Tội phạm người Trung Quốc xem Việt Nam là thiên đường để phạm tội

Le Anh Thời gian qua, truyền thông trong nước đưa tin liên quan đến nhiều sự kiện phạm tội do người Trung Quốc gây nên. Tình trạng phạm tội của người Trung Quốc ngày càng gia tăng đang làm cho nhiều người lo lắng. Chỉ trong vòng vài tháng trở lại đây, Việt Nam đã công bố về những đường dây phạm tội đã bị công an triệt phá. Những sự kiện dưới đây cho thấy tình trạng người Trung Quốc phạm tội tại Việt Nam đã đến mức báo động. - Tháng 4-2019, lực lượng chức năng Công an Nha Trang đã bắt 70 người Trung Quốc nghi dùng công nghệ cao để lừa đảo. Họ mạo danh nhà chức trách, điện thoại khống chế, đe dọa, ép buộc người khác chuyển tiền vào tài khoản của mình ... - 6/6/2019, tại Quảng Ninh, Tp Đà Nẵng và Khánh Hòa, lực lượng chức năng bắt quả tang 77 người Trung Quốc sử dụng công nghệ cao để tổ chức đánh bạc xuyên quốc gia tại 18 địa điểm. - 5/7/2019, một nhóm người Trung Quốc xăm trổ đầy mình cầm theo dao bản lớn xông vào khu vực karaoke của một tòa nhà tập trung đông du khách nhất ở Nha Trang và đã dẫn đến 1 người bị tử vong. - 28/7/2019, thông tin ban đầu từ cơ quan công an cho biết đã tạm giữ 380 đối tượng, đều là người Trung Quốc, tham gia điều hành các trang web, tổ chức cho chính công dân Trung Quốc đánh bạc trực tuyến, với các hình thức cá cược thể thao, dự đoán kết quả xổ số, lô đề … - 1/8/2019, 3 người Trung Quốc đã ra tay sát hại một tài xế taxi Việt Nam tại Lạng Sơn. - 26/8/2019, Công an tỉnh Quảng Ninh bắt giữ 28 người Trung Quốc phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng cùng nhiều tang vật liên quan. - 11/9/2019, một đường dây sản xuất ma túy được gọi là “cực lớn” do nhóm người Trung Quốc cầm đầu ở tỉnh Bình Định đã bị Công an Việt Nam triệt phá. Bốn người Trung Quốc liên quan đến đường dây này bị xử phạt hành chính về “hành vi cư trú bất hợp pháp với số tiền 95 triệu đồng”. Và mới đây, ngày 14 tháng Chín, 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng bắt khẩn cấp và tạm giam 5 người Trung Quốc và một người Việt Nam (phiên dịch) vì có hành vi lôi kéo các cô gái trẻ, trong đó có cô gái mới 15 tuổi, để quan hệ tình dục và quay clip sex bán trên mạng xã hội. Ngoài ra còn nhiều vụ khác liên quan đến đường dây ăn cắp đồ trên máy bay và đột nhập cướp tài sản doanh nghiệp … Trước các tình trạng tội phạm Trung Quốc ngày càng gia tăng không có điểm dừng, đã làm cho nhiều người lo lắng nghĩ rằng, những người Trung Quốc phạm tội tại Việt Nam không bị xử lý, nếu có bị xử phạt chỉ là rất nhẹ, điển hình là vụ người Trung Quốc sản xuất ma túy chỉ bị phạt hành chính 95 triệu. Hoặc trường hợp tệ nhất là bị dẫn độ về Trung Quốc. Chính vì thế, tội phạm Trung Quốc có thể xem Việt Nam là một trong những thiên đường để phạm tội mà không hề sợ hãi vì luật pháp Việt Nam lỏng lẻo, không rõ ràng về những trường hợp do người nước ngoài phạm tội. Một số chuyên gia về luật pháp nhận định rằng, hiệp ước dẫn độ Việt-Trung sẽ thu hút nhiều người Trung Quốc qua Việt Nam phạm tội. Việt Nam có nguy cơ trở thành điểm đến của tội phạm người Trung Quốc. “Để đảm bảo chủ quyền và luật pháp được thực hiện nghiêm minh thì tội phạm xảy ra trên đất nước Việt Nam cần phải được xử lý bằng pháp luật Việt Nam,” Theo Ls Hà Huy Sơn. Được biết, ngày 26 tháng Tám, 2019, Tân Hoa Xã của Trung Quốc loan tin về việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc, cơ quan lập pháp hàng đầu của Bắc Kinh đã phê chuẩn hiệp ước dẫn độ nghi phạm với Việt Nam. Lê Ánh
......

Tuyên bố mới về Chương Trình TRI ÂN TPB-VNCH

Kính thưa quý ông bà TPB-VNCH cùng quý vị ân Nhân đã từng trợ giúp Chương Trình TRI ÂN TPB-VNCH, Chúng tôi là các tu sĩ, linh mục DCCT cộng đoàn Cần Thạnh, Nhà Cần Giờ. Chúng tôi xác tín lẽ sống của đời mình là những lời này của Chúa Giê-su Ki-tô: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức.” (Lc 4,18) và “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất đây, là các ngươi không làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40) Trong tinh thần và mục tiêu phát triển con người toàn diện của Giáo Hội Công Giáo toàn cầu, chúng tôi muốn tiếp tục lựa chọn tinh thần TRI ÂN đối với TPB-VNCH, vì chúng tôi nghĩ rằng sự đồng hành của chúng tôi bên cạnh quý vị không chỉ là một việc trợ giúp về mặt vật chất, mà còn muốn nói với mọi người, ít nhất là với những ai đã từng thụ hưởng hoạt động phụng sự của quý vị, rằng chúng tôi BIẾT ƠN quý vị, vì quý vị đã gìn giữ hòa bình và an ninh cho chúng tôi đến mức độ hy sinh một phần thân thể. Tinh thần biết ơn đầy nhân văn và đề cao nhân phẩm, cần được giáo dục cho các thế hệ trẻ, nhằm sửa chữa phần nào nền giáo dục suy đồi hiện nay. Cụ thể, với Tuyên bố này, chúng tôi bắt đầu Chương trình trợ giúp quý ông bà TPB-VNCH. Bởi vì chúng tôi nghĩ rằng: 1/ Đây là một trong những cách thức để chúng tôi sống sứ vụ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế, theo đặc sủng của Thánh Tổ An-phong-sô, Đấng Sáng Lập DCCT. Đó là loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho những người nghèo bị bỏ rơi hơn cả. 2/ Chúng tôi nhận ra quý ông bà TPB-VNCH chính là hiện thân của Đức Ki-tô nghèo khó vốn là cùng đích tối hậu của sứ vụ chúng tôi. Quý vị đã bị loại trừ, bị bỏ rơi, bị khinh khi một cách bất công và phi nhân suốt bốn mươi bốn năm qua. Và hơn nữa, thời gian còn lại của quý vị trên cõi đời này không còn nhiều. Mỗi năm qua đi, càng có nhiều ông bà rời bỏ chúng tôi để về với Chúa. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tiếp nhận và phục vụ quý ông bà TPB-VNCH sinh sống ngoài vùng Sài Gòn. Quý vị thuộc vùng Sài Gòn, xin vui lòng liên lạc với quý cha DCCT Sài Gòn. Quý vị ân nhân nào muốn cùng chúng tôi trợ giúp các ông bà TPB-VNCH theo tinh thần Tri ân TPB-VNCH, xin liên lạc với linh mục Giu-se Trương Hoàng Vũ. Xin Thiên Chúa chúc lành và ban bình an cho quý vị cùng toàn thể gia quyến. Sài Gòn, ngày 19 tháng 09 năm 2019 TM. Cộng Đoàn Ký tên Giuse Hồ Đắc Tâm --- NB.: Lm. Giuse Trương Hoàng Vũ SĐT: 093 200 8601 ĐC: Nhà thờ Cần Giờ, số 183/2 Đào Cử, TT. Cần Thạnh, H. Cần Giờ, Tp. HCM. Con cảm ơn quý cha đã tiếp tục công việc này. Chúng ta hãy cùng đồng hành và tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa.  
......

Các báo lớn ở Việt Nam ‘né’ tin Joshua Wong điều trần trước Quốc Hội Mỹ

Bản tin trên báo điện tử Một Thế Giới. (Hình chụp qua màn hình) SÀI GÒN, Việt Nam (NV)| Nếu chỉ theo dõi các báo lớn ở Việt Nam hôm 18 Tháng Chín mà không đọc các báo tiếng Việt ở hải ngoại, người đọc trong nước sẽ không biết đến sự kiện Joshua Wong, lãnh đạo phong trào Dù Vàng, tổng thư ký đảng Demosito, vừa điều trần trước Quốc Hội Mỹ vào nửa đêm (giờ Việt Nam). Đây là sự kiện mà tất cả các hãng truyền thông uy tín hàng đầu của thế giới như CNN, BBC, Reuters, RFA, AFP, AP… đều tường thuật cặn kẽ, thậm chí phát video trực tiếp để người đọc tiện theo dõi và bình luận. Theo tìm hiểu của Người Việt, gần như chỉ có báo Phụ Nữ TP.HCM hôm 18 Tháng Chín đăng bài “Hoàng Chí Phong [Joshua Wong] điều trần trước Quốc Hội Mỹ” với nội dung: “Hoàng Chi Phong, người đã trở thành gương mặt đại diện của các cuộc biểu tình, nói: “Bắc Kinh không nên chiếm lấy cả hai ưu thế, gặt hái tất cả những lợi ích kinh tế của Hồng Kông trên thế giới trong khi xóa bỏ bản sắc xã hội chính trị của chúng tôi. Như tôi đã nói, Hồng Kông đang đứng trước một thời điểm quan trọng. Mối đe dọa chưa bao giờ cao như thế.” Hoàng Chí Phong bày tỏ lo ngại rằng Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có thể quyết định hành động mạnh mẽ hơn trước lễ kỷ niệm 70 năm Quốc khánh Trung Quốc vào ngày 1 Tháng Mười. “Việc Bắc Kinh gửi binh đoàn xe tăng đến thành phố thiếu cơ sở thuyết phục, nhưng không gì là không thể,” tờ báo của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ thành phố ở Sài Gòn dẫn lời anh Joshua Wong. Bản tin trên báo Phụ Nữ TP.HCM hôm 18 Tháng Chín. (Hình chụp qua màn hình) Bài báo của Phụ Nữ TP.HCM được cho là “can đảm” trong bối cảnh các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Zing, Người Lao Động, Pháp Luật TP.HCM, VietnamNet… đều chọn cách né tránh đăng tin về sự kiện “nhạy cảm, có thể khiến nhà cầm quyền Trung Cộng” phật ý như thế này. Ngay cả tờ báo điện tử VnExpress, vốn luôn miêu tả Joshua Wong một cách xách mé là “thủ lĩnh ô dù Hồng Kông” cũng không cập nhật tin Joshua Wong điều trần trước Quốc Hội Mỹ, dù trước đó liên tục đưa tin về việc anh này bị bắt rồi được thả… Như vậy có thể thấy, trong bối cảnh Việt Nam và Trung Cộng đang xảy ra căng thẳng ở bãi Tư Chính, các báo nhà nước tuy được “bật đèn xanh” lên án các hành vi của Trung Cộng ở Biển Đông, nhưng cũng nhận lệnh “im tiếng” về sự kiện anh Joshua Wong điều trần trước Quốc Hội Mỹ. Đáng lưu ý, tám ngày trước, khi anh Joshua Wong đến Đức gặp ông Heiko Maas, ngoại trưởng nước này, để vận động sự ủng hộ của phương Tây đối với công cuộc đấu tranh vì dân chủ của người biểu tình Hồng Kông, các báo như Tiền Phong chỉ đưa tin theo kiểu: “Bộ Ngoại Giao Trung Quốc gửi phản đối mạnh mẽ đến Đức vì cuộc gặp giữa ngoại trưởng Đức với một nhà hoạt động Hồng Kông”. Quan điểm đưa tin về Joshua Wong và biểu tình ở Hồng Kông của các báo nhà nước ở Việt Nam được ghi nhận hoàn toàn “nhất quán” với chủ trương của Thông Tấn Xã Việt Nam. Trong các bản tin gần nhất về chuyện người dân Hương Cảng xuống đường phản đối nhà cầm quyền CSTQ và dự luật Dẫn Độ, Thông Tấn Xã Việt Nam đều mô tả: “Mặc dù cuộc biểu tình đã bị cảnh sát từ chối cấp phép, nhưng những người biểu tình vẫn ra đường tuần hành và có những hành động quá khích khiến đặc khu này tiếp tục phải hứng chịu những ảnh hưởng nặng nề.” (T.K.)  
......

Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF) gặp gỡ HĐLT Việt Nam

Sáng nay 18.9.2019, Đoàn Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF) gặp gỡ HĐLT Việt Nam tại Chùa Giác Hoa, Sài Gòn. Paul Loc| Trong phần trình bày tôi có nêu lên một số vấn đề: - Tự do tôn giáo cho các tù nhân, các linh mục được thăm gặp và làm mục vụ cho các tù nhân... - Nhà cầm quyền can thiệp quá sâu việc bổ nhiệm các chức sắc (cụ thể là bổ nhiệm các giám mục, thuyên chuyển các chức sắc ...), can thiệp vào những sinh hoạt tôn giáo... - Hạn chế, sách nhiễu việc đi lại của các linh mục dấn thân cho công lý và hoà bình... - Tôn giáo vẫn chưa chính thức được tự do tham gia vào lãnh vực giáo dục, y tế... - Tài sản Giáo hội bị nhà cầm quyền chiếm dụng, sử dụng không đúng mục đích... HĐLT cũng đưa ra những đề nghị với chính phủ Mỹ thông qua USCIRF: -Thường xuyên theo dõi tình hình nhân quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam,và việc viện trợ, giúp đỡ một chế độ bất chính và bất công như thế cần được cân nhắc hết sức cẩn thận nếu không sẽ trở thành tiếp sức cho sự độc tài và tàn ác. -Đề nghị Chánh Phủ Hoa Kỳ cần đặt điều kiện về nhân quyền khi bang giao với Việt Nam dù trên phương diện kinh tế, văn hóa, thương mại, quân sự . . . và cần đưa ra biện pháp chế tài khi nhà nước VN có những vi phạm về nhân quyền liên tục và nghiêm trọng. -Đề nghị Chánh Phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách CPC, các quốc gia được quan tâm đặc biệt vì vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo có hệ thống, cần áp dụng Đạo Luật Nhân Quyền Toàn Cầu Magnitsky và dự luật Nhân Quyền cho Việt Nam , ngõ hầu chế tài, răn đe giới cầm quyền tại VN vốn liên tục áp bức công dân, các tổ chức tôn giáo độc lập để tước đoạt tài sản của họ rồi tìm cách chạy sang các nước phương Tây để an nhàn hưởng thụ. -Đề nghị Chánh Phủ Hoa Kỳ đòi hỏi nhà cầm quyền VN phải trả tự do vô điều kiện các tù nhân lương tâm. Bãi bỏ và sửa đổi Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, Luật An Ninh Mạng và Luật Tín Ngưỡng cho phù hợp với các công ước quốc tế về quyền Dân Sự và Chính Trị. Sửa đổi Luật Lao Động để các công đoàn độc lập được thành lập và hoạt động.” Paul Lộc
......

Kẻ cướp trong giáo dục.

Luân Lê Tình trạng dưới đây chính là sự mô tả xác đáng nhất cho hành vi cưỡng bức trong giáo dục và nó là hành động của những kẻ vô giáo dục. Nếu vấn nạn thành tích (điểm chác, giải thưởng, các chương trình thi đua...); học thêm; sự giả dối hay bạo lực học đường; phụ thu các khoản quỹ; chạy chọt chuyển trường; quà cáp biếu xén vào các dịp; thì việc buộc phải thực hiện chi trả hoặc là không được thụ hưởng các lợi ích nào đó như là một điều kiện đi kèm (gộp vào) chính là một hành vi bóc lột có tính cướp đoạt. Gia đình học sinh có thể kiện nhà trường về mặt dân sự và tố cáo về mặt hành chính để có thể giải quyết triệt để từ đó ngăn chặn các hành vi lưu manh kiểu này tái diễn trong môi trường giáo dục. Giáo dục lúc nào cũng giương cao ngọn cờ nhân bản và văn minh, vì người học và sự phát triển toàn diện, nhưng trái lại, nó tìm đủ mọi cách để thu vén sao cho nhiều nhất lợi ích về cho mình và sẵn sàng quay mặt như một sự ngược đãi người học cũng như người đóng tiền duy trì sự tồn tại của chính họ. Sau khi tát, bắt quỳ hàng loạt học sinh; buộc uống nước giặt giẻ lau bảng; nhiều kẻ dâm ô liên tiếp nhiều học trò và ở nhiều nơi; phụ thu hoặc ăn chặn chế độ; trao quà bằng hộp rỗng; bắt học sinh mua sách giáo khoa từng năm vì phải viết vào đó; đang chơi ở cổng trường hay ngồi trong lớp bị sập trần hay đổ cổng tử vong; tan học về dây diện rơi làm mất mạng; không có trường để đi học hay không có cầu, đường, phương tiện để đến trường; đi chơi hay tắm sông, hồ rồi cũng chết đuối...giờ là việc buộc phải uống sữa, nếu không sẽ không có cơ hội để ăn những miếng cơm đắng chát mà cha mẹ phải còm cõi bỏ tiền ra mà phải rất đúng hạn nếu không con cái sẽ bị đuổi học ngay tắp lự.
......

