000 km2 với hơn 16 triệu dân, gồm người Việt, Khmer, Hoa và Chàm. Do cấu tạo môi trường thiên nhiên khác nhau, ảnh hưởng từ sông, biển và khí hậu, nên khu vực này được chia thành bốn vùng riêng biệt. Nói chung đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa của hai nhánh sông Mekong, gọi là sông Tiền (Dòng chính) và sông Hậu, được chia thành chín nhánh nhỏ hình rẽ quạt, đổ ra biển bằng chín cửa, lại tạo thành nhiều cù lao rất phì nhiêu. 2 - TRỜI HÀNH LỤT LỘI MỖI NĂM TẠI VN : Từ trước tới nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh vào tới Thừa Thiên thuộc bắc Trung phần, luôn luôn hứng chịu thảm trạng chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết,thêm vào đó Rặng Trường Sơn lấn ra sát biển, làm cho đồng ruộng cằn khô vì cát lẫn với đá núi. Cho nên trong dân gian đã có câu ca dao ‘ Trời hành cơn lụt mỗi năm, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm ‘.Lời than thở này bây giờ đã vượt biên giới và trở nên thân quen đối với đồng bào cả nước, vì năm nào cũng phải cât lực đối phó với tình trạng lụt lội, đã trở nên thường trực trong cuộc sống của mọi người. Nam Trung phần kéo dài từ bên này đèo Hải Vân tới Bình Thuận (10 độ 35’B ố 16 độ 12’ B) gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, chiếm một diện tính 44.360 km2 với dân số 9.025.100 người (thống kê 2009). Toàn vùng gồm các bình nguyên hẹp chạy ven biển, bên trong là dãy Trường sơn nên hệ thống sông ngòi mang chung đặc điểm ngắn, dốc, mùa nắng khô hạn, mùa mưa lũ lụt. Ðây là vùng chịu nhiều thiên tai triền miên.. sau năm 1975. Từ khi Trung Cộng lén lút xây dựng các đập thủy diện trên hệ thống sông ngòi chảy qua tỉnh Vân Nam vào năm 1971, thì đại họa cũng bắt đầu đổ ập một cách âm thầm vào non nước VN, qua cảnh dòng sông không còn êm đềm chảy, mà dâng cao đục ngầu, mang đầy rác rưởi, gổ tre, khắp nơi đầy những vực xoáy hung dữ. Năm 1971, mực nước sông Hồng dâng cao tới 14,8 m,gần như lưu lượng nước (80-88%) đổ vào Sơn Tây, trung tâm của đồng bằng Bắc Việt. Từ năm 1920, bờ đê tại Hà Nội chỉ mới cao 11,5m. Năm 1932 là 13,3m và hiện nay đã cao tới 15-15,5m. Ngoài ra còn hy vọng vào các hồ chứa sông Ðà, Lô, Gầm, Chảy và Ba Bể.. để hạ bớt mực nước lụt. Trước đây khi dòng sông Cửu Long chưa bị biến thái vì các đập thủy điện trên thượng nguồn tại Trung Cộng, Thái Lan, Lào.. thì hằng năm nước ngập, đã mang đến thật nhiều phù sa bồi đắp cho miền châu thổ , làm cho Mũi Cà Mau lấn thêm đất ra biển, sông rạch có thêm nhiều tôm cá và đủ cac loại thủy sản.. Từ năm 1961 tới 1994, miền Tây Nam Phần đã bị sáu trận lụt lớn, làm ngập 1.828.000 Ha ruộng, kéo dài từ 3-6 thang mới rút hết nước. Hiện nay có tới 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cưu Long, chiếm diện tích 3,9 triệu Ha nhưng vùng lụt lội hằng năm thường tập trung vào 7 tỉnh đầu nguồn là An Giang, Ðồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và Long An. Lụt lội hằng năm, làm cho 1 triệu Ha ruộng bị chìm ngập dưới nước sâu trong nhiều tháng, gần 10 triệu đồng bào địa phượng bị thiệt hại , từ nhân mạng tới vật chất. Lụt bây giờ ngập sâu và kéo dài hơn trước, lại đến sớm nhưng rút muộn, ảnh hưởng nặng nề tới nông vụ vốn là chén cơm manh áo bao đời của tầng lớp cư dân miệt vườn. Mặc khác lụt lớn, làm cho đất đai bị mòn xói, phá vở các công trình xây dựng hai bên bờ sông, kể cả đường xá kênh rạch. Riêng trận lụt năm 1996, làm cho 217 người chết trong đó có tới 162 trẻ nít, gây tổn hại tới 2182 tỳ tiền Hồ. Nguy cơ trùng trùng nhưng Ðảng chẳng những chẳng giải thích một lời nào về thảm họa vì đâu nên nổi, trái lai vẫn cứ ru ngủ đồng bào nạn nhân bằng luận điệu tuyên truyền như Mùa Nước Nổi Hay Sống Chung Với Lũ.. nhờ đó mà đồng ruộng Miền Nam được kéo dài tuổi trẻ, vì có sự bồi đắp của phù sa. Trong khi đó,thực chất gần như đất đai màu mở, cá tôm thủy sản quý của thiên nhiên ban cho các dòng sông Hồng Hà, Mekong.. đã bị chuổi đập lớn nhỏ trên 14 cái, được xây dựng tại Vân Nam giữ lại. Kế tiếp những gì may mắn thoát được, lại bị kẹt ở chuổi đập của Lào-Thái. Cho nên ngày nay, Kampuchia và VN chỉ còn nhận đủ những thứ cặn bã, trong đó có hơn 80% các quặng, hóa chất.. được thải từ hằng trăm nhà máy bên Tàu, đổ xuống dòng nước, tống ra biển, như chúng đã làm trên sông Dương Tử, mà chính báo chí tại Trung Cộng, vừa to tiếng tố cáo. 3 - ÐỒNG RUỘNG MIỀN NAM KÊU CỨU VÌ NẠN XÂM NHẬP NƯỚC MẶN : Từ năm 1980 tới nay, các sông ngòi ở VN hầu hết đều biến đổi kỳ lạ : Mùa mưa thì tràn nước gây nên lụt lội, trái lại về mùa nắng nước thiếu gây nên cảnh khô hạn. Tại Nam Phần, chính việc thiếu hụt nước tại các sông, đã liên quan tới sự tấn công, xâm nhập của nước mặn từ biền tràn vào sông, trong các đợt thủy triều. Ðã có trên hằng triệu Ha lúa và hoa màu tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long, bị nước mặn xâm nhập khốc liệt, vừa gây tổn hại tới thu hoạch cũng như làm cho mọi người trước nguy cơ thiếu nước ngọt để ăn uống,tắm giặt. Ðây là thảm họa chỉ mới xãy ra tại Nam Phần từ sau thang 5-1975, hiện tượng nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa các tỉnh sát biển, nơi cửa sông Cửu Long. Sở dĩ có tình trạng trên,vì ảnh hưởng của hai yếu tố từ lưu lượng nước tại thượng nguồn và vùng hạ lưu, cộng thêm lượng nước mưa cũng như sự bốc hơi vào mùa nắng. Thông thường hằng năm, từ cuối tháng 4-5, nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa, khiến cho nước ngọt tại các kênh rạch không còn dùng được để mà tưới ruộng lúa và hoa quả, gây nên cảnh hạn hán thất thu. Theo định luật khoa học, thì tiêu chuẩn độ mặn cần có trong lượng nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp là 4%. Trong khi đó nguồn nước lợ (nước ngọt đã bị nước mặn xâm nhập), độ mặn chỉ có 2% nhưng cũng chỉ để tưới ruộng tạm thời khi không còn một lối thoát nào khác. Nguyên do vì thứ nước lợ này, chỉ có tác dụng cứu khô ngắn hạn, nếu để lâu, nước bốc hơi làm cho nồng độ muối trong ruộng tăng lên cao, làm chết hết lúa. Do phần lớn đồng ruộng ở miền Nam, không có hệ thống bờ ruộng và kè đê tốt, nên đã lãnh đủ sự xâm nhập của nước mặn chảy vào ruộng,với số lượng bị ảnh hưởng lên tới 1,1 ố 1,3 Ha theo báo cáo của các cơ sở Nông Nghiệp. Ngoài ra nước mặn còn gây tổn hại rất lớn đối với những đồng bào nuôi các loại thủy sản như tôm, cá , ốc.. để xuất cảng. Nạn nước mặn xâm nhập đồng ruộng được đánh giá trầm trọng, bắt đầu từ năm 1977, trên sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang. Tại đây nước mặn chảy sâu vào nội địa từ 8-12km, nhiều hơn những năm trước. Trên sông Vàm Cỏ Tây, nước mặn theo thủy triều vượt qua Tuyên Nhơn về hướng thượng nguồn hơn 30km và kéo dài tới 10 ngày mới rút. Tại Mỹ Tho, nước mặnvào sông Tiền ít hơn và chỉ ở lại có 4 ngày. Nhưng vì nhu cầu nước tuới, đồng bào đã vô tình giúp nước mặn tràn lan nội địa. Những năm 1985-1986, vùng Tuyên Nhơn-Ðồng Tháp, tình trạng nước mặn xâm nhập có giảm so với các năm trước, nhờ con kênh Hồng Ngự mới đào, dẫn nước Vàm Cỏ Tây thông qua sông Tiền. Bắt đầu từ thập niên 1990 Ðồng Tháp Mười được khai thác triệt để diện tích ruộng lúa, nên lượng nước ngọt dùng để tưới trở thành thiếu thốn, tạo điều kiện cho nước mặn càng ngày càng dâng cao, xâm lăng tới tăp vào sâu trong nội địa. Năm 1993, nước mặn theo sông Vàm Cỏ Tây, lên tới thượng nguồn và ở lại Tuyên nhơn tới 50 ngày. Trên Tiền Giang, do nhu cầu xữ dụng quá nhiều nước, nên ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn cũng thay đổi từng năm. Tại Mỹ Tho, nước mặn đã vượt qua vài cây số và nằm lai tới 17 ngày mới rút ra biển. Năm 1998, tình trạng trên lại tái diễn một cách khốc liệt. Nguyên do vì mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1997, diễn ra thật bất thường, nước từ thượng nguồn đổ về rất ít và rút đi rất sớm Tình trạng trên gây ra khô hạn kéo dài, tạo điều kiện để nước mặn dâng lên cao và ùn ùn kéo vào sông Vàm Cỏ Tây, chảy sâu vào nội địa tới 15-20km. Trên sông Tiền, sông Hậu, Cổ Chiên tuy lưu lượng có kém so với các năm trước, nhưng vẫn còn sức mạnh, làm giảm thiểu phần nào sự xâm nhập của nước mặn, tuy nhiên cũng đã gây thiệt hại cho hơn 200.000 Ha ruộng lúa. Trong khi đó, vùng tứ giác đầu nguồn Long Xuyên và phía Tây sông Hậu, lại bị ảnh hưởng rất nặng bởi sự xâm nhập của nước mặn, vào sâu trong nội địa từ 16-20 km và ở lại hơn 3 tháng. Sự xâm nhập của nước mặn vào các sông ngòi miền Nam, là nguyên nhân chính làm các nhà máy đường phải đóng cửa ngưng hoạt động, vì nước ngọt từ năm 1999 đã tăng lên 30.000/1m3 tiền Hồ. Từ đây nước mặn tấn công vào đất liền sớm hơn mấy năm trước. Tóm lại , không riêng gì Tuyên Nhơn, Mỹ Tho.. mà hầu như các tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long như Vàm Mỹ Hoá (sông Hàm Luông-Bến Tre), Trà Vinh,, An Thuận, Bến Trại, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ.đều bị nước mặn xâm nhập phá hoại tàn khốc và không có triệu chúng nào, báo hiệu thảm họa trên sẽ ngừng hay chấm dứt. Thêm vào đó, từ mấy năm nay thời tiết lại thay đổi đột ngột, gió chướng thổi manh hơn mấy năm trước,dồn nước mặn vào sông nhiều hơn, đồng lúc thủy triều tại cửa sông hoạt động thêm dữ dội, trong khi lưu lượng dòng sông từ thượng nguồn chảy xuống càng lúc càng yếu dần, không đủ triều cường giữ giới hạn giữa hai con nước như mấy thập niên trước. Hởi ôi, đây là cái giá mà dân tộc Việt Nam phải còng lưng gánh chịu cho Hồ Chí Minh và tập đoàn lảnh đạo lớn bé của CS, chẳng những bây giờ mà còn kéo dài tới nhiều thế hệ sau này, qua những hành động trời tru đất diệt của Việt Cộng bấy lâu nay, chỉ vì manh tâm chiếm trọn giang sơn để vinh thân phì gia, đổi đời và ôm cái hào quang anh hùng cứu nước mà thật sự chỉ là lớp son phấn bên ngoài vì hoàn toàn vay mượn của ngoại nhân suốt cuộc chiến. Hèn như vây, nên một nước lạc hậu nhất thế giới là Lào cũng dám công khai khinh bỉ dân tộc Việt, khi chúng tự xây một đập thủy điện bằng tiền của Trung Cộng (qua tập đoàn Thái Lan), ngay trên yết hầu của hai con sông thiêng Tiền Giang và Hậu Giang, vốn là “ mạch sống “ của Dân tộc Việt Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di Tháng 11-2012 MƯỜNG GIANG
......

Khi ‘Lão Lý’ lắc đầu

Ông Lý Quang Diệu là một nhân vật đặc biệt ở châu Á. Ông được người dân nước ông coi là Cha đẻ của quốc gia Singapore độc lập và phồn vinh. Tháng 9 này, sinh nhật lần thứ 88 của ông được kỷ niệm trên khắp nước kết hợp với kỷ niệm lần thứ 47 ngày lập quốc. Báo chí quốc tế lại có dịp ca ngợi đất nước nhỏ bé này là con mãnh hổ thần kỳ nhất trong 4 con hổ châu Á gồm có Singapore, Hồng Kông, Đài Loan và Nam Triều Tiên. Năm 1965, tổng sản lượng của Singapore đạt gần 1 tỷ đôla, tính theo đầu người là 516 đôla/năm; năm 2010, 2 con số này đã vọt lên thành 223 tỷ và 44.000 đôla – có nghĩa là tổng sản lượng tăng hơn 200 lần và thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 80 lần so với 47 năm trước. Thật là một kỷ lục phi thường. Nhân dịp này báo chí Pháp, Anh nêu bật nếp sống thật sự giản dị, gương mẫu của ông Lý Quang Diệu – hay “Lão Lý”, theo cách gọi thân mật của người dân. Ông không đồng ý việc tạc tượng, trưng ảnh ông, đặt tên ông cho các công trình. Ông vẫn ở căn nhà nhỏ, đi xe hơi loại rẻ.  Con trai ông, Lý Hiển Long, dù là thủ tướng đương nhiệm, và con gái ông, bác sỹ Lý Vĩnh Linh, cũng theo nếp sống như thế, không có biệt thự, nhà nghỉ riêng, không có xe cộ, trang sức gì khác người. Triết lý sống của cả gia đình ông là thế, không lập dị, không đua đòi, xem sự thanh bạch là một điều đương nhiên để được sống an vui, hạnh phúc. Điều quan trọng đối với ông là dân Singapore sống tốt, sống sạch, xã hội sạch, môi trường sạch, lương tâm sạch. Nhân dịp này ông Lý Quang Diệu có một số ý kiến đáng chú ý. Ông cho rằng Trung Quốc dù phát triển liên tục nhưng chứa nhiều nguy cơ mang tính bi kịch, và rằng Ấn Độ là nước châu Á gây ấn tượng mạnh nhất về chất lượng phát triển bền vững. Về Singapore, “Lão Lý” nhân danh Bộ trưởng – Cố vấn cho chính phủ, tỏ ý vui mừng thấy lý tưởng của ông đã được nhà nước kiên trì thực hiện suốt gần 50 năm nay. Bài học lớn nhất, theo ông, là coi trọng giá trị của con người , đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng thái quá của đồng tiền trong chính trị. Ông hiểu sâu sắc đồng tiền vừa là nguồn hạnh phúc, vừa là động lực tha hoá xã hội. Lãnh đạo giỏi là người điều hòa được mối mâu thuẫn này. Ông Lý cho rằng trong xây dựng guồng máy cai trị và cải cách hành chính của nhà nước, vấn đề trung tâm là tuyển mộ được nhân tài có chất lượng cao nhất – ông gọi là nhân tài loại 1, tức là những người vừa có chuyên môn cao vừa có lối sống trong sạch. Thấp hơn một bậc là nhân tài loại 2, tức là những người sẽ làm suy yếu đất nước nếu được nắm giữ các chức vụ cao. Nếu chỉ là nhân tài vào loại 3 hay loại 4, nghĩa là tài kém đức suy thì sẽ mang lại tai họa cho đất nước. Ông cho rằng người lãnh đạo phải kiên quyết cảnh giác với thế lực đồng tiền trong chính trị, và rằng tệ mua quan bán tước và nạn bè phái là 2 tai họa lớn nhất cho một chế độ. Ông Lý Quang Diệu từng sang Việt Nam nhiều lần, theo lời mời của chính quyền Việt Nam. Đó là chuyện của 15 năm trước, khi Việt Nam vừa được gia nhập WTO, mở ra một triển vọng lớn. Ông chân thành góp ý xây dựng, san sẻ kinh nghiệm quý. Nhưng ông đã nản lòng và thất vọng. Mấy năm nay ông lại càng thất vọng hơn. Trả lời báo The Straits Times của Singapore hồi năm ngoái, ông nói về Ấn Độ, về Đài Loan, về Nam Triều Tiên; khi được hỏi về Việt Nam ông lắc đầu: «Nên quên