Việt Nam không thể chống tham nhũng nếu không có tự do và minh bạch

[ S ] – FB Việt Tân| Đoàn 36 cán bộ cấp vụ của Việt Nam sẽ sang Trung Quốc học tập chống tham nhũng từ ngày 5 – 14 tháng Mười Một, 2019, theo kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng Sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020. Cho đến nay, chiến dịch chống tham nhũng ở Trung Quốc đã diễn ra được hơn 7 năm. Mặc dù Trung Quốc luôn tuyên bố rằng chiến dịch chống này đã mang lại thành công vượt trội, nhưng tình trạng tham nhũng tại đất nước này vẫn hết sức nghiêm trọng. Trong bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perceptions Index – CPI) mới nhất, tháng Giêng, 2019 do Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International – TI) thực hiện, Trung Quốc đã tụt đến 10 hạng từ 77 xuống còn 87/180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cần phải nhìn nhận thẳng thắn rằng tham nhũng được sinh ra bởi cơ chế thiếu minh bạch, và được dung dưỡng bởi một nền tư pháp không độc lập và một nền báo chí không có tự do. Bản thân Trung Quốc được quản lý bởi một thể chế độc tài, guồng máy nhà nước của họ hội tụ đủ các điều kiện cần để tham nhũng phát triển, cho nên dù có tử hình bao nhiêu quan chức đi nữa, tham nhũng vẫn cứ tồn tại và liên tục sinh sôi nảy nở. Bởi thế, nói một cách thẳng thắn là chính quyền Việt Nam không thể chống tham nhũng hiệu quả nếu chỉ học Trung Quốc. Và càng không thể chống tham nhũng nếu cứ giữ nguyên thể chế như hiện nay. Muốn diệt trừ được tham nhũng cần xây dựng một nền tư pháp độc lập để tạo ra sức mạnh răn đe, phải có tự do báo chí để gia tăng khả năng giám sát của xã hội. Đặc biệt, quan trọng nhất phải thay đổi cơ cấu của nhà nước theo hướng minh bạch hóa thông tin. [ S ] – FB Việt Tân Chống tham nhũng chỉ là màn kịch Lò ông Trọng dùng để đốt loại “củi” nào?  
......

Các quốc gia A! Châu hũy họp đồng và từ chối dự án Trung quốc, chỉ ngoại trừ Việt Nam

[ LA ] – FB Việt Tân “Một vành đai, một con đường” là một sáng kiến của Trung Quốc đang muốn thực hiện với mục đích giúp giải quyết một số bài toán kinh tế hiện nay của Trung Quốc. Họ đang tiến hành bỏ vốn vào đầu tư ở một số quốc gia châu Á vì đang trong trạng thái thiếu vốn trầm trọng tại những cơ sở hạ tầng. Trong thời gian qua, Trung Quốc đã liên tục thắng thầu các công trình hàng tỷ USD ở khắp châu Á và cả thế giới, Tuy nhiên, nhiều Quốc gia Á châu hàng loạt đã và đang bị hủy bỏ các hợp đồng và từ chối các dự án cho Trung Quốc dính vào. Vì cho rằng sáng kiến “Vành đai, một con đường” là một cái bẫy do Trung Quốc đang giăng ra. Ông Rex Tillerson, Ngoại trưởng Mỹ, cảnh báo rằng khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương có thể trở thành nạn nhân của “kinh tế kẻ cướp” (predatory economics) của Trung Quốc. Ông nói các hành động của Trung Quốc "làm cho các quốc gia trong khu vực sẽ phải gánh chịu số nợ khổng lồ." Theo một số thông tin ngoại quốc cho biết: - Malaysia: Hủy 3 dự án trị giá 22 tỷ USD giữa Malaysia và Trung Quốc, gồm một dự án đường sắt dài 688km nối bờ biển phía đông của Malaysia với miền nam Thái Lan và Kuala Lumpur (ECRL) và 2 dự án đường ống dẫn khí đốt. Pakistan: Hủy dự án xây dựng đập thủy điện Diamer-Bhasha trị giá 14 tỷ USD với Trung Quốc - Nepal: Tuyên bố hủy dự án thủy điện Budhi Gandaki trị giá 2,5 tỷ USD, một dự án được chỉ định thầu cho một công ty thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc. - Bangladesh: Hủy bỏ dự án cảng nước sâu Sonadia do Trung Quốc đề xuất với lý do thiếu tính khả thi thương mại, nhưng lại để Nhật Bản phát triển cảng Matarbari cách đó chỉ 25 km. - Thái Lan: Hủy bỏ một dự án đường sắt 870km ký với Trung Quốc do bất đồng về vấn đề tài chính, rồi quyết định tự đầu tư. - Indonesia cũng yêu cầu các nhà đầu tư Trung Quốc tạm dừng một dự án đường sắt vì không đủ giấy tờ. Philippines: Gần đây cũng hủy dự án sòng bạc 1,5 tỷ USD vốn từ Trung Quốc chỉ vài phút sau lễ động thổ, vì cho rằng khoản tiền thuê không hợp lý khiến Manila gặp bất lợi. Trên thế giới, tình trạng tương tự cũng xảy ra. Năm 2014, Mexico chấp nhận đền 1,3 tỷ USD cho Trung Quốc để hủy hợp đồng thi công đường sắt cao tốc đầu tiên. Mỹ hủy hợp đồng xây dựng đường sắt cao tốc xuyên Mỹ 12 tỷ USD vì không tin tưởng chất lượng "Made in China". Anh Quốc ngừng phê chuẩn dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point do lo ngại về vấn đề an ninh quốc gia khi dự án có nguồn đầu tư từ Trung Quốc. Sri Lanka là nước sớm phải trả giá cho các dự án liên quan đến Trung Quốc. Năm 2017, chính phủ Sri Lanka khi buộc phải giao một cảng của Trung Quốc xây dựng tại Sri Lanka cho người Trung Quốc sau khi không thể trả được nợ. Trong khi nhiều Quốc gia tại Á Châu và thế giới đã đồng loạt hủy bỏ và từ chối các dự án đầu tư với Trung Quốc thì Việt Nam nhất quyết không từ bỏ, vẫn đối xử với nước anh em vô cùng tốt, đã tạo điều kiện và cơ hội cho các nhà thầu Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam, bất chấp dư luận phản đối và cảnh báo hiểm họa liên quan đến vấn đề an ninh Quốc gia, trong đó có dự án được nhiều người dân Việt Nam quan tâm nhất hiện nay là “dự án cao tốc Bắc – Nam” Mới đây, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Ngọc Đông cho biết có kết quả sơ tuyển thầu cao tốc Bắc-Nam nhưng đây là tài liệu mật, không thể công bố. Cách làm việc mập mờ của Bộ GTVT đã làm cho nhiều người nghi ngờ, có phải Trung Quốc đã trúng thầu trong kỳ sơ tuyển?    
......

Việt Nam – Hong Kong và “ung thư thể chế”

Võ Thị Hảo -  RFA| Việt Nam: Khủng hoảng toàn diện Việt Nam đang ở trong tình thế nguy ngập. Đất nước lâm vào khủng hoảng, bị đe dọa trên các mặt chủ quyền lãnh hải và lãnh thổ, chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh nội bộ và ngoại giao. Nguyên do là thể chế độc tài toàn trị này qua chặng đường 74 năm vận hành đã ngày càng làm nở rộng những tử huyệt của nó. Hệ thống điều hành “cỗ máy” chạy giật lùi đó đã lộ nguyên hình. Đa số quan chức chỉ là những kẻ dùng quyền lực chính trị để trộm cướp công quỹ và mồ hôi xương máu của dân Việt Nam làm của riêng. Lòng tham của họ là vô đáy và đất nước nhung nhúc những kẻ vẫn tiếp tục cướp bóc ngày càng tham tàn. Theo truyền thông Việt Nam đưa tin, một chữ ký của bộ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông – lĩnh vực được cho là nghèo nhất, thì ông ta đã nhận được hơn 3 triệu USD tiền hối lộ. Giám đốc MobiFone cũng nhận được hơn một triệu USD… Vậy trong vô số  vụ chỉ định thầu cho Trung Quốc, hoặc mua sắm thiết bị máy móc, những vụ tăng vốn đầu tư hàng chục, thậm chí trăm lần thì số tiền hối lộ, tham nhũng của  quan chức Việt Nam còn tới cỡ nào? Phải chăng hệ thống cầm quyền và quan chức tham nhũng Việt Nam hiện nay có thể xếp vào hàng bẩn thỉu, đáng ghê tởm nhất thế giới?! Một hiểm họa khác mà công luận đã tố cáo: khi sức dân và tài nguyên đã cạn kiệt, nhiều kẻ trong bộ máy này đã “xẻo” từng mảng chủ quyền đất nước trên nhiều lĩnh vực ra ra bán để thu lợi riêng. Bán để được Trung Quốc (TQ) hậu thuẫn cho ghế quyền lực để tiếp tục tham tàn và tránh sự trừng phạt của công lý. Vùng đặc quyền kinh tế trên lãnh hải của VN thực sự đang diễn ra cuộc xâm lược của TQ. Gần đây nhất, hỗ trợ cho  sự xâm phạm của tàu Hải Dương 8 và các tàu hải cảnh TQ trang bị vũ khí, tàu cẩu chở giàn khoan được cho là lớn nhất thế giới mang tên Lam Kình của TQ cùng nhiều tàu hộ tống đã  hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của VN, gần tỉnh Quảng Ngãi, chỉ cách đường cơ sở của Việt Nam 11 hải lý. Hải trình lắt léo của tàu này là rất đáng ngờ và không ai chắc chắn rằng nó không đang lắp đặt giàn khoan gần dự án Mỏ Cá Voi Xanh mà VN đang hợp tác cùng một công ty của Mỹ khai thác hay không. Không ai tưởng tượng nổi là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, Chủ tịch QH, Thủ tướng, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an… – những người phải có trách nhiệm lên tiếng và hành động đầu tiên để bảo vệ đất nước, lại đã làm như không hề biết đến những hành vi xâm lược và phá hoại của TQ.  Phản ứng yếu ớt qua miệng của người phát ngôn Bộ ngoại giao đưa ra một cách mờ nhạt, ít ỏi và miễn cưỡng, thường là do nhà báo quốc tế chất vấn, đương nhiên rất ít tác dụng khi những người đứng đầu không ra tuyên bố. Mở cửa cho  Việt Nam thành lãnh địa của ma túy: Trên đất liền, nhà cầm quyền đã  mở toang cửa khẩu và cho đồng Nhân dân tệ lưu hành trên đất Việt Nam. Hậu quả của việc này là VN gần như là lãnh địa của TQ, an ninh kinh tế thương mại của VN bị tổn hại không thể đo đếm. Bên cạnh đó, hệ thống sản xuất, tàng trữ, chuyên chở và  buôn bán ma túy của TQ tha hồ tung tác trên đất VN. Bọn tội phạm đến từ TQ đã được nhà quản lý  nghênh tiếp, ngầm cam kết không trừng trị vì khi chúng phạm tội lại trả chúng về TQ và chúng không dại gì mà không quay trở lại tiếp tục gây hại bởi sự ưu tiên vô đối ấy. Chúng đã thừa cơ hội biến VN thành căn cứ địa ém quân vào những chỗ hiểm yếu, thỏa sức tàn phá gieo rắc độc hại tàn phá môi trường, tha hồ bán hàng đa cấp, lừa đảo, cờ gian bạc lận, thậm chí bắt cóc, mua người để mổ bán nội tạng, biến VN là nơi chứa chấp, trung chuyển và sản xuất hàng chục tấn ma túy… Việt Nam ngày nay đã bị biến thành thế giới tội phạm, nơi người VN sống trong khắc khoải lo âu trước tương lai mà thế hệ trẻ có thế bị biến thành những kẻ “ngáo đá”, những “xác sống” ma túy và chúng có thể hại người, trước hết là người thân, bất cứ lúc nào. Liên tục xuất hiện những kẻ giết người, thậm chí giết người hàng loạt, đến mức người trong nhà chỉ vì mâu thuẫn nhỏ cũng thản nhiên thảm sát nhau theo kiểu “giết sạch”. Người yêu nước bị nhà cầm quyền coi là kẻ thù: Trong khi mở toang cửa cho Trung Quốc, coi kẻ xâm lăng và lũ tội phạm là “bạn vàng”, nhà cầm quyền Việt Nam lại chĩa “họng súng” vào nhân dân của mình – những người yêu nước và quy cho họ tội “phản động”, “lợi dụng dân chủ để chống phá””… Không một lời lên tiếng phản đối TQ, nhưng những người đứng đầu hệ thống thường xuyên tuyên bố và thúc đẩy lực lượng trấn áp cùng ngành tuyên giáo, truyền thông… dùng mọi biện pháp và dốc toàn lực chống “diễn biến hòa bình”… Họ lấy tiền thuế của dân để khủng bố, đánh đập, vu cáo, bỏ tù những người dám lên tiếng vì công lý và nhân quyền, những người dám kêu oan, dám phát hiện lạm quyền và tham nhũng, dám bảo vệ chủ quyền đất nước. Coi dân như kẻ thù, họ kết tội những người yêu nước là “bọn phản động”, thành lập những “đội Cờ đỏ” dùng thủ đoạn Hồng vệ binh TQ tàn nhẫn để đấu tố, khủng bố họ. Việt Nam, Hong Kong và chặng đường “ung thư thể chế”: Việc chống tham nhũng do ông Nguyễn Phú Trọng khởi động và điều hành đã có tác dụng ban đầu. Chiến dịch này được ví như một cuộc thanh trừng nội bộ, đã đưa ra được một số “ma cà rồng” tham nhũng kếch xù thuộc phe nhóm của “các đồng chí khác đã mất quyền lực” ra tòa. Đưa được càng nhiều “ma cà rồng” ra ánh sáng càng tốt. Điều nguy hiểm là những “con ma” kếch xù nhất trong các lĩnh vực trọng yếu thì đến giờ này vẫn an yên tận hưởng mọi quyền lợi và địa vị của chúng dưới sự bảo vệ của phe nhóm đang thắng thế. Số quan chức được thay thế đã sâu rộng từ trung ương tới địa phương. Chưa có gì đảm bảo rằng những quan chức được chỉ định thay thế đó lại không thuộc một phe nhóm nô lệ cho TQ, không đe dọa nền an ninh quốc gia và khi thể chế độc quyền toàn trị này còn tồn tại, đương nhiên sẽ tiếp tục đẻ ra những ”ma cà rồng” tham nhũng và phản bội dân để bảo vệ quyền lợi cho TQ. Thực tế 74 năm qua cho thấy, sự liều lĩnh ở CS cầm quyền thế hệ sau càng được khuyếch đại, bạo tàn hơn thế hệ trước nhiều lần. Với vị thế địa chính trị  hiểm yếu và là nơi giao thoa của nhiều luồng quyền lợi – quyền lực gần như đối lập nhau trên thế giới, Việt Nam chỉ cần dùng con đường ngoại giao, đương nhiên trước đó phải thay đổi thể chế chính trị sang dân chủ đa nguyên, trả lại tự do và nhân quyền cho người dân theo đúng Hiến pháp, đủ tin cậy để thành đồng minh của Mỹ và các nước khối NATO thì TQ sẽ  phải chùn bước, lễ độ rút về bên kia biên giới. Bởi khi đó, lực lượng quân sự và ngoại giao bảo vệ cho Việt Nam là rất lớn, như Nhật Bản và nhiều nước đồng minh của Mỹ đang được bảo vệ. Ngay cả  những nước ở vùng châu Á đang bị TQ bắt nạt đương nhiên cũng sẽ ủng hộ VN khi VN đứng lên và chứng tỏ được sự độc lập của mình. Như thế, Việt Nam không cần đến súng đạn và xương máu mà vẫn thoát được các hiểm họa kể trên. Về kinh tế, văn hóa, giáo dục, công nghệ… đương nhiên sẽ được nhiều nước đồng minh giúp đỡ tăng trưởng nhanh chóng và vững mạnh. Lối ra khỏi khủng hoảng và thảm họa cho Việt Nam tưởng rằng khó, nhưng thực ra  đã bày sẵn từ cả thế kỷ. Tương lai hứa hẹn  đã rực rỡ mời gọi không phải cuối chân trời, mà ngay trên Biển Đông, trước biển xanh màu ngọc bích và những vầng đảo tuyệt đẹp của Tổ quốc Việt Nam. Bức tường ngăn trở dân Việt Nam chạm tay  tới tương lai chính là nhà cầm quyền. Họ đã thiết kế một thể chế mà càng đi thì càng ngược lại với người dân. Để tha hồ tung tác, họ biến dân thành kẻ thù phải triệt hạ nếu dân không ngoan ngoãn nghe theo lời họ. Họ đã dựng nên một bức tường khổng lồ chặn mọi hy vọng của người Việt Nam. Cũng như bức tường Berlin, bức tường này cần phải dỡ  bỏ. Con đường mà nhà cầm quyền Việt Nam đang đi là một đoạn trong chặng cuối của cái chết do “ung thư” thể chế. Trung Quốc cũng không thoát khỏi căn bệnh chết chóc phát ra từ nội tạng thể chế này. Hẳn rằng có một số người trong hệ thống cầm quyền hiểu được điều đó và đang tìm cách thay đổi nhưng họ đang bị đồng chí của họ rình mò tận diệt mỗi giờ mỗi phút nếu họ động thủ. Nhưng nếu những người dám thay đổi ấy có tài năng và cao tay, họ sẽ lật ngược được tình thế. Một cuộc cách mạng từ bàn tay có quyền lực lớn từ trong thể chế là điều lý tưởng, đỡ tổn hại máu xương của dân chúng và xã hội sẽ mau lấy lại bình ổn để phát triển. Thể chế độc tài toàn trị CS đang tự phân hủy nhưng quá trình chết của nó cũng kéo theo vô số xác chết của người dân. Những người hiện đang đấu tranh cho việc thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam luôn hướng tới một sự thay đổi mang tính văn minh, bao dung và hòa bình, như cách của Cộng Hòa Liên Bang Đức đã làm với Cộng Hòa Dân Chủ Đức sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Phàm là con người và nếu không cố tình vô cảm hoặc phản dân hại nước, ai cũng cần phải cố gắng, góp sức cho việc thay đổi thể chế chính trị sang dân chủ, đa nguyên để cứu mình và để cứu nước. Hàng triệu người Hong Kong hiện nay còn có tự do hơn rất nhiều so với người Việt Nam. Nhưng quá kinh sợ trước sự tàn nhẫn của thể chế CS, người Hong Kong thà chịu chết  dưới họng súng của nhà cầm quyền TQ, còn hơn là để bị tước đoạt tự do và nhân quyền, để đất nước xinh đẹp của họ bị giam cầm trong tay một thể chế tàn bạo như TQ. “Bây giờ hoặc không bao giờ”! Hồng Kong đang là điểm sáng lương tri của thế giới, nơi mà những người đấu tranh cho tự do và dân chủ phải đạp đổ bức tường độc tài toàn trị đang muốn tròng vào cổ họ sợi dây thừng nô lệ. Người Hong Kong xứng đáng đại diện cho phần nhân loại có lương tri và dũng khí ngăn chặn “cái chết dưới tay Trung Quốc”. Họ đang được thế giới đổ dồn về theo dõi, ủng hộ và vinh danh. Ngắm gương Hong Kong mỗi ngày, làm sao người Việt Nam có thể không được khích lệ. Vấn đề chỉ là thời gian mà thôi. Võ Thị Hảo -  RFA  
......