đi, tôi đã nói hết với họ rồi, vô ích!”, rồi ông nói về Nhật Bản. Nhớ lại, ông Lý từng tâm sự với nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt và các nhà báo Việt Nam về đề tài chống tham nhũng 15 năm trước. Ông nói rất giản dị: hãy nâng lương cho viên chức đủ sống để không ai cần ăn cắp, luật pháp phải thật nghiêm để kẻ tham sợ không dám tham nhũng, đạo đức trong xã hội phải được truyền bá để mọi người khinh và hổ thẹn đối với tệ nạn xấu xa này. Tóm lại là 3 không: không cần, không dám, không nỡ. Ông Lý kể chuyện đã tăng quỹ lương cho viên chức ra sao, trừng trị tệ “phong bì”, “đưa tiền dưới bàn ăn”, “huê hồng”, “tặng phẩm, biếu xén, quà cáp, sinh nhật …» ra sao, và nhân tài loại 1 là thế nào, có lương thiện, trong sáng mới thật sự tài giỏi có ích. Ông Lý nản lòng, không muốn nhắc đến Việt Nam nữa vì ông biết lời ông đã như nước đổ đầu vịt. Giá như người ta nghe lời ông, quyết liệt diệt tham nhũng như đã hứa, thì 20% ngân sách hàng năm đã không bị xà xẻo, chia chác cho đám tham quan ô lại nhiều vô kể và hàng tỷ đôla đã không bị lãng phí vì bất tài và tham nhũng. Nếu 20% ấy được dành cho quỹ tiền lương – như ông Lý khuyên – thì cục diện kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam đã khác hẳn. Trái ngược với lời khuyên răn trên, suốt 15 năm qua, quốc nạn tham nhũng ở nước ta trầm trọng thêm gấp bội, vì mọi người đều thấy cần phải tham nhũng, không tham nhũng không sống nổi; dám tham nhũng vì đã có ô, có lọng, có khe hở luật pháp để chạy án; và không ai còn biết xấu hổ khi ăn bẩn và đút lót vì mọi người đều tham gia, ta không ăn và đút là dại, là ngu đần, là thiệt. Trên ăn thì dưới cũng ăn, trên múc thì dưới cũng múc. Tôi ăn, anh ăn, chúng ta cùng ăn dù là ăn bẩn, thế là hòa. Trước cảnh này, có một người rất buồn, rất nản, đó là « Lão Lý» Singapore, người từng hy vọng làm một cố vấn tốt, có ích cho nước bạn. Trong dịp mừng ông Lý Quang Diệu 88 tuổi, báo chí Đông Nam Á lại có dịp nói về những nét đẹp của Singapore. Ở đây phố xá, vĩa hè công cộng sạch nhất thế giới. Ở đây nhà vệ sinh công cộng nhiều và cũng sạch nhất thế giới. Mọi nhân viên hành chính công cộng không những luôn luôn nhã nhặn, nở nụ cười mà còn tận tình đáp ứng quyền lợi người dân. Đi khắp nơi, hầu như không có chen lấn, khạc nhổ, móc túi, xin tiền. Con người tôn trọng yêu thương con người. Singapore có thu nhập đầu người cao nhất Đông Nam Á, 44.000 đôla / năm, gấp hơn 40 lần mỗi người dân Việt Nam hiện nay, ấy vậy mà họ vẫn nghe theo “Lão Lý”. Đồng tiền là quý, là cần khi thu nhập chính đáng, nhưng phải luôn luôn cảnh giác; đồng tiền có thể tha hóa xã hội, tạo nên bất bình đẳng, cho nên cần luôn đặt giá trị con người và đạo lý làm người lên trên giá trị của đồng tiền. Từ đó đồng tiền sẽ là phương tiện, là công cụ quý của con người, phục vụ chứ không làm chủ con người. Chí lý thay! Các bạn Singapore thường nói: “Chúng tôi quý ông già Lý, ‘Lão Lý’ của chúng tôi, vì ông không những là Cha đẻ của nước Singapore độc lập, ông còn là Kiến trúc sư của Singapore mới, phồn vinh, sạch sẽ từ trong ra ngoài, một xã hội hài hòa, ổn định, hòa bình, được bạn bè khắp nơi quý trọng, giữa một thế giới đang có nhiều hỗn loạn và khủng hoảng. Quả thật “Lão Lý” là Nhân tài số 1, trong số Nhân tài loại 1 thời hiện đại của nước Singapore mới. Nhân dân Singapore tinh đời và hạnh phúc thật. Blog Bùi Tín (VOA)
......

Bóng ma Cách Mạng Tháng 10 trên đất Việt

Khi nhìn lại thế kỷ trước, hầu hết các nhà bình luận và sử gia đều cho rằng, cuộc cách mạng tháng 10 năm 1917 ở nước Nga và 72 năm sau đó, sự xụp đổ của bức tường Bá Linh dẫn đến sự tan rã của khối Cộng Sản, là hai biến cố quan trọng nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga thành công vào ngày 24 tháng 10 theo lịch Julien được Sa Hoàng dùng ở nước Nga vào lúc đó, so với dương lịch thì chênh lệch nhau nửa tháng. Sau khi Cách Mạng Tháng 10 thành công thì nước Nga mới sửa lại lịch và lấy ngày 7/11 hàng năm là ngày kỷ niệm cách mạng đó. Sự thành công của Cách Mạng Tháng 10 đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội loài người, mở ra một kỷ nguyên mới của nhân loại với sự hình thành của khối các nước xã hội chủ nghĩa cùng với những nhà nước kiểu mới (theo như cách gọi của những người Cộng Sản) mà nhân loại chưa từng có trước đó. Những nhà nước “kiểu mới” này đã xiềng xích dân tộc của họ suốt mấy chục năm, cho đến khi khối các nước xã hội chủ nghĩa tan rã. Vì vậy sự tan rã này được coi là biến cố quan trọng ngang với cuộc cách mạng tháng 10. Trước khi đi sâu vào một số đặc điểm của cuộc Cách Mạng Tháng 10 cũng cần luợc qua các Quốc Tế Cộng Sản (QTCS), quan trọng nhất là đệ tam quốc tế (QTCS 3), vì được coi là đi song hành với sự hình thành của khối các nước xã hội chủ nghĩa; quan trọng hơn, nó còn có vai trò lãnh đạo các chế độ (và các phong trào) cộng sản. Các Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) Có 4 QTCS gồm: QTCS 1 do Marx và Engels thành lập tại Luân Đôn (Anh Quốc) ngày 28/9/1864 và giải tán năm 1876 tại Philadelphia, Hoa Kỳ. QTCS 2 (tức Liên Minh Quốc Tế Các Đảng Xã Hội và công nhân) thành lập tại Paris ngày 14/7/1889. QTCS 2 tan rã khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Sau đó, năm 1923 và 1951 có hồi phục lại được trong một thời gian ngắn rồi tự tàn lụi. QTCS 3 (Komintern, hay Comintern) do Lenin thành lập tại Mạc Tư Khoa (Moskva) vào tháng 03 năm 1919. Đến năm 1943 thì giải tán, được tái sinh năm 1947 và giải tán năm 1956. QTCS 4 do Trotsky thành lập sau khi Lê nin qua đời. QTCS này theo khuynh hướng chống lại đường lối "cách mạng vô sản trong một quốc gia" của Stalin. Từ năm 1953, QTCS 4 phân hóa ra nhiều nhóm nhỏ rồi tan rã. Như đã đề cập ở trên, QTCS 3 có vai trò chỉ đạo các chế độ và phong trào cộng sản, cho nên trong khoảng 33 năm QTCS này tồn tại các chế độ và phong trào cộng sản trên thế giới đều phải nhận chỉ thị từ Mạc Tư Khoa. Đối với Việt Nam, ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN là thành viên của QTCS 3 nên đương nhiên phải tuân theo các điều luật của QTCS này. Đây là điều quan trọng cần nhấn mạnh, vì trong 21 điều kiện gia nhập Đệ Tam Quốc Tế được ấn định trong Đại hội thế giới của Đệ Tam Quốc Tế năm 1920 có nhiều điều bắt buộc các thành viên phải thi hành, nếu không thì sẽ bị loại trừ. Chẳng hạn như: Điều 12: “Tất cả các đảng thuộc Đệ Tam Quốc Tế phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Điều 16: “Tất cả các quyết nghị của các Đại hội thế giới Đệ Tam Quốc Tế, cùng các quyết nghị của Ủy Ban Chấp Hành của Đệ Tam Quốc Tế, đều ràng buộc các đảng gia nhập Đệ Tam Quốc Tế”. Điều 21: “Đảng viên nào phủ nhận các điều kiện và cương lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế sẽ bị loại ra khỏi đảng”. Điều 17: Các đảng thành phần của Đệ Tam Quốc Tế chỉ là những chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế, vì Đệ Tam Quốc Tế “không phải là một tập hợp của những chi bộ quốc gia, mà là một tổ chức quốc tế thống nhất”. Điều 13: Các quyết định của Ủy Ban Chấp Hành “có tính cách cưỡng bách đối với các chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế và phải được thi hành mau chóng”. Ngoài ra, điều 6 quy chế QTCS 3 quy định một đảng xin gia nhập phải “ khước từ mọi tinh thần ái quốc , và cả tinh thần chuộng hòa bình về mặt xã hội”. Người cộng sản phải từ chối “dân chủ tiểu tư sản” và phương thức không cách mạng (tức không bạo động). Một câu trong Tuyên Ngôn Cộng Sản xác định tinh thần vô tổ quốc của các đảng Cộng Sản như sau: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, KHÔNG phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc ”. (1) Trở lại với cuộc Cách Mạng Tháng 10 thì khi nói về cuộc cách mạng này không thể không đề cập đến học thuyết của Marx và nhất là Lenin, người lãnh đạo của cuộc cách mạng đó. Thực ra thì học thuyết Marx chỉ là một mớ lý thuyết suông, nếu không có Lenin hiệu đính, rồi tổ chức và lãnh đạo cuộc cách mạng bạo động lật đổ chế độ Sa Hoàng thì đã không có cách mạng tháng 10 và như vậy cũng sẽ không có khối các nước XHCN. Vì vậy, khi nói về Cách Mạng Tháng 10 thì luôn luôn phải đi kèm với học thuyết Marx – Lenin. Có người cho rằng Lenin đã phản bội Marx, vì theo Marx thì sau khi đánh đổ được tư bản thể chế chính trị ở các nước vô sản phải là chế đội đại nghị. Lenin đã thực hiện đúng như vậy, nhưng chính quyền đầu tiên của Lenin chỉ chiếm được 24 phần trăm số ghế trong quốc hội. Vì thế ông ta phải dẹp bỏ nhà nước đó để thành lập nhà nước vô sản chuyên chính. Đây là khuôn mẫu nhà nước mà tất cả những quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa trước đây đều tổ chức và thực hiện rập khuôn như vậy. Và dưới đây là một số nét của nhà nước chuyên chính vô sản tại Nga sau cuộc Cách Mạng Tháng 10, mà nhiều điều chỉ được biết đến sau khi khối các nước cộng sản xụp đổ. Một số nét tiêu biểu về sự cai trị của nhà nước chuyên chính vô sản (hệ quả cuộc cách mạng tháng 10): Cách Mạng Tháng 10 được đảng CS Nga nhân danh là cuộc Cách mạng của quảng đại quần chúng lao động, cho tất cả giai cấp lao động và vì hoà bình, vì hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Nó được các sử gia thiên tả, cộng sản ca tụng là cuộc cách mạng vĩ đại, giải quyết tận gốc ách thống trị, nô dịch các dân tộc, chỉ đường cho việc tổ chức một xã hội mới công bằng văn minh, cao đẹp; là ánh sáng hoà bình, xua tan những mưu đồ tàn ác, bạo ngược, soi đường cho sự phát triển của nhân loại v.v. và v.v. Có thật cách mạng tháng 10 Nga đã đem lại cho người dân Nga nói riêng và các dân tộc bị ách thống trị của chế độ CS được những điều tốt đẹp như những tuyên truyền về mục tiêu của Cách Mạng Tháng 10 đã nêu ra? Sau khi khối cộng sản Liên xô và Đông Âu sụp đổ, dần dần những sự thật của cái gọi là Cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga đã được hé mở do sự bạch hoá các tài liệu trong kho thư mật. Người ta đọc được những thủ đoạn tàn bạo và tinh vi của các lãnh tụ đảng CS Nga từ những ngày đầu tiên khi thiết lập một chính quyền mang danh của nhân dân nhưng không được lòng dân nên luôn phải xử dụng các biện pháp khủng bố bằng bạo lực để duy trì quyền lực của mình. Một điểm nổi bật đặc biệt là lãnh tụ CS Nga chủ trương dùng cái đói như một vũ khí lợi hại để kiểm soát bao tử và khống chế ngươi dân. Chính quyền Bolsevik đã cưỡng bức trưng thu lương thực, khiến người nông dân Nga nổi lên chống đối và đã bị đàn áp tàn bạo. Chỉ riêng trong mùa hè năm 1918, có khoảng 140 cuộc nổi dậy, trong đó nông dân chiếm phần lớn, để chống lại lệnh cưỡng bức trưng thu. Chỉ trong hai tháng mùa thu năm đó, số người bị hành quyết lên đến 15 nghìn, tức là gấp từ 2 đến 3 lần số người bị hành quyết trong suốt 92 năm cai trị của chế độ Sa Hoàng. Từ sau Cách Mạng Tháng 10, cuộc sống của người dân Nga ngày càng cơ cực. Công nhân bị bòn rút hết sức lực qua các phong trào thi đua, chỉ để được hưởng những tấm giấy hoặc lời khen thưởng hão huyền. Nông dân mất hoàn toàn quyền sở hữu ruộng đất, bị buộc làm công không trong các nông trường quốc doanh và tập thể. Trí thức, văn nghệ sĩ, truyền thông báo chí không còn được tự do sáng tác mà phải chịu dưới sự chỉ đạo của nhà nước…Từ đó người dân Nga trở thành những nô lệ cho một thiểu số cầm quyền từ tinh thần đến vật chất. Người ta đã từng biết đến những hệ thống trại tập trung của Đức Quốc Xã trong thế chiến thứ hai, nổi tiếng như Auschwitz, Dachau, Buchenwald, Sachsenhausen... Những nơi đày đọa và vắt kiệt sức con người cho đến chết, mà con số nạn nhân lên đến hơn sáu triệu dân Do Thái và hàng triệu người thuộc các chủng tộc thiểu số khác. Nếu may mắn còn sống thì cũng chỉ là những bộ xương biết cử động. Người ta cũng từng nghe đến hệ thống công an mật vụ khét tiếng Gestapo (Geheime Staatspolizei) do Đức quốc xã lập ra. Tổ chức này đã từng làm cho người dân khiếp đảm qua việc nắm chặt mọi ngõ ngách xã hội, vào tận từng gia đình, kiểm soát từng con người và cai trị bằng sự sợ hãi thường trực đến nỗi các sĩ quan cao cấp quân đội SS của Đức quốc xã cũng phải kiêng dè. Trong một thời gian khá lâu người ta vẫn tưởng rằng hai hệ thống trại tập trung và mật vụ nêu trên là do Hitler sáng chế. Nhưng thực ra đó là sáng kiến của Lê Nin ngay từ những ngày đầu khi thiết lập chính quyền chuyên chính tại Nga và sau này đã được Stalin áp dụng tới cực đỉnh, mà Hitler và đồng bọn chỉ là học trò. Ngoài hệ thống trại tập trung (Gulag) và hệ thống công an trị Lenin còn phát kiến hệ thống kiểm soát bao tử bằng tem phiếu để cai trị người dân. Từ đó lãnh đạo muốn trừng phạt ai thì trừng phạt. Trong lịch sử liên bang Xô Viết khoảng thời gian 1932 đến 1933, Stalin đã trừng phạt người dân tại Ukraina bằng cách bắt phải chết đói, vì họ chống lại việc cưỡng bức tập thể hóa và bị đe dọa tước quyền tư hữu ruộng đất. Số người chết vì nạn đói được ước tính khoảng từ 3 đến 10 triệu người. Về sự kinh hoàng của cuộc Cách Mạng Tháng 10 và sản phẩm của nó là các chế độ cộng sản, tác giả S.Courtois, cùng với mười tác giả khác như N.Werth, J.P. Panné, A. Paczkovski… trong cuốn sách tựa đề “Khủng Bố Đỏ“ đã đưa ra con số tổng kết là ít nhất đã có khoảng 100 triệu người bị các chế độ cộng sản tàn sát kể từ Cách Mạng Tháng 10 Nga đến 1989 ở Afghanistan; từ những cuộc thanh trừng của Stalin trong thập niên 1930, đến các cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, Việt nam; từ cuộc Cách mạng Đại Nhảy Vọt“, Cách mạng Văn hoá ở nước Tàu, đến Pol Pot ở Cambốt, Mengistu ở Ethopie, tàn sát