Vụ AVG: Không làm rõ trách nhiệm của Tô Lâm thì tất cả mới chỉ là một nửa sự thật

Bộ trưởng Công an Tô Lâm (trái) và cựu Bộ trưởng Bộ Truyền thông – Thông tin Trương Minh Tuấn. Ảnh trên mạng Thùy Dương - baotiengdan.com Kết luận điều tra vụ Mobifone mua AVG vừa mới công bố, cho ta cái nhìn toàn diện về tệ nạn tham nhũng đang hoành hoành trên đất nước Việt Nam. Rồi đây, khi thời gian lùi xa, AVG vẫn sẽ là vụ án lịch sử. Không chỉ ở quy mô, tầm vóc của tham nhũng, đưa và nhận hối lộ; không chỉ ở hậu quả khủng khiếp về kinh tế, chính trị, xã hội mà nó gây ra, AVG còn là vụ án được bày đặt công phu, có phân vai, có lớp lang rõ ràng. Có người tung, kẻ hứng nhịp nhàng, khẩn trương và đồng bộ. Những kẻ phạm tội hầu hết đều là những vị tai to, mặt lớn, giữ trọng trách trong guồng máy quản lý cao cấp. Hơn thế, biết là béo bở, biết là coi thường luật pháp nên mỗi bước đi đều được Son, Tuấn và đồng bọn tính toán kỹ lưỡng, xóa sạch dấu vết. Thậm chí khi có bảo bối công văn 418/BCA-TCAN ngày 9/3/2015 do Tô Lâm, Thứ trưởng, nay là Bộ trưởng Công an ký, thì tất cả chúng nó tưởng rằng xác chết AVG đã được đóng quan tài và đào sâu chôn chặt không ai có thể mò ra. Nhưng Nhân tính không bằng Trời tính. Ông Nguyễn Văn Tung (Có thể tên thật, có thể bí danh; có thể 1 người cũng có thể là nhóm người…) đã miệt mài, chịu khó thu nhập chứng cứ, tung lên mạng xã hội và gửi tới những người có trách nhiệm. Nhờ đó, Đảng, Nhà nước đã vạch trần bộ mặt thật lũ quan tham và lấy lại cho Nhân dân hàng chục ngàn tỷ trong túi bọn cướp ngày này. Công lao lớn nhất, phát hiện ra đại án AVG khó có thể nói ai khác ngoài ông Nguyễn Văn Tung. Giá mà có cơ chế nào đó để trích thưởng vài trăm tỷ, kể cả nghìn tỷ cho ông Tung cũng rất nên làm. Vì thông qua việc khen thưởng kịp thời, xứng đáng cho ông Tung, tự nó sẽ nhen lên ngọn lửa tố giác tội phạm tham nhũng gộc trên phạm vi quốc gia. Những kẻ quyền lực vô song, bất chấp luật pháp, cướp ngày của Nhân dân đã không thể ngờ rằng dù cơ chế còn lỏng lẻo, pháp luật còn nhiều sơ hở, bấp bênh, công lý thì gầy còm nhưng vẫn còn đó Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng kiên định và mưu lược, quyết tâm lôi ra ánh sáng vụ AVG. Không mưu lược sao có thể bóc dỡ từng lớp, từng lớp sai phạm đã được che chắn tinh vi của cả ê kíp được đào tạo bài bản để xóa dấu vết như thế. Không mưu lược, chắc chắn lạc đường vì toàn bộ vụ án đã mờ đặc sương khói và rất nhiều bẫy được chúng nó giăng ra. Sự nghiêm túc, kiên định của TBT, CTN Nguyễn Phú Trọng đã bẻ gãy ý chí, đã đập tan ý đồ cứu bồ (để cứu mình) của một bộ phận không nhỏ cán bộ cao cấp (Kể cả những người trong Bộ Chính trị, và UBKTTW). Từ đó vụ án mới được phanh phui. Giờ đây, theo kết luận điều tra vừa được công bố, một số đối tượng đã vào vòng tố tụng. Tài sản đã được thu hồi. Nhưng nếu chỉ có vậy thì vụ án xem chừng vẫn bỏ lọt tội phạm và bản án nếu có tuyên thì vẫn chỉ là một nửa sự thật. Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh là vai trò hết sức quan trọng của Tô Lâm và Bộ Công an trong vụ án này. Sự thật, nếu không có Tô Lâm và mấy văn bản được nhóm tội phạm dùng như bảo bối thì vụ án không chắc đã xẩy ra. Thậm chí có thể nói không thể xẩy ra. Nếu có xẩy ra thì cũng không vất vả gian nan trong điều tra xét xử thế này. Tô Lâm và Bộ Công an đã làm gì? Xin thưa, đã làm sai chức năng nhiệm vụ, theo kết luận của Thanh tra Chính phủ. Mọi việc bắt đầu từ công văn 517 ngày 5/10/2014 của AVG gửi Bộ TTTT giả vờ đánh tiếng có đối tác nước ngoài (Cty 8206) Hong Kong chào giá AVG 700 Triệu USD, đặt cọc 10 triệu USD. Tiếp đó, Bộ TTTT gửi CV số 200, ngày 26/11/2014 cho Bộ Công an và Bộ Công an trả lời ngày 8/12/2014. Điểm đáng nói là Bộ Công an tuyệt nhiên không đã động gì về việc thực hư công ty 8206 Hong Kong cũng như giá cả và việc đã đặt cọc. Mà chỉ nói Bộ TTTT nên bán cho DNNN. Có vẻ như Bộ TTTT và Bộ CA đã được phím rằng Cty 8206 có liên quan tình báo Hoa nam… chẳng qua chỉ là câu chuyện làm quà mà thôi. Nếu phán đoán này là đúng thì Bộ CA và Bộ TTTT đã làm một việc vô cùng nguy hiểm, lừa đối Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Làm cho Giặc giả, tưởng là Giặc thật, Mai này giặc thật lại tưởng là giặc giả thì làm thế nào. Chưa hết, màn kịch đến hồi tung hứng hỏi giá giữa Bộ Công an và Bộ TTTT. Ở bước trước, Bộ Công an nói AVG muốn bán cổ phần thì phải bán cho DNNN. Thì lần này Bộ CA, dù biết AVG sẽ được đạo diễn để bán cho Mobifone và Bộ CA cũng biết rõ Mobifone sẽ được cổ phần hóa sớm. Nhưng Bộ Công an đáng lẽ phải làm đúng chức năng là ngăn chặn Bộ TTTT vì có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia thì lại đi làm việc không đúng chức năng là thẩm định giá. Theo đó Bộ Công an cho rằng giá mua đã thấp hơn giá định của các tổ chức định giá. (AVG năm 2015 chỉ là xác chết, thua lỗ, nợ nần cực lớn. Cho chưa chắc ai giám nhận. Nhưng qua bàn tay phù phép của chúng đã trở thành DN có giá trị tới 33.000 tỷ đồng (theo VCBS) hoặc 16.000 tỷ đồng (theo AMAX). Việc bộ TTTT cắc cớ hỏi giá Bộ Công an mà không hỏi bộ kế hoạch đầu tư, Bộ tài chính dẫn chúng ta đến suy luận dường như, trong phi vụ này, Bộ TTTT cánh hẩu với Bộ Công an hơn các Bộ ngành còn lại. Còn nữa, công văn số 418/BCA-TCAN. Đây là đỉnh cao của sự vô pháp. Hợp đồng mua bán và các tài liệu liên quan giữa AVG và Mobifone tuyệt đối không thể được xếp vào dánh mục tài liệu mật. Đây là Quy định của Bộ Công an. Vậy nhưng Thượng tướng, nay là Đại tướng Tô Lâm vẫn ký. Và chỉ chờ có vậy, ngày 21/12/2015, Trương Minh Tuấn phát hành quyết định 236 Phê duyệt dự án đầu tư, theo đó cho cho phép Mobifone mua 95 % cổ phần AVG với giá 8.900 tỷ đồng. Xin hỏi ông Tô Lâm, Ông là Giáo sư, tiến sỹ an ninh, nếu những hành vi nói trên chưa đủ cấu thành tội phạm thì từ trước đến nay và từ nay về sau ngành Công an và cá nhân ông cư xử thế nào với các hành vi tương tự? Ông đã từng và sẽ bỏ qua cho những ai vi phạm giống thế này không? Nếu kết thúc vụ này, ông vẫn vô can, Ông sẽ ăn nói với cán bộ chiến sỹ của mình như thế nào, bào chữa với Nhân dân thế nào? Một điểm mờ nữa cần lôi ra ánh sáng đó là số tiền đưa và nhận hối lộ. Vu án thất thoát hơn 7.000 tỷ mà hối lộ chỉ 3 – 4 triệu đô và tập trung vào mấy người đã bị bắt thì ba xạo quá. Không thể tin được. Xưa nay luật bất thành văn là 10%, 15%, 30%…; của đồng chia ba, của nhà chia đôi…Cơ quan điều tra cần phải cố gắng và công minh hơn nữa. Tập trung điều tra tiếp tội danh đưa và nhận hối lộ. Đừng vội bàn về chính sách hình sự đặc biệt nầy nọ. Và nếu Bộ Công an không điều tra được thì phải thay đổi cơ quan điều tra. Nên nhớ, mới đây Tướng Phạm Quý Ngọ, uy danh lẫy lừng là vậy nhưng mặt nạ cũng đã bị lật ngay tại phiên tòa xét xử Phạm Chí Dũng đó thôi. Khui ra vụ AVG, lấy lại tài sản cho Nhà nước và Nhân dân là thành công bước đầu. Tuy vậy, điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, không oan sai, không bỏ lọt tội phạm trong vụ án này còn là đòi hỏi bức thiết hơn. Chỉ có như vậy, sự thật vụ án mới được phơi bày. Niềm tin của nhân dân đối với TBT, CTN Nguyễn Phú Trọng mới vững bền, trọn vẹn, thành quả công cuộc đốt lò mấy năm qua mới đi vào thực chất và mới chứng tỏ được rằng chống tham nhũng là không có vùng cấm. Cuối cùng là bài học rút ra. Giờ mà chong đèn rồi nghĩ lại, rồi tổng kết bài học thì có khi viết được cuốn sách dày cộp. Nhưng để làm gì, người viết thấy không cần thiết. Cái đọng lại nhất, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thuộc chính là vai trò của Nhân dân. Không có Nhân dân, xin thưa TBT, CTN Nguyễn Phú Trọng không thể phanh phui vụ án này. Hãy nhìn sự lúng túng, bế tắc; sự chậm trễ, chồng chéo của Thanh tra chính phủ, của cơ quan điều tra trước khi có chỉ đạo của UBKTTW thì rõ. Và vì thế, thay vì cứ ngồi nghe báo cáo về chống tự diễn biến, tự chuyển hóa hoặc lên mặt rao giảng đạo đức của một bộ phận cán bộ cao cấp thoái hóa biến chất thì xin hãy mở đường cho Nhân dân, động viên, trao cơ hội cho Nhân dân, lắng nghe và bảo bệ Nhân dân. Thúc đẩy dân chủ, công khai, minh bạch… Đó mới là then chốt của then chốt trong phòng chống tham nhũng.  
......

Cách mạng Việt Nam: Cấp tiến chống Bảo thủ.