Rwanda,... Trong đó riêng tại Nga, các nhà sử học ước tính có khoảng từ 20 đến 40 triệu người bị chế độ của Stalin giết chết trong các trại tập trung và các nhà tù thời Xô-Viết trước đây. Nếu so với chế độ Phátxít với 25 triệu người bị giết, thì nạn nhân bị chết dưới các chế độ cộng sản lớn hơn gấp 4 lần. Trong bảng “the Greatest Monsters“ (http://www.filibustercartoons.com/m...) xếp hạng thứ tự những nhà độc tài giết nhiều người nhất thì các lãnh tụ Cộng Sản nổi tiếng đều có tên. Như đã đề cập ở phần Quốc Tế Cộng Sản, khi Liên Xô xuất cảng Chủ nghĩa cộng sản sang các nước khác qua hình thức áp đặt (như ở Đông Âu) hoặc do một số cán bộ cộng sản địa phương mang về (như tại các nước Đông Nam Á, Trung và Nam Mỹ, Phi Châu), thì các đảng công sản tại các nơi đó đều rập khuôn theo mô thức của Lenin thực hành từ những ngày đầu cuộc Cách Mạng Tháng 10. Đó là:  Cướp chính quyền bằng bạo lực;  Đàn áp, khủng bố, giết chóc, thanh trừng,… để tóm thu quyền lực;  Bần cùng hóa, nô lệ hóa, công cụ hóa người dân để phục vụ cho một thiểu số cầm quyền nhân danh xây dựng một xã hội đại đồng không tưởng. Với Việt Nam thì ông Hồ Chí Minh khi vớ được ”Đề Cương về Các Nước Thuộc Điạ” của Lenin đã mừng như “người sắp chết khát trong sa mạc tìm được nước uống” và ông ta đã rước chủ nghĩa cộng sản về nước ta. Tính chất tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế của ông Hồ Chí Minh được thể hiện qua một câu của ông ta trong bộ Hồ Chí Minh Toàn Tập nói về việc ông đã hoàn thành chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế khi đưa “cách mạng” về Đông Dương. Tương lai nào cho Cách Mạng Tháng 10? Sau khi các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên xô sụp đổ vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, hàng trăm triệu người dân các nước Đông Âu và Liên xô cũ đã dần dần phục hồi lại vai trò làm chủ và quyền tự quyết cho vận mệnh của mình. Đến nay, sau 23 năm canh tân và xây dựng, tuy còn một số nước vẫn chưa thể tẩy xóa những dấu vết di hại sau mấy mươi năm dưới ách cộng sản độc tài, nhưng họ đã vượt qua được rất nhiều khó khăn mọi mặt, để từ một xã hội mà tất cả là công cụ của cổ máy nhà nước phục hồi trở lại xã hội công dân. Và nhờ có tự do ngôn luận, tự do thông tin v.v... người dân các nước Đông Âu đã từng bước gạn lọc được để có một chính quyền của dân và vì dân đúng nghĩa. Đây là giai đoạn học cách sống và sử dụng các phương tiện dân chủ phải đi qua của mọi dân tộc vừa thoát ách độc tài. Hầu hết các nước Đông Âu như Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Bulgary, Albania,... đều đã có nền dân chủ vững chắc, nền kinh tế chan hòa với Âu Châu và thế giới. Nhưng có lẽ thành công hơn cả là đã đem lại công bình và công lý cho mọi công dân qua những thay đổi xã hội một cách ôn hòa. Cộng Sản là tai họa kinh hoàng cho cả nhân loại trong thế kỷ qua! Đây là điều mà người ta không thể chối cãi. Chính vì thế mà nay nhân loại không chỉ bỏ vào đống rác lịch sử mà còn dạy các thế hệ tương lai về loại "tai họa giết người nhiều nhất" này của thế kỷ 20. Năm nay, trước những ngày kỷ niệm Cách Mạng Tháng 10 thì ngẫu nhiên lại xẩy ra những hiện tượng đáng suy ngẫm về tương lai của cuộc cách mạng này. Quan trọng nhất có lẽ phải kể đến việc đảng CS Trung Quốc đã vứt bỏ chủ nghĩa Marx – Lenin trong cương lĩnh của họ ngay trước những ngày đại hội đảng lần thứ 18 sắp diễn ra. Ở Bắc Hàn, người ta đã tháo gỡ bức chân dung vĩ đại của Marx và Lenin từng ngự trị ở công trường Kim Nhật Thành, Bình Nhưỡng, từ khi chế độ cộng sản lên cầm quyền đến nay. Tượng Lenin ở Ulan-Bator, thủ đô Mông Cổ, cũng vừa được kéo xuống vào tháng trước. Ở Nga, hôm 30 tháng 10 (ngày tù nhân chính trị dưới thời Sô Viết) các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền tại Nga đã đứng ra tổ chức lễ tưởng niệm cho hàng triệu nạn nhân dưới thời Liên Xô bị bắn, bị lưu đày hay bị đưa vào các trại cải tạo. Cũng ở Nga, tại thành phố Boulouvo, ngoại ô Mạc Tư Khoa, các buổi cầu nguyện chung đã được tổ chức cho 20.000 người đã bị xử tử và chôn tập thể chỉ riêng tại nhà tù của thành phố này. Trong khi chủ nghĩa Marx – Lenin bị chôn vùi ngay chính quê hương sản sinh ra nó, thì khốn khổ cho dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục phải ôm đống rác rưởi đó. Mặc dù chính Marx từng nói: “Chúng tôi không có ý định đoán định tương lai một cách giáo điều mà mong muốn dùng phương cách phê phán thế giới cũ, để tìm được thế giới mới. Việc kiến tạo và tuyên bố một lần và mãi mãi những giải đáp cho các vấn đề của mai sau không phải là việc của chúng tôi”. Và “Ngay khi viết học thuyết về chủ nghĩa tư bản, qui luật giá trị thặng dư, qui luật phản ứng của giai cấp công nhân bị bóc lột… ở đầu thế kỷ 19 Mác và cả Anghen đều cho công trình của mình chỉ như một thứ dự báo. Nó chỉ phù hợp với thời điểm ấy, chứ không thể phù hợp với tất cả mọi thời điểm trước và sau nó.” (2) Thế nhưng, lãnh đạo đảng CSVN lại vẫn coi học thuyết Mác là bất di bất dịch, là kinh điển … của mọi thời đại! Thậm chí tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng còn sang tận Cuba để rao giảng những thứ này, và tượng Lenin vẫn sừng sững ở vườn hoa Canh Nông cũ để dân gian có bài thơ mỉa mai: “Lênin ông ở nước Nga. Cớ sao ông đến vườn hoa nước này? Ông ngửng mặt, ông chỉ tay. Xã hội chủ nghĩa nước này còn lâu (3) Hai thập niên trước đây “tiến sĩ sinh học Hà Sĩ Phu viết tiểu luận "Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ". Bằng lý luận khoa học sắc sảo, ông đã vạch ra rằng động lực phát triển của xã hội là trí tuệ chứ không phải là đấu tranh giai cấp như luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin mà hàng triệu tín đồ cộng sản trên thế giới đang mê muội tôn sùng (4). Không lâu sau đó những khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch”, “Cách Mạng Tháng 10 vĩ đại muôn năm”, v.v...suốt mấy chục năm được giăng đầy đường cùng với các lễ lạc hội hè đình đám kỷ niệm thật trọng thể Cách Mạng Tháng 10 đã âm thầm biến mất. Thế nhưng, ở đầu thập niên thứ 2 của thế kỷ 21, các lãnh đạo Việt Nam vẫn nhẫn tâm tiếp tục ra lệnh nhồi nhét chủ nghĩa Mác-Lê vào đầu thanh niên sinh viên; vẫn lạnh lùng xiềng bước tiến của đất nước bằng “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”; và vẫn nghiến răng bóp cổ cả dân tộc bằng “nhà nước chuyên chính”. ============= Tham khảo: 1. Minh Đức, “21 Điều Lệ để được gia nhập Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản”, http://minhduc7.blogspot.ca/2012/08... 2. Hoàng Lại Giang, “Đừng tiếc nuối những gì mà loài người đã loại bỏ đi!” http://anhbasam.wordpress.com/2011/... 3. Bùi Tín, “Mặt Thật”. 4. Blog Huỳnh Ngọc Chênh, “Dắt Tay Nhau Đi...” http://huynhngocchenh.blogspot.ca/p...
......