Nguyễn Quang Duy| Bạn đọc nhận xét “biết người, biết ta” nên không thể hy vọng vào thay đổi chính trị tại Việt Nam. Quả đúng nếu xem “ta” chỉ gồm vài tổ chức đấu tranh èo uột, chia năm xẻ bảy, chẳng ai phục ai,… còn cộng sản nắm quân đội, công an, nhân lực, tài lực đất nước. Nhưng nếu biết “ta” gồm những người cấp tiến muốn thay đổi chính trị, muốn hướng đến tự do, còn “người” là thành phần bảo thủ kềm hãm thay đổi thì rõ ràng một cuộc cách mạng cấp tiến đang diễn ra tại Việt Nam. Bài viết này giúp trả lời 2 câu hỏi của bạn đọc J. Trần: (1) Ai là người đi tiên phuông (tiên phong cách mạng)? và (2) Vũ khí nào tốt nhất để đi tiên phuông (tiên phong cách mạng)? Cấp tiến hải ngoại. Ở nước ngoài, người Việt hầu hết sống trong các nước tự do, được hưởng dân chủ nên đều mong Việt Nam có tự do. Những người trước đây đã sống, đã chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do, nay lại được sống ở các nước tự do, ao ước được thể hiện bằng hành động. Nhiều cộng đồng địa phương đã được hình thành, phát triển và đều có chung mục đích là hướng về một Việt Nam tự do. Năm 2008, Hà Nội cho thay đổi Luật Quốc tịch đòi người hải ngoại phải ghi danh giữ quốc tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Trong vòng 6 năm cho đến ngày 1/7/2014, chưa tới 6.000 trong số 4,5 triệu người ghi danh, nghĩa là chỉ hơn 0.1% người Việt hải ngoại muốn nhận Hà Nội làm đại diện cho họ và gia đình. Cấp tiến trong dân Ở trong nước mặc dù chưa có cuộc trưng cầu dân ý để có được con số chính xác về mức độ người dân muốn thay đổi thể chế, nhưng thực tế xã hội cho thấy tỷ lệ dân chúng muốn duy trì thể chế cộng sản cũng rất thấp không hơn gì con số 0.1%. Trong vòng 30 năm qua trong nước đã xuất hiện nhiều tổ chức dân sự hoạt động công khai, vô vụ lợi, với nhiều mục đích khác nhau, bao gồm các tổ chức tôn giáo, đồng hương, nghiệp đoàn, từ thiện, hướng đạo, giáo dục, truyền thông, nghiên cứu, môi trường, các câu lạc bộ, các nhóm thân hữu… Những tổ chức dân sự này ngày một mở rộng. Những người hoạt động dân sự đều có chung một mong muốn là Việt Nam thay đổi để bắt kịp thời đại. Nhiều nhóm dân sự âm thầm tổ chức hằng vạn cuộc biểu tình và đình công cho công nhân, cho nông dân mất đất, hay cho dân chúng đấu tranh đòi hỏi những quyền lợi thiết thực. Những dân nghèo thành thị, công nhân, nông dân làm không đủ ăn, những doanh nghiệp tư nhân, người buôn bán lẻ bị đối xử bất công, những người trẻ có học thức đều nhận ra những phi lý và bất công xã hội đều muốn thay đổi để đất nước tiến bộ. Trên các trang mạng xã hội ngày càng nhiều người thuộc nhiều tầng lớp, nghề nghiệp, tuổi tác, địa phương khác nhau đã công khai biểu lộ chính kiến bày tỏ mong muốn một xã hội tiến bộ, một đất nước tự do. Tất cả những người mong muốn thay đổi thể chế chính trị đều có thể được xem thuộc thành phần cấp tiến. Cấp tiến trong đảng Cộng sản… Văn kiện Đại hội 12, đảng Cộng sản nói rõ cán bộ đảng viên không còn tin vào con đường xã hội chủ nghĩa: "Không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam." Đại Hội 13 sẽ đặt trọng tâm vào tình trạng cán bộ và đảng viên cộng sản đang thay đổi tư tưởng chính trị, đang tự diễn biến, tự chuyển hóa. Thay đổi tư tưởng từ bên trong và bên trên đảng Cộng sản chính là điều mà thành phần bảo thủ cầm quyền lo ngại nhất nên thường xuyên khuyến cáo lực lượng công an và quân đội không được để các lực lượng cấp tiến hình thành tổ chức chính trị đối lập. Trung cộng là mối đe dọa chủ quyền lãnh thổ lãnh hải Việt Nam, vì thế tâm lý của giới quân nhân là muốn xây dựng một thế đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ. Điều kiện cần và đủ để các cuộc cách mạng ở Đông Âu và Liên Xô thành công là Quân Đội trung lập hay gián tiếp ủng hộ và bảo vệ thành quả cách mạng. Ai thuộc thành phần bảo thủ? Bảo thủ bao gồm những thành phần được hưởng đặc quyền đặc lợi, thành phần này luôn kềm hãm mọi thay đổi nhằm duy trì thể chế cộng sản toàn trị, nhưng vì phân chia quyền lợi không đều nên đang xâu xé lẫn nhau. Đại Hội 12, phe cực kỳ bảo thủ công khai loại trừ đồng chí X, rồi mở chiến dịch đốt lò thanh trừng vây cánh chống đối ngay trong Bộ Chính Trị và Trung ương đảng Cộng sản. Nội bộ lãnh đạo cộng sản càng tranh ăn đấu đá lẫn nhau, dân chúng và đảng viên cấp thấp càng nhận ra nhu cầu phải thay đổi chính trị. Bởi thế không có gì là quá đáng nếu nhận định tỷ lệ dân Việt muốn duy trì thể chế cộng sản rất thấp con số có thể chỉ chừng 0.1%, nhưng có những lý do sẽ được bàn tới ở phần sau khiến cách mạng chưa bùng nổ. Đa nguyên hải ngoại… Có bạn đọc cho rằng thành phần chống cộng “cực đoan” ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh. Đấu tranh cho tự do là đấu tranh cho sự khác biệt giữa người với người. Những người biểu lộ công khai và rõ ràng quan điểm chống cộng có thể lại là những người tích cực nhất. Kinh nghiệm sống, chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do buộc họ phải luôn đề cao cảnh giác cộng sản xâm nhập hay thành phần bán đứng cộng đồng. Có bạn lo ngại về việc tin giả, tin thất thiệt, tràn làn trên các diễn đàn, thì ngay cả truyền thông Tây Phương cũng đầy tin giả, tin thiếu kiểm chứng. Chấp nhận tự do ngôn luận là chấp nhận tin giả, tin sai sự thật, về lâu dài nó giúp bạn đọc cẩn thận chọn lọc thông tin. Có bạn cho biết tình trạng hải ngoại vô cùng bát nháo, không ai nghe ai,… nó lại thể hiện môi trường sinh hoạt đa nguyên hải ngoại, các sinh hoạt chính trị chính mạch Mỹ, Úc, Âu châu cũng chẳng khác gì. Sinh hoạt hải ngoại là sinh hoạt trong vòng luật pháp nên bạo lực, mạ lỵ hay vu khống đều bị luật pháp nghiêm cấm và trừng trị. Tất cả những điều trên về lâu dài đều tích cực đóng góp cho công cuộc đấu tranh chung, nhờ đó chúng ta mới biết được sự thật về nhiều cá nhân hay tổ chức. Chắc bạn đọc vẫn nhớ Hồ chí Minh từng sống ở Mỹ, ở Anh, ở Pháp,… là những nước dân chủ vào bậc nhất trên thế giới, nhưng cuối cùng lại chọn Liên xô và Trung cộng lại mang chế độ độc tài toàn trị về Việt Nam. Bởi thế cần cảnh giác những tổ chức hải ngoại mang danh đấu tranh cho tự do dân chủ, nói thì hay nhưng bản chất là độc tài. Nếu họ thành công trên con đường cách mạng thì Việt Nam lại vướng vào thể chế độc tài không cộng sản. Thay đổi suy nghĩ… Phần trên chỉ là lý thuyết nếu không được mang ra thực hành. Nhưng cũng vì thiếu lý thuyết dẫn dắt nên hơn 44 năm qua người Việt phản kháng cộng sản một cách vô cùng thụ động, không biết người, không hiểu ta, nhìn quanh đâu cũng thấy kẻ thù, chống đối đa nguyên, thiếu tôn trọng sự thật, thiếu tôn trọng sự minh bạch, phản dân chủ và phản cảm. Mô hình cấp tiến bên trên chính là con đường để xây dựng sự đồng thuận nhằm tranh đấu cho Việt Nam tự do. Có tự do mới có dân chủ, có nhân bản, có nhân quyền, có thực lực để bảo vệ đất nước, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải trước ngoại bang Trung cộng. Có tự do mới có công bằng, có bác ái, có phát triển xã hội, có hãnh diện được làm người Việt Nam. Tiên phong cách mạng cấp tiến Trở lại với hai câu hỏi của bạn đọc J. Trần “Ai là người đi tiên phuông?” và “Vũ khí nào tốt nhất để đi tiên phuông?” Nắm được lý thuyết và mô hình cấp tiến giúp chúng ta đánh giá đúng về mình (ta), mới biết và mới hiểu ai là bạn còn ai là đối phương, không sa vào hỏa mù trong cuộc đấu tranh cho tự do. Người đi tiên phong chỉ cần mỗi ngày bước thêm vài bước, thúc dục bạn bè bước theo mình, thúc đẩy đối phương rời bỏ hàng ngũ bảo thủ, cô lập thành phần bảo thủ, khi điều kiện thuận lợi cuộc cách mạng cấp tiến tất yếu sẽ diễn ra. Tư tưởng tự do chính là vũ khí tốt nhất cho cuộc cách mạng cấp tiến trong diễn biến hòa bình và là nỗi lo sợ ngày đêm của thành phần bảo thủ cộng sản. Người đấu tranh được trang bị tư tưởng tự do sẽ không mù quáng làm nô lệ cho guồng máy độc tài phản cách mạng hay làm tay sai cho ngoại bang. Tự do bao gồm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do nghiệp đoàn, tự do thương mãi, tự do học thuật, … cao nhất vẫn là tự do chính trị, tự do ứng cử và bầu cử. Thiếu tự do chính trị, sẽ không bao giờ có được một hiến pháp tự do để xây dựng một xã hội dân chủ và phát triển. Tự do chính trị là chìa khóa để mọi cá nhân, mọi tổ chức đưa ra đường lối và chiến lược cạnh tranh để được dân chúng trao quyền đưa đất nước tiến lên kịp đà tiến bộ nhân loại. Vì thế tùy khả năng và hoàn cảnh cuộc cách mạng cấp tiến đầy thách thức và đầy cơ hội cho mọi người thuộc mọi tầng lớp đều có thể dấn thân cho một Việt Nam tự do. Nguyễn Quang Duy Nguyen Quang Duy <duyact@yahoo.com.au>    
......

Chuẩn bị ‘tình huống xấu nhất’, nhưng sẽ đánh chác ra sao?

Hải Dương 981, hồi tháng Năm, 2014. Phạm Chí Dũng – VOA| Ngay sau khi xuất hiện tàu cẩu lớn nhất thế giới của Trung Quốc là Lam Kình ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 3/9/2019, chỉ cách đường cơ sở của Việt Nam chưa tới 11 hải lý và cách đảo Lý Sơn chỉ khoảng 30 hải lý về phía nam, đã nổi lên dư luận “ta đang chuẩn bị cho tình huống xấu nhất” đầy lo lắng và lo sợ trong nội bộ đảng cầm quyền ở Việt Nam. ‘Tình huống xấu nhất’ là gì? Đó là một thuật ngữ của giới quân sự Việt Nam nhằm mô tả tình trạng sẵn sàng chiến đấu ở cấp cao nhất. Nghĩa là có thể nổ ra chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc – cái tương lai rất gần mà vào thời hữu hảo ‘Bốn Tốt’ và Mười Sáu Chữ Vàng’ chỉ nghĩ đến cũng thấy hoang tưởng. Nỗi lo sợ và khiếp nhược đến mức ‘đái ra quần’ của giới quan chức Việt là rất có cơ sở, bởi khác hẳn với tàu Hải Dương 8 chỉ làm nhiệm vụ thăm dò địa chất, Lam Kình làm cho người ta lập tức nhớ lại giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc cho tấn công vào vùng biển Việt Nam trong năm 2014 và suýt gây ra xung đột quân sự. Khi đó về mặt công khai, chính quyền Việt Nam đã chẳng có nổi một tuyên bố ra hồn phản đối Trung Quốc, trong lúc rậm rịch thông tin ngoài lề về những cuộc chuyển quân lên biên giới phía Bắc và ở Biển Đông với cấp độ báo động ‘sẵn sàng chiến đấu cao’ – tức đã đạt đến trạng thái thứ ba trong 4 cấp sẵn sàng chiến đấu của quân đội (sẵn sàng chiến đấu thường xuyên, sẵn sàng chiến đấu tăng cường, sẵn sàng chiến đấu cao, sẵn sàng chiến đấu toàn bộ). Còn vào lần này, khả năng Bắc Kinh đưa một giàn khoan đến hoạt động trong vùng biển của Việt Nam là hoàn toàn có thể xảy ra. Nhưng mục tiêu lần này không chỉ ‘thăm dò dầu khí’ như năm 2014 mà có thể là… khoan luôn. Đó có thể là giàn khoan Hải Dương 981, hoặc giàn sản xuất dầu khí lớn thứ hai của Trung Quốc là Đông Phương. Đánh hay không dám? Trong phương trình khoan dầu nhiều ẩn số của Trung Quốc, Đông Phương có thể là đáp án đầu tiên. Bởi vào tháng 4 năm 2019, giàn khoan này đã hờm sẵn tại lưu vực Yinggehai ở Biển Đông, sẵn sàng gây áp lực với Việt Nam trong bối cảnh ‘Tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng sắp công du Hoa Kỳ (nhưng cũng vào tháng 4 đó, ông Trọng bất thần bị một cơn bạo bệnh tại Kiên Giang nên chuyến đi Mỹ của ông ta phải dời lại). Nếu sắp tới Trung Quốc liều lĩnh điều cả một giàn khoan vào Bãi Tư Chính để ‘cùng hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam’ – như cái cách mà Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã trịch thượng yêu sách với giới chóp bu Hà Nội khi đến Việt Nam vào đầu năm 2018, với tỷ lệ ăn chia có thể lên đến 60% cho Trung Quốc và chỉ còn lại 40% cho chủ nhà Việt Nam – được hiểu thực chất là phải mời một tên cướp vào nhà mình để cùng chia bôi tài sản…, đó sẽ là một thảm họa với Nguyễn Phú Trọng và những đồng đảng của ông ta vẫn mơ màng về ‘Mười Sáu Chữ Vàng’. Kịch bản ngày càng áp sát là Việt Nam khó có thể tránh thoát nguy cơ một cuộc tấn công quân sự, dù có thể chỉ ở cấp độ chiến dịch, từ phía Trung Quốc. Chiến dịch tấn công này, nếu xảy ra, chắc chắn sẽ diễn ra trên biển và rất gần gũi về mặt kinh tuyến và vĩ tuyến với những mỏ dầu mà Việt Nam đang dự định khai thác nhưng nằm trong “đường lưỡi bò” mới được Trung Quốc vẽ bổ sung. Điểm nổ chiến tranh lộ diện nhất là Bãi Tư Chính. Còn Bộ Chính trị và cấp dưới của nó là Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ làm gì? Đánh thì sợ, mà không đánh thì bị cướp trắng và mặt mũi chẳng còn ra thể thống gì. Trong thời gian qua, đã có những thông tin ngoài lề về việc quân đội Việt Nam điều quân để củng cố vùng biên giới phía Bắc và cả biên giới tây nam giáp Campuchia. Tuy nhiên, đó chỉ là cách phòng thủ hết sức thụ động, một kiểu che chắn theo cách ‘kịch liệt phản đối’ nhưng cứ ngồi đờ ra, giương mắt thao láo nhìn kẻ cướp xông vào nhà mình và lần lượt bỏ túi từng món đồ. Trong khi đó các tàu chiến và tàu hải cảnh Việt Nam vẫn chỉ lọ mọ theo đuôi tàu Hải Dương 8 mà không có được bất cứ hành động mạnh mẽ nào, dù chỉ là… bắn lên trời. Trong lúc 6 tàu ngầm lớp Kilo của Hải quân Việt Nam được cho là còn phải đi chống ngập ở Hà Nội và Sài Gòn, còn các tàu chiến khác, kể cả ‘tàu buồm hiện đại nhất thế giới’ mang tên Lê Quý Đôn tuyệt đối mất dạng, toàn bộ lực lượng hải quân Việt Nam vẫn phủ phục trong tư thế bất lực và kiên định… bám bờ, các tàu Trung Quốc đã thả giàn tung hoành ở Biển Đông và ngay trong ‘vùng chủ quyền không thể tranh cãi’ của Việt Nam. Việc nhóm tàu khảo sát Hải Dương-8 của Trung Quốc đã tiến sâu thêm 30 km vào vùng biển Việt Nam vào đầu tháng 9 năm 2019, chỉ còn cách bờ biển tỉnh Ninh Thuận, miền trung Việt Nam khoảng 155 km, đã gián tiếp tiết lộ một sự thật bi thảm: trong suốt thời gian từ đầu tháng 6 năm 2019 khi tàu Trung Quốc bắt đầu xâm nhập bãi Tư Chính, Bộ Quốc phòng và Cảnh sát biển Việt Nam đã đối phó tệ hại đến mức Trung Quốc hoàn toàn coi thường những hành động đối phó này. Đã không có một tàu hải quân nào của Việt Nam ra ngăn chặn Hải Dương 8 đến gần Phan Thiết. Thật đúng là ‘ngư dân bám biển, hải quân bám bờ’! Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật nuốt từng hải lý biển Việt Nam. Có thể vào một ngày đẹp trời không lâu nữa, các lực lượng quân đội lẫn cảnh sát ở Phan Thiết hoặc ở một thành phố duyên hải nào đó của Việt Nam sẽ trố mắt trước những chiếc tàu giương cờ Trung Quốc lừng lững ngự ngay trước mắt họ ở vùng biển sát bờ. Trong khi đó, chiến thuật Việt Nam dùng một số tàu chiến và tàu hải cảnh bao vây tàu Trung Quốc, hoặc bám chặt tàu Trung Quốc đã tỏ ra vô ích và vô tích sự, bởi về số lượng thì tàu Trung Quốc luôn vượt gấp ít ra vài ba lần số tàu Việt Nam, còn việc bị bám đuôi thì Trung Quốc chẳng coi ra gì. Kiện hay không dám? Cũng trong khi đó, toàn bộ công tác ‘vận động quốc tế ủng hộ Việt Nam’ đã chỉ nhận được nhưng lời lẽ chia sẻ chung chung và xã giao, còn lại đã chẳng có bất kỳ hành động quân sự đáng chú ý nào từ các nước ‘đối tác chiến lược’ của Việt Nam. “Chúng ta đã kiên trì, kiên quyết đấu tranh bằng mọi biện pháp đối với các hoạt động của nước ngoài vi phạm chủ quyền trên biển của ta” – Thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ Nguyễn Xuân Phúc hé miệng lần đầu tiên về tình hình ở Biển Đông vào ngày 4/9/2019 trong một cuộc họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 tại Hà Nội, nhưng vẫn không hề dám nhắc đến cái tên Trung Quốc. ‘Bản lĩnh Nguyễn Xuân Phúc’, cộng thêm trạng thái bị coi là câm nín của Nguyễn Phú Trọng trước vụ Hải Dương 8, thậm chí còn tệ hơn cả cấp dưới là Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Bởi trước đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ba lần lên tiếng cáo buộc tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền và thềm lục địa của Việt Nam, dù rốt cuộc cơ quan này cũng chỉ đánh võ miệng. Khi ngay cả những quan chức chóp bu như Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Xuân Phúc mà còn không dám nêu tên Trung Quốc thì làm sao chính thể Việt Nam dám kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế? Chỗ dựa dẫm duy nhất Nếu nổ ra ‘tình huống xấu nhất’ với Trung Quốc, hải quân Việt Nam sẽ đánh chác ra sao? Sẽ tiếp tục phát cờ cho ngư dân để “thuyền ra biển lớn” và lại khiến rộ lên câu vè dân gian “Chống giặc bằng cờ, chống ngập bằng lu, đứa nào nói đảng ngu là thằng phản động”? Nếu ai đó cho rằng hải quân Việt Nam còn đang ‘giấu mình’, vẫn nêu cao tinh thần yêu nước và sẽ ra đòn quyết định vào một thời điểm thuận lợi, làm thế nào để giải thích việc mới đây một thứ trưởng bộ quốc phòng kiêm đô đốc của quân chủng này – Nguyễn Văn Hiến, cùng một số tướng tá hải quân khác đã bị tống vào ‘lò’ của ‘tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng vì tội ‘ăn đất’? Nguy cơ Việt Nam bị tấn công đang hiển thị dần sau một tháng và mỗi quý. Đến giờ phút này, giới chóp bu Việt Nam phải quyết định cho chính số phận tồn vong của nó: thêm một lần đánh đu với người anh em cộng sản Bắc Kinh sẽ rất dễ khiến lục phủ ngũ tạng của dân tộc Việt Nam bị kẻ thù phanh thây – theo đúng cái cách mà chính quyền Trung Quốc đã làm để mổ sống nội tạng các tín đồ Pháp Luân Công. Chỗ dựa dẫm duy nhất giờ đây của Hà Nội chỉ còn là Hoa Kỳ – đối trọng duy nhất của Trung Quốc tại Biển Đông.  
......

Một hiệp định mở đường cho tội phạm

TÂM DON - (VNTB) Hàng loạt vụ án động trời do người Trung Quốc thực hiện trên đất Việt Nam diễn ra liên tiếp. Và, rất nhanh chóng, các tội phạm người Trung Quốc được phía Việt Nam dẫn độ- trao trả cho Trung Quốc. Chuyện không thể tin đã diễn ra. Dư luận Việt Nam đang phẫn nộ về việc Việt Nam ký kết và thông qua Hiệp ước dẫn độ Việt Nam- Trung Quốc. Điều gì khiến cộng đồng phẫn nộ? Điều thứ nhất, hiệp định này được ký kết mà không có tính công khai và minh bạch. Điều thứ hai, quan trọng nhất, theo hiệp định này, tội phạm Trung Quốc khi thực hiện hành vi phạm tội ở Việt Nam, nếu bị phía Việt Nam phát hiện và bắt giữ, sẽ nhanh chóng được trao trả- dẫn độ về Trung Quốc để phía Trung Quốc điều tra và xét xử. Điều thứ hai này hoàn toàn đi ngược lại với thông lệ luật pháp quốc tế là, tội phạm người nước ngoài phạm tội ở quốc gia nào sẽ được quốc gia đó xét xử. Bên cạnh đó, cộng đồng còn băn khoăn về việc, nếu người Việt Nam phạm tội ở Trung Quốc liệu có được- bị phía Trung Quốc trao trả- dẫn độ về phía Việt Nam?   Đã có nhiều nghi vấn tại Việt Nam rằng, Trung Quốc đã đưa nhiều tù nhân sang lao động tại các dự án mà Trung Quốc đầu tư ở Việt Nam nhằm tiết kiệm chi phí nhân công. Nghi vấn này nếu là hiện thực sẽ dẫn đến hậu quả đau đớn: Việt Nam là nơi chứa chấp tội phạm, Việt Nam bị cướp công ăn việc làm. Cũng tại Việt Nam đã có nghi vấn rằng, chính quyền Trung Quốc đang dung dưỡng cho các loại hình tội phạm tràn sang Việt Nam để phá hoại Việt Nam theo nhiều cách khác nhau, làm cho Việt Nam mất đi sự ổn định về xã hội và trật tự. Nghi vấn này hoàn toàn có cơ sở khi mà số vụ việc người Trung Quốc vi phạm pháp luật ở Việt Nam ngày càng diễn ra dày đặc, và hoạt động có tổ chức ngày càng tinh vi.   Khi tội phạm Trung Quốc được trao trả- dẫn độ về Trung Quốc, các tòa án ở Việt Nam đã không thể phán quyết các bản án nghiêm khắc dành cho kẻ phạm tội nhằm răn đe và ngăn ngừa tội phạm.   Khi tội phạm Trung Quốc được trao trả-  dẫn độ về Trung Quốc, rất có thể các cấp tòa án ở  Trung Quốc sẽ xét xử nhẹ nhàng, để rồi sau đó, các tội phạm này sẽ quay trở lại Việt Nam dưới một cái tên mới với hộ chiếu mới. Và, Việt Nam lại bị các tội phạm Trung Quốc làm thất điên bát đảo, gây rối loạn trật tự xã hội, và bào mòn ngân sách.   Hiệp định dẫn độ Việt Nam - Trung Quốc rất có thể là một thắng lợi cực kỳ lớn cho chính quyền Trung Quốc và là thất bại cay đắng cho phía Việt Nam.   Theo Tân Hoa xã của nhà nước Trung quốc đưa tin vào cuối tháng 8-2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc vừa phê chuẩn một Hiệp ước dẫn độ với Việt Nam được ký kết từ năm 2015. Cơ quan lập pháp hàng đầu của Bắc Kinh đưa ra quyết định hôm 26-8- 2019 khi phê chuẩn hiệp ước gồm 22 điều khoản, trong đó có các vấn đề như nghĩa vụ dẫn độ, tội phạm đủ điều kiện dẫn độ, quy định từ chối dẫn độ và giải quyết tranh chấp. Cũng theo Tân Hoa xã, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu thảo luận về hiệp ước dẫn độ từ tháng 10/2013 và hai quốc gia cộng sản láng giềng đã ký hiệp định này vào ngày 7/4/2015 tại Bắc Kinh.   Truyền thông Việt Nam chưa có ghi nhận nào về việc Trung Quốc phê chuẩn Hiệp ước dẫn độ với Việt Nam và cũng không có thông tin về việc hai nước bàn thảo cũng như ký kết hiệp ước này trong những năm qua. Chỉ có hai bài viết trên báo Tuổi Trẻ và Nhân Dân ra ngày 13/11/2017 nói về việc Việt Nam và Trung Quốc tập trung thúc đẩy cho Hiệp định dẫn độ giữa hai nước trong thời gian Chủ tịch Tập Cận Bình có chuyến thăm chính thức tới Việt Nam.   Vào tháng 8-2019 vừa qua, khi đường dây đánh bạc trực tuyến do gần 400 người Trung Quốc cầm đầu bị công an Việt Nam bắt giữ ở Hải Phòng và nhanh chóng được phía Việt Nam dẫn độ- trao trả cho Trung Quốc, dư luận Việt Nam đã bùng phát giận dữ. Một số quan chức cấp thấp của Việt Nam đã trả lời công luận rằng, nhanh chóng trao trả- dẫn độ về Trung Quốc vì tuân thủ hiệp ước dẫn độ giữa hai nước. Cho đến thời điểm này, phía Việt Nam không công khai việc phê chuẩn hiệu lực của hiệp định vào thời điểm nào.   Việt Nam có thể hèn, có thể thất bại trước Trung Quốc, nhưng láng giềng của Việt Nam là Cambodia thì không. Cambodia xét xử và giam giữ các tội phạm Trung Quốc, không dẫn độ về Trung Quốc trước khi xét xử. Tòa án tỉnh Banteay Meanchey, Cambodia vào tháng 6-2019 đã xử 12 công dân Trung Quốc về tội bắt cóc 3 người đồng hương thiếu nợ tiền thua bạc.(https://tuoitre.vn/nguoi-trung-quoc-lu-luot-ve-nuoc-khi-campuchia-cam-danh-bac-truc-tuyen-20190911105526535.htm). Dân số Cambodia chỉ bằng 1/8 dân số Việt Nam, nhưng sự công minh và rạch ròi của Cambodia gấp 8 lần Việt Nam.
......

Hy sinh đời bố – củng cố đời con

Phạm Nhật Bình – Web Việt Tân| Từ đầu tháng Chín, 2019 sau một thời gian tạm thời lắng xuống, vụ án MobiFone mua lại 95% cổ phần AVG lại làm dư luận xôn xao bàn tán. Lần này theo kết luận điều tra của công an, hai cựu bộ trưởng bộ 4T đều có nhận tiền đền ơn của Phạm Nhật Vũ lúc đó là chủ tịch AVG. Cụ thể Nguyễn Bắc Son đã nhận 3 triệu đô-la chia làm nhiều lần, riêng Trương Minh Tuấn thì khiêm nhường hơn chỉ bỏ túi 200 ngàn. Cuộc điều tra còn ghi nhận Lê Nam Trà cựu Chủ Tịch HĐTV MobiFone đã nhận từ Phạm Nhật Vũ 2,5 triệu Mỹ Kim sau khi thương vụ hoàn thành và Cao Duy Hải cựu Tổng Giám Đốc MobiFone được biếu 500 ngàn đô-la. Tổng cộng Vũ đã thảy ra 6 triệu 200 ngàn Mỹ Kim cho các quan chức nhà nước một cách nhẹ nhàng. Đây là một vụ tham nhũng được dư luận chú ý nhiều nhất sau màn Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh bị lôi ra trước vành móng ngựa vào đầu tháng Giêng, 2018. Tại sao? Thứ nhất, vì đây là lần đầu tiên số tiền thất thoát mà thực ra là tiền tham ô trong thương vụ ma quỷ này lên đến 7 ngàn tỷ VND. Vì giá trị thực của AVG chưa tới 2.000 tỷ đồng, thay vì 16.000 tỷ nghĩa là nó được định giá sai đến 8 lần để MobiFone làm căn cứ mua AVG. Món tiền gần 400 triệu đô-la lẽ ra còn được chia chác nhau giữa liên minh ma quỷ nhưng cuối cùng chúng nuốt không trôi. Chúng nuốt không trôi vì sự buôn bán mờ ám bị lôi ra ánh sáng và chúng thoả thuận với nhau, AVG phải hoàn trả đủ tiền cho MobiFone. Thứ hai, đây cũng là lần đầu tiên số tiền tham nhũng được các quan chức lãnh đạo hàng cao cấp thừa nhận lên tới con số 6 triệu 200 ngàn Mỹ Kim cho cả 4 người. Người ta tin rằng đây chỉ là tiền “đền ơn đáp nghĩa” cho các quan chức nhà nước trong giai đoạn bôi trơn. Nếu nội vụ trót lọt, sự chia chác ắt phải đậm đà hơn nhiều. Thiên hạ phải giật mình vì cú đánh đưa đến một kết quả khá ngoạn mục của người đốt lò. Chứ mấy trận trước, người ta chỉ nghe nói nhà nước thất thoát hàng tỷ đồng mà hoàn toàn không biết những tham quan bị truy tố đã thực sự “xơ múi” bao nhiêu. Và nhất là số tiền thu hồi sau đó được báo cáo là thật thấp. Riêng trường hợp cựu Bộ Trưởng Bộ 4T Nguyễn Bắc Son trong vụ này đã khai nhận đớp 3 triệu Mỹ Kim và nói món tiền ấy đã đưa cho người con gái nhiều lần. Nhưng người này từ chối và khai không hề nhận được số tiền nào từ ông cha. 3 triệu đô-la ấy hiện nay cuộc điều tra của công an cũng không tìm thấy, chúng mất tích một cách bí ẩn, thách thức khả năng thu hồi tài sản của cơ quan thi hành án sau này. Thứ ba, lần đầu tiên câu nói “hy sinh đời bố – củng cố đời con” bị bẻ cua một cách chua chát. Đó là chuyện cựu Bộ Trưởng Son khai nhận 3 triệu và đã đưa cho con gái. Lời khai này thực sự đẩy đứa con ông ta vào vòng nguy hiểm mà đáng lý ra trong mối quan hệ cha con ông Son không nên làm như vậy. Nếu mình đã có gan nhận hối lộ thì mình làm mình chịu, sao lại đổ tội cho con. Cho dù đứa con ấy có nhận và hưởng hết số tiền ấy chăng nữa thì đó cũng là điều đúng theo quy luật chế độ xưa nay…”hy sinh đời bố”. Ở khía cạnh khác, rõ ràng ông Son phải khai là đã đưa tiền cho con vì bản thân bị hăm doạ có thể bị mức án tử hình về tội nhận hối lộ. Nhưng trong trường hợp này đứa con phủ nhận, do đó công an cũng không tìm ra chứng cớ nào để buộc tội và truy tố. Nhưng điều khó khăn hơn hết cho cuộc điều tra là không tìm thấy tông tích số tiền 3 triệu ấy cất giấu ở đâu hoặc chi tiêu vào việc gì. Vậy thử hỏi vì lý do gì mà ông Son lại khai đưa tiền cho đứa con gái? Chỉ có một lý do duy nhất là Son không thể khai thật là mình lấy 3 triệu ấy mang chia cho các đàn anh như Nguyễn Tấn Dũng hay Lê Đức Anh để được bao che cho cái ghế bộ trưởng bộ 4T. Dùng tiền hối lộ để mua sự bao che của cấp trên phòng khi cần đến là hợp “quy trình” của hệ thống cộng sinh trong giới cán bộ đảng. Vả chăng 3 triệu đô nho nhỏ ấy cũng chỉ là tiền chùa, anh Son tin chắc mình sẽ còn nhiều hơn trong món hời 7.000 tỷ mà Phạm Nhật Vũ vớ được trong đó có công của Son. Nay anh Son bí quá nên đành khai đưa hết tiền cho con gái tưởng cho yên chuyện, không ngờ về mặt pháp luật và đạo đức gia đình phải chịu búa rìu dư luận với đủ mọi điều chê trách. Hoá ra anh Son chẳng làm đúng câu “củng cố đời con” chút nào! Phạm Nhật Bình https://viettan.org/hy-sinh-doi-bo-cung-co-doi-con/
......

Nắn gân Ba Dũng?

Ảnh thiếu gia’ Tô Công Lý Trúc Giang  (VNTB) Tin tức bắt ‘thiếu gia’ Tô Công Lý ở Cà Mau, là đòn ‘nắn gân’ cô con gái rượu của cựu thủ tướng Ba Dũng?   Dân làm ăn xứ miền Tây gọi người cha của ông Tô Công Lý bằng cái tên thân mật là ‘ông Sáu’, tức ông Tô Hoài Dân. Ông Sáu có mối quan hệ rất thân tình với ông Ba Dũng, thời ông Ba còn đóng lon Thiếu tá, Trưởng Ban cán bộ - Phó Bí thư Đảng ủy Phòng Chính trị của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang.   Ông Sáu Tô Hoài Dân lập công ty ở tỉnh Cà Mau, và được người xứ Bạc Liêu nhắc đến nhiều với dự án cánh đồng điện gió ở bờ biển Vĩnh Trạch Đông, Bạc Liêu.    Ngay trong ngày được cho là Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã bắt ông Tô Công Lý, 35 tuổi, phó tổng giám đốc Công ty TNHH Xây dựng - thương mại - du lịch Công Lý (trụ sở tại phường 8, TP Cà Mau, tỉnh Cà Mau), để điều tra hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì cũng ngay sáng hôm đó 18-8 tại Bạc Liêu, cựu chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến làm việc với ông Tô Hoài Dân tại Nhà máy Điện gió Bạc Liêu.   Cùng đi với ông Tư Sang có ông Phan Văn Sáu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng. Đón tiếp ông Tư Sang có các lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu như Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; Dương Thành Trung, Chủ tịch UBND tỉnh và ông Tô Hoài Dân.   Dự án điện gió Bạc Liêu hình thành với phần hỗ trợ vốn của Ngân hàng Xuất - nhập khẩu Hoa Kỳ (US-Exim) – kết quả từ sự ‘vận động’ của bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tập đoàn General Electric (Hoa Kỳ) là nhà cung cấp thiết bị tua bin gió.   Giai đoạn ông Ba Dũng giữ chức Thủ tướng, thì ngoài dự án điện gió Bạc Liêu, Ngân hàng US Exim còn chấp nhận đề xuất từ chính phủ Việt Nam về việc Công ty Công Lý làm đầu mối cho dự án Trung tâm điện gió đồng bằng sông Cửu Long tại các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh với tổng vốn đầu tư tương đương hơn 25 ngàn tỷ đồng Việt Nam.   Tuy nhiên sau khi ông Ba Dũng trở về ‘làm người tử tế’, thì đối tác ở giai đoạn III của dự án điện gió Bạc Liêu lại là Tập đoàn Super Wind Energy Thái Lan, với bên ‘vận động’ giờ đây là Vũ Chí Hùng, người con rể của ông Bảy Nguyễn Xuân Phúc.   Tin tức báo chí cho biết công an bắt ông Tô Công Lý nhằm để làm rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt hàng chục tỉ đồng tại dự án nhà máy xử lý rác thải Cà Mau. Ông Lý bị cáo buộc lợi dụng chính sách hỗ trợ 50% kinh phí đầu tư nhà máy của nhà nước, để chiếm đoạt tiền đối với một số hạng mục xây dựng của nhà máy.   Cái lạ ở đây là nhà máy xử lý rác thải Cà Mau đã được nghiệm thu và hoạt động từ năm 2012, tổng công suất xử lý 200 tấn rác mỗi ngày. “Phải chăng vì thời gian đó ông Ba vẫn còn là Thủ tướng nên người ta ngại đụng đến ông Sáu Dân?”. Một luật sư quê gốc Cà Mau, thắc mắc.   Xem ra sắp vào nhiệm kỳ mới của Đảng, ở Việt Nam lại lắm chuyện ‘trâu bò húc nhau…’.  
......