Dân chủ, bầu cử, và không khí chính trị

Cả thế giới nín thở theo dõi cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Thậm chí rất nhiều người trong số đó thiếu sự quan tâm thật sự với cuộc bầu cử ngay trên đất nước mình! Liệu đó có phải là điều kỳ lạ? Dân chủ và bầu cử Dân chủ, hiểu theo ý nghĩa nguyên thủy từ nơi mà khái niệm này được sinh ra – nhà nước Athens thế kỷ 4-5 trước Công nguyên – có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Từ dân chủ trong tiếng Việt là từ Hán Việt, có thể hiểu một cách đơn giản theo ý nghĩa chiết tự của nó là chủ quyền thuộc về nhân dân. Trong đời sống, chúng ta nôm na hóa nó thành “dân làm chủ”.Hầu như tất cả các chế độ xã hội trong lịch sử theo thế quyền đều tự cho mình là dân chủ. Vì ai nắm quyền lực cũng đều tự xưng rằng mình nắm quyền là chính đáng. Nếu không nhân danh thần quyền (nắm quyền theo ý Chúa hoặc ý Trời), thì tất nhiên là phải theo ý nguyện của nhân dân. Nhưng làm thế nào để quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, để dân thật sự làm chủ thì lại là cả một hệ thống triết lý và tổ chức chính trị. Trong hình thức lý tưởng, dân chủ nghĩa là tất cả mọi người cùng thảo luận, cùng biểu quyết để ra quyết định chung cho cộng đồng, chính là dân chủ trực tiếp. Nhưng trong thực tế nhân loại, “sân khấu” đông nhất để tụ họp chỉ có chừng 100 ngàn chỗ ngồi, là vài sân vận động lớn nhất thế giới chứ không phải là các quảng trường chính trị. Nếu các quảng trường có tới 100 ngàn chỗ có thể ngồi, thì đó chỉ là nơi tụ họp để biểu tình chứ không phải có chức năng thảo luận và biểu quyết, vì không thể tổ chức và điều phối cho 100 ngàn người cùng thảo luận. Lịch sử hiện đại lại không có vị thế cho quốc gia dưới 100 ngàn dân. Vì thế, dân chủ trực tiếp ở quy mô quốc gia là không tồn tại. Hình thức thay thế khả dĩ nhất là dân chủ gián tiếp hay dân chủ đại diện, ở đó, người dân bầu ra các đại biểu đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định chung cho cộng đồng. Đó là các dân biểu. Trong các chế độ theo mô hình Tổng thống như nước Mỹ, người dân còn trực tiếp bầu ra người đứng đầu cơ quan hành pháp. Các dân biểu sẽ thảo luận và ra quyết định về luật và chính sách. Trong các chế độ theo mô hình Nghị viện, các dân biểu còn bầu chọn ra người đứng đầu cơ quan hành pháp. Bầu cử và không khí chính trị Như vậy, bầu cử chính là hành vi quan trọng nhất trong một chế độ dân chủ. Vì nó là điểm mấu chốt cho việc người dân được làm chủ, trong mô hình dân chủ gián tiếp, khi người dân chọn ra những người đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định đời sống chung của cộng đồng. Nhưng tổ chức bầu cử như thế nào để người dân được lựa chọn đúng người mà họ muốn làm đại diện cho mình là việc quan trọng không kém. Thứ nhất, cuộc bầu cử phải bảo đảm rằng nó tạo cơ hội cho tất cả các ứng viên có ý nguyện đại diện và phục vụ cho cộng đồng. Một cuộc bầu cử phản dân chủ thì tìm cách loại những ứng viên tiềm năng bằng cách đặt thêm điều kiện, hoặc ngụy tạo các lý do để loại bỏ bớt ứng viên. Thường thì mọi sự sắp đặt loại bớt ứng viên đều có bàn tay của chính quyền đương nhiệm, vì con người có khuynh hướng níu kéo quyền lực. Để loại bỏ can thiệp của chính quyền đương nhiệm, cách duy nhất là phải có Ủy ban bầu cử độc lập. Thứ hai, cử tri phải biết ứng viên là ai. Không thể chỉ là hồ sơ khô khốc về học vị, tiểu sử chính trị, và chức vụ hiện tại. Chức vụ hiện tại đương nhiên là lợi thế cho các quan chức đương nhiệm. Hầu hết các nền dân chủ quy định bắt buộc ứng viên phải cư trú ở địa bàn tranh cử, và nhiều khi công khai cả tài sản, thu nhập, gia đình, bên cạnh quá trình công tác chính trị và cộng đồng. Đó vừa là cách để cử tri hiểu rõ ứng viên là ai, không chỉ trên phương diện chính trị mà cả trên phương diện con người – cơ sở của lòng tin vào ứng viên để lựa chọn. Thứ ba, khuynh hướng chính trị của ứng viên. Các đảng phái chính trị tự nó đã có các khuynh hướng chính trị, thông qua cương lĩnh. Cử tri không chỉ bầu cho ứng viên – con người cụ thể mà còn bầu cho chính đảng đó (điều này có thể khác ở những nơi một đảng nắm vai trò lãnh đạo, bởi họ không cần cạnh tranh). Thứ tư, dự án của ứng viên hoặc chính đảng. Đó là những mục tiêu, chương trình hành động của ứng viên hoặc chính đảng. Cử tri chỉ có thể lựa chọn đúng ứng viên đại diện cho mình khi mối quan tâm của cử tri chính là mục tiêu của các ứng viên. Và mục tiêu đó chỉ thuyết phục được cử tri khi nó có kế hoạch, có biện pháp để thực hiện một cách khả thi. Chính khuynh hướng và dự án chính trị làm cho bầu cử thoát khỏi ý nghĩa như là sự trình diễn hình ảnh nhân vật, hay cuộc thi diễn xuất trên sân khấu điện ảnh. Chúng ta vẫn hay nhìn nhận cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ như cuộc trình diễn của Hollywood, nhưng chưa từng có siêu sao điện ảnh nào đắc cử Tổng thống Mỹ. Chỉ có một người duy nhất từng là diễn viên, nhưng lại là diễn viên hạng hai. Cuộc thảo luận về các khuynh hướng, dự án chính trị chính là yếu tố làm nóng không khí chính trị của các xã hội dân chủ. Thông qua thảo luận, người dân hiểu rõ hơn về tổ chức chính trị, sự vận hành của hệ thống chính trị, về các đảng phái, về các ứng viên, về dự án và tính khả thi của dự án. Nếu bản thân người dân không hiểu, họ sẽ được “hỗ trợ” từ đối thủ chính trị của ứng viên. Vì khi cuộc bầu cử là cuộc cạnh tranh giữa các đảng phái, nếu một đảng chỉ ra điểm yếu của đối thủ thì đảng đó có thêm cơ hội thắng cử. Khi cử tri hiểu rõ những điều đó, lá phiếu của họ sẽ chính xác hơn. Tất nhiên, cuộc thảo luận đó không thể thiếu các cơ quan truyền thông. Nó không chỉ bộc lộ quan điểm của mình mà còn là diễn đàn để các bên thảo luận. Dù với vai trò nào, truyền thông có khả năng tác động tới kết quả bầu cử. Nếu truyền thông nằm trong tay chính phủ đương nhiệm, về nguyên tắc khó có một cuộc bầu cử công bằng. Một cuộc bầu cử đáp ứng đủ những yêu cầu trên đây cũng là một cuộc bầu cử tốn kém về thời gian và tiền bạc. Như cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ mới đây tiêu tốn tới 6 tỷ USD. Về bản chất, số tiền đó không mất đi, mà chỉ là sự luân chuyển giữa các thành phần của xã hội Mỹ. Đổi lại, nó giúp người dân Mỹ lựa chọn đúng ứng viên đáp ứng mong mỏi của mình trong một cuộc cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng viên. Đó là lý do mà các cuộc bầu cử ở Mỹ luôn được hâm nóng trong thời gian dài, được theo dõi sát sao trong thời gian bầu cử bởi ngay cả những cư dân ngoài nước Mỹ. Vì không ai biết trước ý chí của nhân dân, dù có vô số cuộc thăm dò xã hội học. Nó trái ngược với những cuộc “bầu cử” mà người chiến thắng, chính đảng chiến thắng được biết trước, thậm chí được sắp đặt trước, nên tất nhiên cũng xứng đáng được quan tâm hơn. Hồng Ngọc   http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/sukien/95938/dan-chu--bau-cu--va-khong-khi-chinh-tri.html  
......

Căng thẳng Biển Đông gia tăng, ngư dân hứng chịu

Việt Long, theo AFP 03.11.2012 “Bọn họ có súng. Họ chĩa súng buộc chúng tôi dồn ra phía mũi tàu, rồi lên tàu và bắt giữ chúng tôi.” Ông Trần Hiển nói. Ông là người bị bắt cùng với 10 ngư dân trên chiếc tàu cá hồi tháng 3 ở gần quần đảo Hoàng Sa, và bị giam 49 ngày. “Đứa con trai đầu lòng của tôi ra đời lúc tôi nằm trong nhà tù Trung Quốc.” Người thuyền trưởng 33 tuổi nói. Đảo Lý Sơn, Việt Nam – Lúc lính tuần duyên vũ trang của Trung Quốc phát hiện chiếc tàu cá bằng gỗ của ngư dân Trần Hiển trong hải phận tranh chấp, họ bắt ngay chiếc tàu, bắt đi toàn thể ngư dân trên tàu, tống giam thuyền trưởng Hiển.  Nhiều thế hệ người dân đảo Lý Sơn Việt Nam đã khinh thường bão tố cùng nhiều mối hiểm nguy khác để đem cho được cá về nhà, nhưng nay lại phải đấu tranh với lực lượng tuần duyên của Bắc Kinh phái tới để khẳng định tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của họ. Lướt sóng ra khơi với lòng yêu nước cùng với sự thôi thúc phải mạo hiểm thêm nữa trên những dặm khơi cho cá đầy thuyền, những hải đội ngư thuyền châu Á càng ngày càng tiến xa thêm ra tiền tuyến trên sóng nước của vùng biển Á Đông, với mối căng thẳng càng lúc càng tăng vì giành nhau chủ quyền lãnh hải. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã khởi sự tuần tiễu hung hăng quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong vòng tranhchấp ở biển Nam Trung Hoa, mà Việt Nam gọi là biển Đông. Trung Quốc sử dụng những tàu tuần cùng với lệnh cấm đánh bắt để rào chắn tàu kéo lưới của các nước khác từ bên ngoài vùng biển ấy. Đó là cáo buộc của các viên chức và ngư dân Việt Nam. “Bọn họ có súng. Họ chĩa súng buộc chúng tôi dồn ra phía mũi tàu, rồi lên tàu và bắt giữ chúng tôi.” Ông Trần Hiển nói. Ông là người bị bắt cùng với 10 ngư dân trên chiếc tàu cá hồi tháng 3 ở gần quần đảo Hoàng Sa, và bị giam 49 ngày. “Đứa con trai đầu lòng của tôi ra đời lúc tôi nằm trong nhà tù Trung Quốc.”Người thuyền trưởng 33 tuổi nói.“Họ lấy mất cả bộ lưới và dụng cụ định vị GPS của tôi. Nay thì tôi ngập trong nợ nần.” Câu chuyện của anh Hiển chẳng lạ lùng gì – anh và ngư phủ của anh bị bắt giữ cùng ngày với các ngư phủ của một tàu khác. Cả hai thuyền trưởng cùng bị đánh đập, và “không lúc nào có đủ thực phẩm để ăn uống” cho 21 người ngư phủ, anh Hiển nói. Hà Nội nói hằng trăm đoàn ngư dân của các tàu cá đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc bắt giữ gần Hoàng Sa và Trường Sa trong mấy năm gần đây. Khu vực cận duyên đã cạn kiệt vì đánh bắt quá mức, đoàn ngư dân gia tăng đông đảo hơn bao giờ hết của Lý Sơn – hòn đảo cách bờ biển Việt Nam 30 km –đành trông cậy vào những chuyến ra khơi đến những vùng đảo tranh chấp để hốt những mẻ lưới đầy cá cơm, cá ngừ, cá nục. Quân tốt đen trong trận chiến lãnh hải Hà Nội công bố “chủ quyền không thể tranh cãi” trên những chuỗi đảo mang tên địa phương là Trường Sa và Hoàng Sa, cách bờ biển Việt Nam và Trung Quốc mấy trăm km. Và Hà Nội dùng những ngư dân, ít nhất cũng là sử dụng gián tiếp, để xác định chủ quyền như đã công bố - bác bỏ mọi mưu đồ của Trung Quốc nhằm hạn chế những tàu lưới của Việt Nam, như lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm của Trung Quốc là một ví dụ. “Chính phủ ta khuyến khích chúng tôi đánh cá ở khu vực Hoàng Sa và Trường Sa vì ở đó có nhiều cá và cũng là khu vực đánh bắt của Việt Nam trong nhiều năm nay.” Ông Lê Khuẩn nói với AFP trong ngôi nhà nhỏ của ông trên đảo Lý Sơn. Các nước trong khu vực đều có chính sách khuyến khích đánh bắt xa bờ để làm giảm áp lực cạn tài nguyên nơi vùng cận duyên, đồng thời gia tăng sự hiện diện của họ trong vùng lãnh hải công bố, một nhân viên cao cấp về ngư nghiệp của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc nói. “Tất nhiên hoạt động trong vùng lãnh hải có tranh chấp nghĩa là phải chạm trán với các nước khác nhiều hơn” Ông Simon Funge-Smith nói với AFP thêm rằng việc đó cũng làm tăng thêm “áp lực đáng kể” lên khu dự trữ cá của thiên nhiên, đồng thời gia tăng cuộc cạnh tranh giữa những đoàn tàu cá thường là được các chính phủ tài trợ. Bắc Kinh đã xâm chiếm Hoàng sa, mà họ gọi là Tây Sa theo tiếng Trung Quốc, sau một trận chiến ngắn ngủi với Nam Việt Nam vào năm 1974 . Trung Quốc cũng giành thêm cả chủ quyền quần đảo Trường Sa, đồng thời Đài Loan, Malaysia, Philippines và Brunei cùng nhau giành chủ quyền một phần hay toàn phần quần đảo này. Bắc Kinh thì giành trọn vùng biển mà họ coi là lãnh hải lịch sử, bao gồm toàn bộ diện tích biển Đông. Khu vực này được xem là nơi tàng trữ những trữ lượng dầu khí khổng lồ, cũng là vị trí của những ngư trường quan trọng. Càng ngày càng thêm nhiều tàu ngư chính của Trung Quốc và ngư phủ của đủ mọi quốc tịch ngang dọc trong hải phận biển Đông. Mối căng thẳng về ngoại giao quanh những quần đảo tranh chấp ngày càng gia tăng. Giới quan sát cảnh báo sự leo thang có thể xảy ra. “Thực sự có nguy cơ… của một hành động quá đáng từ bất cứ bên nào trong hai phía – chẳng hạn như một tàu cá bị một tàu tuần bắn vào” Đó là lời chuyên viên an ninh hàng hải Sam Bateman thuộc Đại học kỹ thuật Nanyang của Singapore. Ông nói thêm “Cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đều trở nên có tinh thần quốc gia cao độ khi phản ứng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ họ công bố.” Tinh thần yêu nước tăng cao cũng sẽ khiến mỗi bên khó lùi bước, trong khi các chính phủ buộc lòng phải ăn miếng trả miếng, người chuyên viên nói thêm. Ngư dân Philippines cũng than phiền về sự hiếp đáp của những nhân viên Trung Quốc có vũ trang, ở gần đá Scarborough, khoảng 230 km từ bờ biển Philippines. Việc tranh giành chủ quyền đã bùng nổ thành tranh chấp lớn về ngoại giao vào tháng tư, khi Manila lên án ngư dân Trung Quốc đánh bắt những giống hải sản quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nơi này. Philippines toan bắt giữ những ngư dân này nhưng đã bị hai tàu ngư chính Trung Quốc chạy tới hiện trường ngăn cản. Và tháng trước, tuần duyên Nam Hàn cũng bắt giữ 23 ngư dân Trung Quốc ở biển Hoàng Hải sau một cuộc xung đột bằng võ lực khiến một ngư dân Trung Quốc thiệt mạng. Bị Trung Quốc bắt là điều đáng sợ nhất. Cộng đồng ngư dân nhỏ bé ở đảo Lý Sơn như bị trúng phải một cơn choáng khi thấy mình ở ngay trung tâm một vụ tranh chấp quốc tế, chỉ vì đánh bắt cá tôm ở những khu vực mà họ từng hành nghề trong bao nhiêu thế hệ đã qua. Một viên chức địa phưong nói với AFP. “Ngư dân nơi đây coi vùng đánh bắt Trường Sa và Hoàng Sa như vườn ruộng nhà mình.” Viên chức Phạm Hoàng Linh nói với AFP trong một cuộc phỏng vấn diễn ra tại một ngôi nhà chính phủ, màu sơn vàng đã tróc, toạ lạc trên hòn đảo, trong lúc loa phóng thanh oang oang một chưong trình tuyên truyền thường nhật của Hà Nội, mỗi ngày phát hai lần. Ông Linh nói bị Trung Quốc bắt là “nỗi sợ kinh hoàng nhất” của khoảng 3000 gia đình ngư dân trên đảo, vì không có thu nhập nhờ đánh được tôm cá- khoảng 100 đến 200 đô la cho mỗi người sau một chuyến ra khơi - nhiều gia đình đứng trước nguy cơ nghèo đói. “Chúng tôi gắng tập luyện cho ngư dân của mình tránh đụng chạm. Nhưng chúng tôi đang khai thác vùng đánh bắt cá của chính mình, nên không có lý do gì phải sợ hãi.” Ông Linh, cũng là dân Lý Sơn, nói với AFP như vậy. Nếu không tìm ra một giải pháp, có vẻ như không thể tránh khỏi những cuộc đối đầu thêm nữa khi người ngư dân Lý Sơn nói họ vẫn phải tiếp tục ra sức khai thác vùng biển tranh chấp. “Đó là nguồn thu nhập duy nhất của chúng tôi. Đó là lãnh thổ, lãnh hải của chúng tôi – chúng tôi sẽ bảo vệ chủ quyền, sẽ tiếp tục đánh bắt hải sản.” Ngư dân Lê Khuẩn kết luận.  