Bà Đặng Thị Hoàng Yến kiện chính phủ Việt Nam hay kiện cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng?

Ảnh 'Đại gia mất tích' Đặng Thị Hoàng Yến Trúc Giang - Việt Nam Thời Báo (VNTB) - Dẫn nguồn tin từ Văn phòng Luật sư “Law Offices of Charles H. Camp, P.C.”, Hãng truyền thông PR Newswire đưa tin khá sốc về việc cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị kiện qua bài báo có tựa “American Economist Launches Over $2.5 Billion Arbitration Against Former Vietnamese Prime Minister Nguyen Tan Dung” [https://www.prnewswire.com/news-releases/american-economist-launches-over-2-5-billion-arbitration-against-former-vietnamese-prime-minister-nguyen-tan-dung-300913524.html]   PR Newswire có văn phòng đại diện tại Việt Nam, đặt ở lầu 8, Le Meridien Building, số 3 C Tôn Đức Thắng, quận 1, TP.HCM.   Một bài viết có nội dung tương tự trên trang chuyên môn của giới trọng tài quốc tế, rút tít khá mạnh mẽ kèm hình bìa bản tin là khuôn mặt ông Nguyễn Tấn Dũng: “Vietnam’s ex-prime minister hit with claim over power project” – dịch thoáng sang tiếng Việt là “Thủ tướng Việt Nam bị đánh vì dự án điện” [https://globalarbitrationreview.com/article/1197236/vietnam%E2%80%99s-ex-prime-minister-hit-with-claim-over-power-project] Vì sao không kiện chính phủ Việt Nam?   Xét từ góc độ pháp lý, đây là một vụ kiện lý thú vì nó đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới mẻ, mà chỉ đọc được tài liệu vụ kiện mới có thể phân tích thấu đáo các cơ sở khởi kiện mà luật sư nguyên đơn đã sử dụng để khởi động một vụ kiện vô tiền khoáng hậu như vậy liên quan đến Việt Nam.   Theo bản tin Anh ngữ, các luật sư nguyên đơn trong vụ thưa kiện quốc tế này là: Charles H. Camp (Washington, DC), Tiến sĩ Jalal El Ahdab (Paris), Anthony Buzbee (Houston), Chris Leavitt (Houston) và Minh-Tam (Tammy) Tran (Houston).   Việc kiện cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng theo trình tự tố tụng trọng tài, là yêu cầu của bà Maya Dangelas, quốc tịch Mỹ, được biết với tên Việt Nam là Đặng Thị Hoàng Yến, chủ tịch Công ty cổ phần Năng lượng Tân Tạo (TEC). Cựu đại biểu Quốc hội Việt Nam Đặng Thị Hoàng Yến và Cựu Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. (Ảnh VOA)   Bản tin Anh ngữ của PR Newswire nói rằng bà Đặng Thị Hoàng Yến kiện vì cho rằng khi còn làm Thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng từng hủy bỏ trái phép hợp đồng với TEC trong dự án Nhiệt điện Kiên Lương tại tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.   Thắc mắc ở đây là tại sao bà Đặng Thị Hoàng Yến không kiện chính phủ Việt Nam, mà lại kiện cá nhân ông Nguyễn Tấn Dũng trong giai đoạn là thủ tướng? Bởi sau đó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng có văn bản đồng ý theo đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang về việc thu hồi dự án Trung tâm Nhiệt điện Kiên Lương tại xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.   Phải chăng trong các thỏa thuận ký kết của dự án Nhiệt điện Kiên Lương, có các điều khoản mang tính cách cá nhân giữa ông Nguyễn Tấn Dũng với bà Đặng Thị Hoàng Yến?   Một ngờ vực khác, phải chăng động thái khởi kiện ông Nguyễn Tấn Dũng là nằm trong nghi vấn ở bản công bố báo cáo tài chính soát xét bán niên của Công ty cổ phần Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo - Itaco (ITA) do bà Đặng Thị Hoàng Yến làm chủ tịch, có một điểm mà kiểm toán đặc biệt lưu ý, là về khả năng thu hồi khoản đầu tư và phải thu từ 2 công ty có liên quan với tổng trị giá hơn 3,5 ngàn tỷ đồng. Kiểm toán nghi ngờ khả năng thu hồi khoản tiền khổng lồ liên quan đến dự án Nhiệt điện Kiên Lương.   Chính phủ Việt Nam hầu tòa quốc tế cũng thường rồi mà!   Đó là nhận định của ông Phạm Mạnh Dũng – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, cựu Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).   Theo ông Phạm Mạnh Dũng, pháp luật quốc tế nói chung, nhà đầu tư không được quyền kiện một quốc gia. Tuy nhiên, để khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã ký các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với nước ngoài, trong đó từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia trong trường hợp xảy ra tranh chấp với nhà đầu tư nước ngoài. Điều này dẫn đến việc, một khi tranh chấp xảy ra, Nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiện chính phủ Việt Nam ra trọng tài quốc tế.   Theo lẽ thường, khi hoạt động đầu tư nước ngoài càng phát sinh đa dạng, phong phú, sôi động, thì số lượng, tần suất, giá trị các tranh chấp đầu tư nước ngoài cũng tăng lên. Và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.   “Trong trường hợp dự án Nhiệt điện Kiên Lương là vốn hoàn toàn do doanh nghiệp trong nước đầu tư, do đó việc chọn một tòa trọng tài quốc tế để xử lý các tranh chấp như bài báo trên PR Newswire đưa tin, cá nhân tôi cảm giác có gì đó không ổn ở chỗ dường như bị đơn ở đây đang nhắm tới cá nhân ông Nguyễn Tấn Dũng.   Nếu tòa tuyên ông Dũng sai, thì khả năng thi hành án như thế nào?”. Luật sư Trần Thành (Đoàn Luật sư TP.HCM), thắc mắc và lưu ý chuyện Việt Nam đã trúng cử là thành viên của Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) nhiệm kỳ 2019-2025.   Trong lúc đó thì một tài liệu mà báo chí có được, phía Bộ Công thương có đưa ra phương án thu hồi dự án Nhiệt điện Kiên Lương. Theo đó, nhà nước khẳng định lỗi thuộc về chủ đầu tư, ra quyết định thu hồi chủ trương đầu tư và không đàm phán bồi thường.   Thuận lợi của phương án này là không phải bồi thường cho chủ đầu tư nếu có đầy đủ cơ sở pháp lý chặt chẽ khẳng định lỗi hoàn toàn do chủ đầu tư. Khó khăn là khó có đủ cơ sở pháp lý chặt chẽ để đưa ra quyết định thu hồi và dễ xảy ra tranh chấp.   Kết quả là vào cuối năm 2018, phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã đi đến quyết định chọn phương an thu hồi dự án, không đàm phán bồi thường, với lý do tính chất đặc thù của dự án BOT điện, nên khi dự án chưa hoàn thành thủ tục, chưa ký hợp đồng BOT với Bộ Công thương thì về phía Bộ Công thương và Chính phủ không có lý do gì mà bồi thường.   Lùm xùm chuyện gì ở dự án Nhiệt điện than Kiên Lương?   Một số thông tin liên quan về dự án Nhiệt điện Kiên Lương được giải trình tại phiên họp đại hội cổ đông thường niên năm 2019, tổ chức hôm 28/6/2019 của Công ty cổ phần Đầu tư công nghiệp Tân Tạo, thì thông qua người nhận ủy quyền là ông Đặng Thành Tâm, thông báo bà Đặng Thị Hoàng Yến có kế hoạch thoái toàn bộ vốn đầu tư tại nhiều dự án, bao gồm cả dự án Nhiệt điện Kiên Lương.   Một trong những lý do khiến bà Đặng Thị Hoàng Yến muốn thoái vốn là: “This filing aims to hold former Prime Minister Nguyen Tan Dung accountable for his actions in both his official and personal capacities. As a result, my client's loss of investment monies and profits are a direct result of the Prime Minister's actions in both his official and personal capacities” - PR Newswire dẫn lời của Tony Buzbee, Văn phòng Luật sư “Law Offices of Charles H. Camp, P.C.”, về cáo buộc đích danh cá nhân ông Nguyễn Tấn Dũng (lược dịch): “Hồ sơ này nhằm buộc cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chịu trách nhiệm về hành động của mình trong đưa ra các quyết định liên quan dự án đầu tư. Việc nhà đầu tư bị thiệt hại về vốn, về lợi nhuận chính là hệ lụy từ năng lực quản trị của thủ tướng”.   Theo tài liệu mà báo chí có được, trong báo cáo số 1488/UBND-KTTH tháng 9/2017, UBND tỉnh Kiên Giang cho rằng giai đoạn 2009 – 2013, chủ đầu tư dự án Nhà máy nhiệt điện Kiên Lương 1 và 2 là TEC đã chi tổng số 77,2 tỷ đồng để giải phóng mặt bằng một phần và san lấp địa điểm xây dựng, khoảng 60 ha diện tích ven biển cho khu vực chính xây nhà máy nhiệt điện.   Trong khi đó, báo cáo của TEC gửi Thủ tướng hồi tháng 5/2017 thì cho biết đã đầu tư trên 270 triệu USD, khoảng hơn 6.300 tỷ đồng. Số liệu giữa báo cáo của tỉnh Kiên Giang và TEC đang chênh nhau tới 81 lần.   Theo TEC, có tới 6.300 tỷ đồng dùng để hoàn thành 146 thủ tục pháp lý từ Trung ương đến địa phương; khảo sát, xây dựng báo cáo khả thi dự án; hoàn thành 98% giải phóng, san lấp mặt bằng; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh,  sẵn sàng thi công nhà máy, thu xếp vốn, nguồn than cho dự án và tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà thầu EPC quốc tế...   Báo cáo tháng 9/2017 của tỉnh Kiên Giang còn cho hay tỉnh hiện không thể liên lạc được với chủ đầu tư dự án TEC để trao đổi, bàn hướng xử lý vướng mắc dự án.   Theo hồ sơ, dự án Nhà máy Nhiệt điện Kiên Lương bắt đầu đình trệ từ cuối năm 2011, và có chuyển biến mới khi Thủ tướng cho phép chuyển đổi hình thức đầu tư sang BOT vào tháng 2/2014.   Tháng 12/2015, Bộ Công Thương và TEC ký kết biên bản ghi nhớ về việc phát triển dự án Kiên Lương 1 theo hình thức BOT với thời hạn hiệu lực 48 tháng. Tuy nhiên, sau lễ ký kết này, TEC đã không thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư nào. Từ cuối 2011, chủ đầu tư không nộp tiền sử dụng đất và cũng không xin gia hạn nộp theo quy định. Còn dự án Kiên Lương 2 chưa làm công tác chuẩn bị đầu tư do không có trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh).     Với dự án Cảng nước sâu Nam Du, ngoài việc khảo sát thực địa, đo đạc ngoại nghiệp và lên phương án bồi thường giải phóng mặt bằng lấy ý kiến hoàn chỉnh, đến nay TEC chưa triển khai thêm gì. Do đó, năm 2016 tỉnh Kiên Giang kiến nghị Thủ tướng không đưa Nhà máy nhiệt điện than Kiên Lương vào quy hoạch phát triển điện lực 2011-2020 có xét đến năm 2030 và Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 xét triển vọng đến năm 2030. Tỉnh cũng đề nghị thu hồi chủ trương đầu tư Cảng nước sâu Nam Du.   Ngay tại Việt Nam, TEC đã ‘đổ thừa’ tại Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng   Ngày 31/8/2018, TEC đã có công văn gửi Bộ Công thương cho rằng, việc loại bỏ dự án Kiên Lương 1 ra khỏi Quy hoạch điện VII điều chỉnh là nguyên nhân chính dẫn đến dự án không thể triển khai được.   Về các cáo buộc của chính quyền tỉnh Kiên Giang, TEC khẳng định là không chính xác. Theo đó, dự án nhiệt điện này đã được Chính phủ giao cho TEC nghiên cứu, đầu tư và phát triển. Đến năm 2014, để tháo gỡ vướng mắc cho dự án về việc cấp bảo lãnh của Chính phủ (GGU), TEC đã chấp nhận chuyển sang đầu tư theo hình thức BOT để dự án sớm được triển khai.   “Ngay sau đó, TEC đã đàm phán Biên bản ghi nhớ Phát triển Dự án (MOU) với Tổng cục Năng Lượng và đã ký kết MOU vào tháng 12/2015 và thống nhất ngày vận hành thương mại dự án vào năm 2025”, một báo cáo gửi Bộ Công Thương của TEC cho biết.   Đáng lưu ý, theo TEC, ngay sau khi ký MOU, trong lúc TEC đang tích cực triển khai dự án thì ngày 29/1/2016, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bất ngờ quyết định rà soát loại bỏ dự án nhiệt điện Kiên Lương 1 khỏi Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) theo thông báo số 26/TP-VPVP của Văn phòng Chính phủ và Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/3/2016. Ngay sau đó, TEC cũng cho biết đã có 9 văn bản báo cáo Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các bộ ngành liên quan về dự án này.   Theo TEC, chính quyết định loại bỏ dự án Kiên Lương 1 ra khỏi Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) là nguyên nhân chính dẫn đến việc dự án không thể triển khai được.   Bình luận về văn bản phản ứng trên của TEC, một số chuyên gia am hiểu về dự án này cho rằng, những ý kiến của TEC cũng cần xem lại, vì khi rút dự án Kiên Lương 1 ra khỏi quy hoạch điện thì khi đó, dự án mới chỉ nằm trên ý tưởng và mới có văn bản ghi nhớ, chưa chưa có một quyết định đầu tư nào. Và cho đến nay, khu vực dự án vẫn hầu như chưa có gì, nên khó có thể ghi nhận là nhà đầu tư đã bỏ ra hàng trăm triệu USD.   Trong một diễn biến khác, giới chuyên gia cũng nhận định trong thời điểm này, khu vực đồng bằng sông Cửu Long không cần thêm bất cứ nhà máy nhiệt điện than nào nữa, vì đã ‘bội thực’. Trong đó, chỉ riêng khu vực lân cận đã xuất hiện hàng loạt dự án nhiệt điện như: Duyên Hải 2, Duyên Hải 3, Sông Hậu 1, Sông Hậu 2, Sông Hậu 3; Long Phú 2…   Chưa kể đến địa hình tại Kiên Lương có nhiều yếu tố phức tạp, không phù hợp cho việc đặt các dự án nhiệt điện than; như địa chất không ổn, tàu vận chuyển than khó vào và không dễ dàng để kết nối đường dây 220 KV ở đây.   “Thời điểm cách đây 10 năm, trên thị trường đang sôi động đầu tư cho các dự án nhiệt điện than tại đồng bằng sông Cửu Long. Tập đoàn Tân Tạo đã đăng ký và được sự đồng ý của Bộ Công Thương cho đầu tư dự án Nhà máy Nhiệt điện Kiên Lương 1. Tuy nhiên, bây giờ thì không còn phù hợp nữa. Nếu có thưa gửi liên quan chuyện đầu tư này, bị đơn phải là chính phủ Việt Nam.   Việc đổ thừa cho ông Nguyễn Tấn Dũng là không hợp lý, vì sau đó người tích cực cho thu hồi dự án này là phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng. Ông Nguyễn Tấn Dũng ngay sau khi ký phê duyệt Đề án Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 của Bộ Công thương, là ông đã nghỉ hưu…”. Luật sư Trần Thành biện luận.   Tính đến hiện tại, Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa thấy lên tiếng về vụ thưa kiện nói trên.  
......

Phải chăng đảng chỉ là công cụ?