......

Bắc Kinh tiếp tục cản trở ‘Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Ðông’

Một ‘Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên biển Ðông’ để tránh xung đột võ trang sẽ không thể có nổi trong vòng một hai năm nữa. Theo lời của nhiều nhà ngoại giao và truyền thông quốc tế, thì cuộc họp ASEAN thảo luận về Bộ Quy Tắc Ứng Xử (Code Of Conduct - viết tắt là COC) đang diễn ra ở Pattaya, Thái Lan, không đem lại kết quả gì vì Trung Quốc dở trò cản trở . Ông Phạm Quang Vinh, thứ trưởng ngoại giao CSVN cho biết các nước ASEAN muốn thảo luận để tiến tới một bộ COC càng sớm càng tốt nhưng cả khối vấp phải sự chống đối kịch liệt của Bắc Kinh. Trung Quốc chống lại các đề nghị về một Bộ Quy Tắc Ứng Xử đa phương trên biển Ðông mà chỉ muốn thảo luận tay đôi với từng nước tranh chấp để dễ lấy thế nước lớn chèn ép. Nói với đài phát thanh Úc ABC, tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan nói rõ hơn. Ông cho rằng hy vọng ký kết một bộ COC vào kỳ họp thượng đỉnh ASEAN vào tháng 11 này là điều khó xảy đến. Mười năm trước, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký một Bản Tuyên Bố Ứng Xử (Declaration of Conduct) đồng ý tiến tới một bản quy ước ứng xử để tránh xung đột võ trang trên biển Ðông nhưng từ đó đến nay, COC vẫn chỉ thấy qua những lời kêu gọi, thúc giục của các nước nhỏ phía Nam trong khi Bắc Kinh thì tuyên bố chỉ thảo luận khi điều kiện “chín mùi”. Trên thực tế thì cản trở và gây chia rẽ nhưng với những lời tuyên bố ngoại giao, Bắc Kinh luôn mồm kêu gọi sớm có COC. Nhận định về thái độ của Bắc Kinh, ông Carl Thayer, chuyên viên về các vấn đề Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc cho rằng lập trường của Bắc Kinh sẽ không thay đổi cho tới khi Trung Quốc có lãnh tụ mới lên cầm quyền. Không một lãnh tụ nào của Bắc Kinh muốn thỏa hiệp gì vào lúc này vì như thế sẽ bị coi là yếu.
......

Trung Quốc bắt đầu tìm căn cứ cho "đường lưỡi bò" phi pháp

Hoàn Cầu thời báo ngày 24/10 đưa tin, một nhóm học giả Trung Quốc và Đài Loan sẽ tổ chức hội thảo nghiên cứu về cái gọi là “đường biên giới biển” và các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Trong một cuộc họp báo hôm thứ Ba 23.10, giới thiệu Báo cáo Biển Đông 2011, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải, ông Ngô Sĩ Tồn tuyên bố: “Nhiệm vụ quan trọng nhất bây giờ là bắt đầu nghiên cứu lý thuyết về đường chữ U, để đưa ra lời giải thích về mặt pháp lý cho cộng đồng quốc tế hiểu về đường chữ U trong vòng một năm cùng với thông tin hướng dẫn và các tuyên bố đáp lại những quan ngại của cộng đồng quốc tế.” Đường chữ U, đường "lưỡi bò" hay còn gọi là đường 9 đoạn này được Trung Quốc tự chế ra và ngang ngược  tuyên bố là “đường biên giới” xác định chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc trên gần như toàn bộ Biển Đông mà không dựa vào bất kỳ căn cứ pháp lý nào. Ngô Sĩ Tồn cũng cho rằng tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông là vấn đề mà cả Trung Quốc và Đài Loan có chung lợi ích. Báo cáo Biển Đông 2011 do hơn 10 học giả của cả Trung Quốc và Đài Loan soạn thảo ra kêu gọi hợp tác tích cực, thực tiễn và vững chắc giữa Trung Quốc và Đài Loan đối với các vấn đề Biển Đông nhằm đem lại lợi ích cho dân tộc Trung Hoa. Người đói khổ ở miền núi phía Bắc Việt Nam tăng vọt Theo Báo Người Lao Ðộng, sau 12 năm thực hiện Chương trình 135, bao gồm các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, “cải thiện và nâng cao mức sống người dân” để nhằm làm giảm số gia đình nghèo đói tại vùng núi phía Bắc, nhà nước CS Việt Nam đã không đạt được mục tiêu “giảm nghèo.” và người dân thiểu số ở các vùng núi miền Bắc vẫn sống trong tình trạng “cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm.” Các viên chức của Vụ Chính Sách Dân Tộc còn xác nhận rằng các vùng dân cư thiểu số tại xã Phú Mỡ thuộc huyện Ðồng Xuân, tỉnh Phú Yên; xã Trà Xinh thuộc huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi; xã Ngư Thủy Chung thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình... đã bị đói. Nhiều vùng khác như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai... cũng đã bắt đầu bị nạn đói đe dọa. Một viên chức của Vụ Chính Sách Dân Tộc thú nhận: “Nhiều thôn, nhiều bản một số xã thuộc tỉnh Cao Bằng không có đất sản xuất, thiếu cả nước tắm giặt. Người dân khổ đến mức tôi không biết dùng từ ngữ gì để diễn tả.” Liên quan đến sự thiếu đói của người dân, theo một tin khác cho biết, mặc dù Việt Nam đang dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo nhưng nạn thiếu đói vẫn xảy ra ở nhiều nơi trong mùa giáp hạt. Theo tin này, 11 huyện miền núi và trung du của tỉnh Quảng Nam đang có 50.000 hộ dân tương đương 200.000 nhân khẩu có nguy cơ thiếu đói. Những hộ dân này được cho biết là nằm trong khu vực có nguy cơ bị sạt lở và chia cắt, cô lập trong mùa mưa bão. Phải chăng vỡ đập thủy điện Đak Rông 3 là... kế hoạch của chủ đầu tư Báo Lao Động ngày 24.10.2012 đăng một bản tin, rằng Cty cổ phần thủy điện Trường Sơn - chủ đầu tư dự án thủy điện Đak Rông 3 (Quảng Trị) báo cáo với đoàn công tác của Cục Giám định - Bộ Xây dựng, là phần đập bị vỡ trôi hôm 7.10 không có trong bản vẽ thiết kế (!). Cùng với thông tin này là khẳng định việc “phá tường ngăn nước” là một trong những công việc “nằm trong kế hoạch của chủ đầu tư" đã và đang khiến cho dư luận ở địa phương mất niềm tin đối với công trình thủy điện hàng trăm tỉ đồng (vốn vay) ''treo'' trên dòng sông này. Bà Hồ Thị Hoa - Phó Chủ tịch UBND xã Tà Long, huyện Đak Rông, nơi có đập thủy điện Đak Rông 3 - nói: “Mưa rất to trong nhiều giờ liền đã khiến nước sông Đak Rông lên nhanh dữ dội. 13 hộ dân ở thôn Pa Hy của xã suýt chìm trong nước lòng hồ, nếu đập không vỡ. Trước đây, chủ đầu tư khảo sát nói tích nước không ảnh hưởng đến 13 hộ dân này, nhưng thực tế bây giờ ngăn đập xong, nước lên ngập hết đất đai, ao cá, hoa màu và còn có nguy cơ ngập cả nhà dân. Chủ đầu tư không bồi thường thiệt hại cho dân, không có kế hoạch di dời dân ra khỏi vùng ảnh hưởng lòng hồ. Xã nhiều lần mời họ đến làm việc, nhưng họ liên tục nói dối và coi thường dân. Sáng 7.10, mưa to, nước dâng cao, dân địa phương ai cũng thấy đập vỡ, nước xuống nhanh; thế mà Cty vẫn nói là Cty chủ động phá đập. Trước thông tin có trong báo cáo gửi UBND tỉnh QT rằng, một phần đập thủy điện Đak Rông 3 bị vỡ trôi hôm 7.10 là do chủ đầu tư tự phá, ông Trần Anh Tuấn – kỹ sư thủy lợi, Phó Văn phòng UBND tỉnh QT, người được Chủ tịch UBND tỉnh ủy quyền phát ngôn trong vụ vỡ đập thủy điện Đak Rông 3 - đã khẳng định: “Không thể nói rằng đập vỡ do tự phá được. Đập vỡ là do nước về mạnh hôm 7.10”.             Dư luận đang đặt ra nhiều nghi vấn về động cơ “phá đập nằm trong kế hoạch của chủ đầu tư”, đặc biệt khi đây là một công trình có mua bảo hiểm và chủ yếu sử dụng vốn vay và đồng thời, chủ đầu tư đã bán lại dự án cho một Cty khác.
......

Pages