Nguyễn Đình Cống| Trong bài “Trò chuyện với ông Mahathir” tôi có viết rằng, “đảng chỉ là công cụ”. Ông từ bỏ đảng cũ như cởi một chiếc áo rách và bẩn. Viết bài này tôi xin bàn thêm. Đảng là công cụ của ai? Thưa rằng, là của một người hoặc một nhóm các chính trị gia. Họ lập ra đảng và điều hành nó nhằm phục vụ cho các ý đồ chính trị. Tại các nước đa đảng thì điều này là khá rõ ràng. Còn đối với các nước độc đảng theo chủ nghĩa Mác Lê thì sao, phải chăng các đảng đó cũng chỉ là công cụ? Đảng theo chủ thuyết Mác, dù lấy tên là Cộng sản, Lao động hay tên khác, thì cũng đều theo hình mẫu “đảng kiểu mới” do Lê Nin vạch ra, đó là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là đảng lãnh đạo cách mạng vô sản. Người ta đưa ra các khái niệm giai cấp lãnh đạo, đảng lãnh đạo. Người ta tôn đảng thành một tổ chức thiêng liêng. Đó là những nhầm lẫn vô cùng tai hại. Khái niệm giai cấp lãnh đạo đã tỏ ra là một ngụy biện bậc cao, một sự lừa bịp nguy hiểm. Khái niệm đảng lãnh đạo là mơ hồ. Khi chưa giành được chính quyền thì sự lãnh đạo của đảng thông qua việc đề ra đường lối rồi tuyên tuyền, vận động thực hiện. Khi đã có chính quyền thì sự lãnh đạo cũng bắt đầu bằng việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, soạn ra các nghị quyết rồi thông qua hệ thống chính quyền để thực hiện, bằng cách biến các nghị quyết của đảng thành luật pháp, bằng công tác chính trị tư tưởng, bằng kiểm tra. Gốc gác nhất, quan trọng nhất của lãnh đạo là “đề ra đường lối”. Vậy đảng hay ai đề ra nó? Đảng là một tổ chức. Tổ chức thì cụ thể, nhưng nói đảng đề ra đường lối thì đảng ở đây lại không cụ thể mà chỉ là một cái tên. Một đường lối nào đó mang danh là của đảng thì không phải do tổ chức đảng đề ra. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách đều bắt đầu bằng ý tưởng của một người hoặc của một nhóm nhỏ người. Dù ban đầu có nhiều người cùng suy nghĩ thì tại một nơi cũng chỉ có một người đề xuất đầu tiên (có thể tại các nơi khác nhau có vài người cùng đề xuất), sau đó họ thảo luận, bổ sung, sửa đổi, để trở thành ý kiến tập thể của một nhóm người. Rồi đường lối đó được phổ biến cho toàn đảng. Thề là thành đường lối của đảng. Như vậy đảng chỉ nhận vờ. Thực sự của việc đề ra đường lối của việc lãnh đạo là của một người hoặc một nhóm người ở trên cao. Đó là Lãnh tụ, là Bộ Chính trị. Vậy phải chăng sự lãnh đạo là của một nhóm các chính trị gia, còn đảng là công cụ của họ. Nêu ra ý kiến trên đây tôi hy vọng góp phần xóa ý tưởng cho rằng, đảng là vô cùng thiêng liêng, xóa nỗi lo “thà mất nước còn hơn mất đảng”. Tôi thiết tha mong muốn các nhà nghiên cứu chính trị, các học giả phản biện và làm sáng rõ vấn đề này. Về đảng CSVN, người ta tuyên truyền rằng, Dân tộc VN đã sinh ra nó. Tôi nghĩ có lẽ không phải. Nó là sản phầm ngoại lai, được nhập vào trong lòng dân tộc. Ban đầu, nhờ ẩn nấp vào lòng yêu nước nó được dân tộc cưu mang, nhưng rồi khi nắm được chính quyền thì những người ở trên chóp bu của đảng đã vì ý thức hệ mà biến nó thành công cụ để thống trị , tự đặt mình cao hơn Dân tộc. Liệu một dân tộc có lịch sử quật cường như Dân tộc Việt Nam có chấp nhận mãi điều này, đem một loại công cụ để thờ tự trên cả Tổ tiên.    
......

Một bài toán mà ĐCSVN không bao giờ giải nổi

Van Nga DO| Việt Nam có vị trí gần Trung Quốc, điều đó không thể thay đổi. Chuyện tranh chấp không thể nào tránh khỏi. Với kẻ yếu như Việt Nam, nếu tranh chấp tay đôi với Trung quốc không thể có sự công bằng cho mình được. Liên minh quân sự với kẻ mạnh hơn Trung Cộng để tìm lợi thế cho mình là cách duy nhất để Việt Nam đứng vững. Nhật và Hàn đã nhìn ra hướng giải quyết này từ rất sớm, và họ đã có bước đi vững chắc. Đó là bài học cho Việt Nam. Thực tế trên thế giới, đất nước nào tiến bộ thì chính quyền đó tử tế. Luôn có mối quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ giữa sự tử tế của chính quyền với sự cường thịnh của quốc gia đó. Chính vì vậy, mà chúng ta thấy rằng, Mỹ luôn chọn kẻ giàu để chơi, bởi vì họ chọn kẻ giàu cũng đồng nghĩa với việc họ chọn kẻ tử tế. Trong mối quan hệ hợp tác, chỉ có những kẻ tử tế cộng tác với nhau thì mới có được thế trận cả 2 cùng thắng win-win. Còn một khi có 1 trong 2 hoặc cả 2 kẻ hợp tác đều là phường lưu manh thì ắt sẽ xuất hiện hiện tượng lừa gạt nhau, lợi dụng nhau, ỉ mạnh bắt hiếp yếu vv.. Mối quan hệ Việt Trung là hình mẫu của sự bắt tay giữa phường lưu manh với nhau như thế. Trên thế giới, chúng thấy rằng mối quan hệ giữa Mỹ -Nhật, Mỹ – Hàn vẫn chặt chẽ hơn mối quan hệ Mỹ – Phi. Vì thiếu tầm nhìn nên năm 1992, Philippines đã để Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi căn cứ Subic, để rồi hôm nay Trung Quốc lộng hành Biển Đông mà chẳng làm gì được họ ngoại trừ kiện. Như vậy qua đây chúng ta thấy, để giải bài toán làm sao Việt Nam đứng vững trước Trung Cộng thì bắt buộc Việt Nam phải liên minh quân sự với Mỹ. Mà để liên minh với kẻ tử tế thì trước hết mình phải là kẻ tử tế. Với chất lưu manh trở thành gene duy truyền thì mãi mãi ĐCS không làm được một chính quyền tử tế được. Những cuộc gặp gỡ cấp cao giữa người đứng đầu nhà nước Việt Nam và tổng thống Hoa Kỳ nếu nhìn sâu vào bản chất, thì nó là một sự cầu cạnh. Phía Việt Nam mỗi khi muốn gặp thì bộ ngoại giao Việt Nam vận động hành lang rất mạnh để có được cái gật đầu của tổng thống Mỹ. Cần phải biết, trong các cuộc gặp gỡ ấy, dù cho đó là Mỹ đến thăm Việt Nam hay phía Việt Nam sang Mỹ thì luật chơi không bao giờ thay đổi, Mỹ vẫn là kẻ ra giá và Việt Nam phải là kẻ trả giá. Thực tế, Mỹ đã ra giá quá cao, với tầm của ĐCS thì không bao giờ với tới được. Chính vì thế mà mối quan hệ này chỉ dừng lại ở việc mở rộng buôn bán, còn vấn đề hợp tác với Mỹ để mang lại sự an toàn cho Việt Nam trước Trung Cộng thì vẫn đang là con số zero tròn trĩnh. Thực ra không phải Việt Nam không muốn nhích lại gần Mỹ, mà đúng hơn là Mỹ không muốn kết thân với một kẻ lưu manh như Việt Nam. Kết thân gì với thằng mà trong nước của nó nó chửi mình, nhưng khi gặp mình nó năn nỉ vuốt ve? Nói thẳng ra là CSVN không đủ độ tử tế để kiếm một quan hệ chặt chẽ hơn với Mỹ. Cho nên mối quan hệ Mỹ – Việt chỉ tới như vậy thôi không thể tiến xa hơn. Thực ra bảo CS tử tế thì còn khó hơn lên trời hái sao, vì vậy mà bài toán chọn đồng minh để cân bằng tiếng nói với Trung Cộng đang là một bài toán hoàn toàn bế tắc đối với chính quyền Hà Nội. Tuy đi khắp nơi bắt tay để khè với dân Việt rằng “Thấy chưa! Đảng có nhiều bạn chưa?”, nhưng thực chất trong một rừng cái bắt tay xã giao đó CSVN không không hề có mối quan hệ khăng khít nào cả, CSVN đang rất đơn độc. Chính sách 3 không “không tham gia các liên minh quân sự với bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia” theo tôi chưa hẳn là Ba Đình muốn vậy, mà đó là vì trong tình thế chơ vơ không có ai để bấu víu nên đành xổ ra cái chính sách 3 không ấy cho oách rằng “bởi tao không thèm chơi với kẻ khác chứ chẳng phải không ai chơi với tao à nha” đại khái là ý đồ của họ như vậy. Thực chất mối quan hệ với Mỹ không hề có tiến triển, “trong cái khó ló cái khôn”, và một trong “cái khôn” đó của Hà Nội là, giật lấy tấm khiên của các anh cường quốc để che chắn cho mình. Nghĩa là sao? Nghĩa là Hà Nội mời các công ty dầu khí từ các cường quốc như Anh, Tây Ban Nha, Mỹ, Nga đến để án ngữ tại vị trí tranh chấp, và ĐCSVN nghĩ rằng, với những tấm khiên như BP, Repsol, ExxonMobil thì Trung Cộng sẽ ngại đụng tới- một kế sách khá ma lanh. Thế nhưng Hà Nội đã lầm, dù cho có tấm khiên made in USA nhưng Trung Cộng giật văng hết mà không hề ngán ngại. Những BP, Repsol, ExxonMobil lần lượt đều rút chạy làm ĐCSVN phải vơ vét tiền dân đền bù cho những công ty này vì đã phá vỡ hợp đồng. Một nước cờ sai của ĐCS đã dẫn đến tiền mất tật mang cho đất nước. Rõ ràng chúng ta thấy rằng, với bản chất lưu manh lọc lõi của ĐCSVN, họ không thể nào giải quyết được bài toán bảo vệ chủ quyền cho đất nước vì đơn giản họ không thể làm chính quyền tử tế được. Phải khẳng định rằng, còn CS thì Việt Nam chỉ có nhường cho Trung Cộng mỗi khi con quái thú này đòi hỏi mà không có cách nào để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Và thực tế, về lâu về dài, ĐCS đã để chủ quyền đất nước ngày càng bị teo tóp. ĐCS cũng biết họ bất lực, nhưng vì tham lam và đặt quyền lợi đảng lên trên quyền lợi đất nước mà họ quyết không từ bỏ độc quyền cai trị. Bài toán chủ quyền và sự trường tồn của dân tộc, đó là bài toán của 100 triệu dân giải quyết ĐCS chứ không phải là bài toán của ĐCS./. Nguồn ảnh https://chantroimoimedia.com
......

Rạng Đông thừa nhận sử dụng thủy ngân lỏng, viết thư xin lỗi lãnh đạo thành phố

Hiện trường nhà kho bên ngoài sau vụ cháy nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông ở Hà Nội (Courtesy of baotainguyenmoitruong.vn) RFA| Lãnh đạo công ty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông thừa nhận đã sử dụng thủy ngân lỏng trong 480.000 bóng đèn huỳnh quang bị cháy trong vụ hỏa hoạt xảy ra tại nhà máy này đêm hôm 28 tháng 8 vừa qua. Truyền thông trong nước hôm 8/9  trích thông tin từ Tổng cục Môi trường  - Bộ Tài nguyên và Môi trường cho hay. Cụ thể, tại buổi làm việc của Tổng cục Môi trường với lãnh đạo công ty Rạng Đông hôm 31/8, lãnh đạo công ty thừa nhận đã sử dụng thủy ngân lỏng với hàm lượng 20 mg/bóng cho 480.000 bóng đèn huỳnh quang, và sử dụng Amalgam cho 1.600.000 bóng đèn compact, cùng một số nguyên liệu và hóa chất độc hại khác. Amalgam là hỗn hống của thủy ngân, kẽm và Bismut. Hôm 4/9, Bộ Tài nguyên Môi trường công bố kết quả quan trắc và các mẫu lấy xung quanh khu vực xảy ra vụ cháy tại công ty Rạng Đông và xác định có khoảng từ 15,1 kg đến 27,2 kg thủy ngân bị phát tán ra môi trường. Bộ Tài nguyên – Môi trường khẳng định, tại một số thời điểm, quan trắc không khí trong khuôn viên nhà máy sau vụ cháy có lượng thủy ngân cao vượt ngưỡng khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới. Bộ Tài nguyên và Môi trường khuyến cáo người dân trong bán kính 500 m tính từ hàng rào nhà máy cần thực hiện các biện pháp phun rửa nhà cửa và đồ dùng; Người dân sống trong bán kính 200 m đến 500 m cần đi khám khi có dấu hiệu ngộ độc thủy ngân. Trong khi đó, vào ngày 6/9, Tổng giám đốc công ty Rạng Đông, ông Nguyễn Đoàn Thắng đã viết thư gửi đến lãnh đạo thành phố Hà Nội, phường Thanh Xuân Trung, Hạ Đình và quận Thanh Xuân, cùng các đơn vị, cơ quan, nhân dân hai phường để xin lỗi về hậu quả vụ cháy. “Sự cố hỏa hoạn xảy ra tại công ty chúng tôi đã làm bận tâm, phiền hà đến lãnh đạo thành phố, quận Thanh  Xuân, ảnh hưởng sức khỏe của lực lượng PCCC và đặc biệt tới nhân dân 2 phường sát công ty”, bức thư có đoạn viết. Lãnh đạo công ty viết tiếp: “Thay mặt Ban Lãnh đạo và toàn thể CBCNV Công ty CP Bóng đèn Phích nước  Rạng Đông qua thư xin lỗi này gửi lời xin lỗi của chúng tôi tới Thành ủy, UBND Thành phố Hà Nội, tới Đảng ủy, UBND Quận Thanh Xuân, UBND hai Phường Thanh Xuân Trung, Hạ Đình và bà con dân cư khu vực quanh Công ty”. Hiện vẫn chưa có số liệu thống kê chính thức được công bố về số người dân thực sự bị ảnh hưởng bởi vụ hỏa hoạn. Tin vào ngày 9 tháng 9 cho biết khoảng 300 học sinh tại trường tiểu học Hạ Đình được phụ Huynh cho nghỉ học vì sợ bị ô nhiễm thủy ngân. Phòng Giáo dục & Đào Tạo Quận Thanh Xuân thừa nhận có 320 học sinh trên tổng số hơn 1300 học sinh của trường nghỉ học, trong số này có hơn 220 em sống cách khu vực nhà máy Rạng Đông 500 mét. Thống kê cũng cho thấy có gần 90% hộ dân tại Chung cư 54 Hạ Đình, hơn 40% hộ dân tại Chung cư 143 Hà Đình và nhiều hộ dân, kinh doanh quanh khu vực Công ty Rạng Đông đã chuyển đi nơi khác sau vụ cháy hôm ngày 28 tháng 8. Cũng tin được loan đi vào ngày 9 tháng 9 thì Bộ Tư Lệnh Thủ đô đã phối hợp với Bộ Tư Lệnh Hóa Học, Bộ Quốc Phòng đã lấy hơn 20 mẫu môi trường tại khu vực bị cháy, cống nước thải của nhà máy Công ty Rạng Đông và Công ty Thể Thao Động lực, nước sông Tô Lịch tại Hà Nội để làm xét nghiệm, đánh giá hiện trạng ô nhiễm, làm cơ sở xây dựng phương án tiêu tẩy, khắc phục môi trường. RFA https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/rang-dong-admit-using-liquid-mercury-09082019113108.html **** KỊCH BẢN CỦA MỘT VỤ CHÁY... Trương Xuân Thiên Cậu nghe giang hồ đồn đại có rất nhiều đại gia đang khát đất vàng Hà Nội. Các nhà máy vang bóng một thời đều rơi vào tay các đại gia ăn đất. - Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo nay là Vincom. - Nhà máy cơ khí chính xác số 1 nay là Royal city. - Nhà máy dệt kim Hà Nội và dệt 8/3 nay là Time city - Công ty Viettronic Đống Đa (Láng Thượng - Nguyễn Chí Thanh) nay là Vincom plaza - Triển lãm Giảng Võ nay là Vinhomes city - Nhà máy xà phòng Hà Nội nay là Hoàng Huy Golden - Nhà máy dệt kim Mùa Đông nay là Goldseason city của TNR - Nhà máy xe đạp Thống Nhất nay là TN complex - Gara Transico nay là dự án 90 Nguyễn Tuân của đại gia Hoàng Mạnh Thắng Urinco 7 - Đất vàng Cao su Sao Vàng nay về tay Hoành Sơn. - Đất vàng của Giày Thượng Đình đã có chủ và chuẩn bị được công bố. Duy nhất chỉ còn Rạng Đông của ông già gân Nguyễn Đoàn Thăng, một anh hùng đúng nghĩa là chưa đại gia nào "nuốt trôi". Các doanh nghiệp bán đất vàng cho đại gia sau khi di dời không chết lâm sàng cũng làm ăn bết bát, èo uột hoặc đã phá sản. Ngược lại, Rạng Đông của "ông già gân", "anh hùng đúng nghĩa" Nguyễn Đoàn Thăng lại phát triển quá tốt. Có thể nói RAL là doanh nghiệp tốt nhất trong hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước vang bóng một thời được cổ phần hóa. Cuộc chạy đua nước rút với Điện Quang, Rạng Đông xuất phát sau nhưng đã vượt lên bỏ xa đối thủ. Chỉ trong 5 năm, RAL đã tăng doanh số từ 1000 tỉ lên 5000 tỉ, lợi nhuận từ 50 tỉ lên 300 tỉ, cổ tức thuộc top cao nhất so với hàng ngàn ông lớn niêm yết trên sàn. RAL là doanh nghiệp duy nhất trên toàn Việt Nam do công nhân, người lao động làm chủ. Công đoàn công ty hiện chiếm tới 42% cổ phần và là cổ đông lớn nhất, có tiếng nói quyết định. Đây là một mô hình quản trị đặc biệt bậc nhất Việt Nam. Rất nhiều "trùm sò" tài chính trong nước, các định thế tài chính quốc tế sẵn sàng chi tiền tấn để sở hữu 1 trong những doanh nghiệp tốt nhất Việt Nam này nhưng đều thất bại. Ông già gân Nguyễn Đoàn Thăng và công đoàn quyết từ chối tiền tấn để giữ lại hồn cốt doanh nghiệp. Vì thế, RAL tuy quy mô nhỏ nhưng luôn được Forbes xếp hạng 1 trong 50 doanh nghiệp niêm yết tốt nhất Việt Nam. Về chuyện 5,7 ha đất vàng RAL có thể quy đổi trong hệ quy chiếu với Cao su Sao Vàng. 6,2 ha đất vàng của Sao Vàng được định giá 1300 tỉ. Tuy nhiên đất của Sao Vàng mặt phố lớn, của RAL mặt ngõ nhỏ, sâu. Vì thế 5,7 ha này có thể bán tối đa 900 tỉ. Với 900 tỉ Công ty sẽ bị truy thu tiền chuyển đổi mục đích đất hàng trăm tỉ. Tiền thuế VAT 90 tỉ, tiền thuế thu nhập doanh nghiệp 23%. Như vậy, số tiền thực chất thu được không đáng là bao, không đủ để di dời nhà máy. Chủ đề di dời nhà máy luôn được đề cập trong các đại hội cổ đông của RAL và luôn bị cổ đông lớn phủ quyết. Quyết không bán mình cho các đại gia, ông già gân đang xin ý kiến cổ đông bằng văn bản bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản để tự đầu tư nhằm tối ưu hóa lợi ích. Có thể, vì thế mà một vài đối tác hạng siêu trùm cuối đã ngắm nghía mảnh đất 5,7 ha này từ lâu cảm thấy phật ý. Và vụ cháy xảy ra đúng quy trình như tất cả chúng ta đã biết... Fb Chú Tễu  
......

‘Tổng Tịch’ Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm Mỹ và ‘khoan dầu nuôi đảng?’

Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước CSVN Nguyễn Phú Trọng tiếp đón Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm 27 Tháng Hai, 2019, tại Hà Nội. (Hình: Getty Images) Phạm Chí Dũng - Người Việt| 9/9/2019 Đã bắt đầu manh nha vài tin tức vụn vặt về chuyến đi Mỹ của “Tổng Tịch” Nguyễn Phú Trọng, có thể diễn ra vào Tháng Mười 2019, tức trễ khoảng 4 – 5 tháng so với lịch dự định ban đầu cho chuyến đi này vào đầu năm 2019, một chủ đề chẳng có gì đặc biệt trong con mắt của giới quan sát chính trị và báo chí phương Tây. Giáo Sư Carl Thayer, một chuyên gia theo dõi chặt chẽ về những biến động chính trị ở Việt Nam và mối quan hệ của Việt Nam với các nước, cho biết đã có một đợt vận động hành lang của Bộ Ngoại Giao Việt Nam để Nguyễn Phú Trọng được Donald Trump tiếp. Tin tức này là có cơ sở bởi vào Tháng Năm, 2019, Ngoại Trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh đã có một chuyến đi Mỹ khá đặc biệt, không chỉ gặp gỡ giới ngoại giao mà còn cả với giới quốc phòng của Hoa Kỳ. Đó là một chuyến đi được giới quan sát cho là tiền trạm cho Nguyễn Phú Trọng và cũng khiến Phạm Bình Minh như được “hồi sinh,” kể từ lần bị thất sủng thấy rõ tại Hội Nghị Trung Ương 6 vào Tháng Mười, 2017. Trong khi đó cũng lác đác một ít thông tin của giới “chuyên gia thân đảng” về lịch đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng: lúc đầu là Tháng Sáu, rồi “dời lại” vào Tháng Bảy, Tháng Tám hoặc những tháng còn lại của năm 2019… Lẽ ra, ông Trọng đã đặt chân lên Washington D.C. vào giữa năm 2019, nếu không xảy ra cú bạo bệnh thình lình trong đợt ông ta bất ngờ đi công tác tại Kiên Giang “nhà Ba Dũng” vào Tháng Tư, 2019. Cú bạo bệnh này (mà diễn tiến của nó được cho là phức tạp về hệ thần kinh) đã khiến Trọng phải nằm điều trị trong một thời gian khá dài mà không thể tiếp khách hay ra nước ngoài. Tuy nhiên, cho đến khi Nguyễn Phú Trọng có vẻ thực sự thoát khỏi mối nguy hiểm chấn thương sọ não và bắt đầu phục hồi cử động tứ chi vào Tháng Bảy, 2019, lịch tiếp khách của Tổng Thống Trump lại dường như không còn trống chỗ để đón Trọng. Vào khoảng thời gian đó, Trump còn bận rộn với cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung tăng tốc cùng kế hoạch sơ thảo cho chiến dịch tái tranh cử chức vụ tổng thống Mỹ nhiệm kỳ tới. Vấn đề còn lại là phải do một nguyên cớ thật sự đặc biệt được nêu ra từ phía Việt Nam, chứ không phải là nguyên do vụn vặt, thì Trump mới có thể xếp lịch tiếp Trọng theo đúng nghi thức đón tiếp một nguyên thủ quốc gia, và với điều kiện cuộc làm việc Mỹ – Việt phải đi vào thực chất chứ không chỉ qua loa xã giao theo não trạng “mình phải như thế nào người ta mới tiếp như thế chứ.” Nhưng dù sao, tín hiệu đầu tiên cho cuộc tiếp đón Nguyễn Phú Trọng đã được phát ra bởi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan. Ai cần ai hơn? Điểm khác biệt lớn nhất giữa lần dự kiến đi Mỹ vào giữa năm 2019 của Nguyễn Phú Trọng và lần dự kiến thứ hai vào Tháng Mười cùng năm là hội chứng tàu Trung Quốc. Trước Tháng Năm, 2019 và trong lúc Nguyễn Phú Trọng còn phải nằm giường điều trị, đã chưa có vụ tàu Trung Quốc gây hấn ở khu vực Bãi Tư Chính. Vấn đề quan hệ Việt – Mỹ có cần thiết được đẩy lên tầm “đối tác chiến lược” hay không cũng bởi thế không quá khẩn thiết đối với Trọng và giới chóp bu trong Bộ Chính Trị đảng, dù trước đó đã liên tiếp xảy ra hai vụ Trung Quốc gây hấn đều ở Bãi Tư Chính vào Tháng Bảy, 2017 và Tháng Ba, 2018. Trong lần dự kiến đầu tiên đi Mỹ, nhiều khả năng Nguyễn Phú Trọng muốn tập trung đàm phán với Mỹ về việc làm thế nào để Mỹ chấp nhận cho Việt Nam có được quy chế “kinh tế thị trường tự do” mà do đó Việt Nam có thể nhận được những ưu đãi hơn về vốn vay ODA cùng thúc đẩy đà gia tăng giá trị xuất khẩu hàng hóa và thị trường Mỹ, đồng thời thuyết phục Trump về việc kinh tế Việt Nam không đến nỗi quá nguy hiểm cho nước Mỹ để Mỹ không cần phải dựng đứng hàng rào thuế quan đối với hàng hóa Việt xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ. Đã rõ là trong nửa đầu năm 2019, giới chóp bu Việt Nam vẫn đu dây Trung Quốc và tái diễn thói ưỡn ẹo với người Mỹ. Nhưng kể từ đầu Tháng Sáu, 2019, thế cục đã biến hẳn. Trung Quốc bắt đầu điều tàu phá rối ở mỏ Lan Đỏ, nơi được liên doanh giữa Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN) với Tập Đoàn Dầu Khí Rosneft của Nga. Sang đầu Tháng Bảy thì vụ gây hấn này đã lan sang Bãi Tư Chính, đặc biệt xoáy vào mỏ Cá Rồng Đỏ, liên doanh giữa PVN với hãng dầu khí Repsol của Tây Ban Nha. Đến lúc đó, tương quan lực lượng cùng cán cân đàm phán Việt – Mỹ đã nghiêng hẳn về phía Mỹ, xét trên phương diện “ai cần ai hơn.” Từ cuối Tháng Bảy, 2019, Mỹ đã trở thành quốc gia đầu tiên lên tiếng ủng hộ Việt Nam, dù chỉ là gián tiếp, chống lại thói bắt nạt của Trung Quốc trên Biển Đông, và cho tới nay Mỹ vẫn là quốc gia gần như duy nhất dám nhắc đến cái tên Trung Quốc với cảm xúc lên án chứ không phải bằng những từ ngữ xã giao né tránh như cái cách mà Liên Minh Châu Âu (EU) và các nước Anh, Pháp, Đức, Úc bày tỏ. Không chỉ Bộ Ngoại Giao, mà cả Bộ Quốc Phòng và Cố Vấn An Ninh của Hoa Kỳ đã cùng lên tiếng về chủ đề này không chỉ một lần. Cùng lúc, hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan được Mỹ điều đến Biển Đông để tuần tra, mà về thực chất là án ngữ ở cửa ngõ vùng biển mà rất có thể xảy ra một cuộc xung đột vũ trang bắt nguồn từ “đồng chí tốt” của Việt Nam. Bài toán đặt ra với Nguyễn Phú Trọng hiện thời là trong khi ông ta vẫn tuyệt đối “cấm khẩu” về vụ tàu Hải Dương và giới quan chức cấp dưới của ông ta cũng “sao y bản chánh,” Trọng làm sao phải gấp rút thời gian để lôi kéo được người Mỹ tham gia bảo vệ không chỉ vùng biển mà cả vùng trời của Việt Nam ở Biển Đông, hệt theo cái cách vung tay đầy “dũng khí” của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam về việc Việt Nam không chỉ “tôn trọng tự do hàng hải” mà còn “tôn trọng tự do hàng không.” Nếu hành động đó được triển khai có hiệu quả thì Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam sẽ yên tâm khai thác dầu khí cùng với các đối tác liên doanh mà không còn quá sợ hãi bị Trung Quốc bắt nạt, còn Bộ Quốc Phòng Việt Nam cũng có thể tỏ ra can đảm hơn đôi chút chứ không đến nỗi bị dân chửi “ngư dân bám biển, hải quân bám bờ” và “chưa đánh chác gì đã đái cả ra quần.” Và làm sao đạt được quan hệ “đối tác chiến lược” với Mỹ càng sớm càng tốt, hoặc ít ra cũng thủ được một bản ghi nhớ với Mỹ về chủ đề này, để bảo đảm rằng quốc gia đối trọng duy nhất với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ hỗ trợ chế độ cộng sản Việt Nam khai thác dầu khí. Làm cách nào để khoan dầu nuôi đảng? Từ Tháng Tư năm 2019, đã bắt đầu khởi động vài tín hiệu cho triển vọng đối tác chiến lược Việt – Mỹ. Đó là lúc một số quan chức cấp thứ trưởng của Mỹ và Việt Nam đã tổ chức hội thảo mang tên “Việt- Mỹ: Hướng đến hợp tác chiến lược” tại Trung Tâm Chiến Lược & Nghiên Cứu Quốc Tế CSIS ở thủ đô Washington. Có thể xem hội thảo trên là một trong số hiếm hoi hoặc là lần đầu tiên hai bên bàn về chủ đề không còn là chuyện giỡn chơi hay trả treo mặc cả này. Đối với chính thể Việt Nam, bây giờ không còn là lúc ngả ngớn õng ẹo đu dây giữa Mỹ và Trung Quốc nữa, mà Hà Nội đang bị “đồng chí tốt” ép bật khỏi những giếng dầu ở Biển Đông khiến ngân sách – vốn đang tồi tệ – càng nguy khốn hơn. Kể từ năm 1975, chưa bao giờ Mỹ và Việt Nam lại sát gần với quan hệ đối tác chiến lược như vào lúc này, đặc biệt từ thời điểm mùa xuân năm 2019, lúc mà giới chóp bu Việt Nam đã chuyển từ sáo ngữ cửa miệng “lợi ích tương đồng” với Bắc Kinh sang một chiến dịch “tố cáo giặc Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc năm 1979,” và tiến đến những gì cần có để một liên minh quân sự Việt – Mỹ trong tương lai gần có thể đánh bật Trung Quốc khỏi Biển Đông. Nếu chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng diễn ra vào Tháng Mười, 2019 và nếu mọi chuyện thuận buồm xuôi gió, sau cuộc cuộc gặp Trump – Trọng tại Washington sẽ hiện ra một văn bản được ký giữa hai bên như kiểu “Hiệp Ước tương trợ quốc phòng” mà Mỹ đã ký với Philippines, hoặc ít ra cũng là một bản ghi nhớ về việc sẽ tiến hành chuyện đó trên nền tảng chuẩn bị cho “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Mỹ – Việt.” Khi đó, Bộ Chính trị đảng Việt Nam sẽ hoàn hồn để vừa tiến vừa run vào các mỏ dầu Lan Đỏ, Cá Rồng Đỏ… ở Bãi Tư Chính, và cả mỏ Cá Voi Xanh ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi – nơi có trữ lượng đến 150 tỷ mét khối và hứa hẹn mang về đến $60 tỷ, bằng số thu nguyên một năm của nền ngân sách bóp họng dân chúng chỉ để nuôi đội ngũ “còn đảng còn tiền” và “còn đảng còn mình.” Phạm Chí Dũng - Người Việt| https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/tong-tich-nguyen-phu-trong-se-tham-my-va-khoan-dau-nuoi-dang/    
......

Thông điệp về Sinh lộ và Tử lộ

Hà Sĩ Phu -  Bauxite Việt Nam| (Hưởng ứng Lời kêu gọi chống Trung Quốc xâm lược) Lời kêu gọi chống Trung Quốc xâm lược (gọi tắt là kêu gọi Thoát Trung) là bước đầu gửi thông điệp gửi tới Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Việt Nam và cả nhân dân Việt Nam. Đó là thông điệp về bản chất của mâu thuẫn Việt Trung và về những lối thoát. Trung Quốc là kẻ thù đáng sợ nhất của nhân loại với hai sức mạnh kinh khủng là số dân 1 tỷ rưỡi người và một chế độ toàn trị Phong kiến Đại Hán, một đặc sản không giống bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Mối nguy Đại Hán thời hiện đại vượt xa mối nguy Đức Quốc Xã và mối nguy CS Liên Xô trước đây. Chế độ toàn trị Đại Hán ấy kết tinh hai mặt Nho gia và Pháp gia, phối hợp nhuần nhuyễn giữa Đức trị mị dân với bạo lực đàn áp quyết liệt đã giữ cho cái nước khổng lồ ấy không bị tan vỡ thành các nước nhỏ, đã đồng hóa được lý thuyết toàn trị Cộng sản, và đồng hóa luôn nền kinh tế tư bản tiên tiến của Âu Mỹ khi du nhập vào. Dù là lý thuyết Mác-Lê, dù là đồng tiền và kỹ thuật của các nước tư bản lớn nhất, những sức mạnh CS hay Tư bản ấy vào đến Trung Quốc đều bị đồng hóa để mang một “màu sắc Trung Quốc”, tức là rốt cuộc chỉ tăng cường sức mạnh cho nền Phong kiến toàn trị Đại Hán mà thôi. Vì thế khi Liên Xô và CS Đông Âu tan rã, ĐCSVN quyết định dựa hẳn vào vòng tay Trung Quốc như lối thoát duy nhất cho ĐCSVN là điều dễ hiểu, vì nghĩ rằng chỗ dựa ấy là vĩnh cửu, bất kể phải trái, bất kể bản chất thiện ác, bất kể thế giới có diễn biến ra sao, dựa vào Trung Quốc vĩ đại là lối thoát trường cửu. Nhưng thực tế không thể bình yên như vậy, vì Trung Quốc vốn nung nấu một tham vọng khủng khiếp, chẳng những phải biến Việt Nam thành chư hầu như đứa con ngoan mà còn phải vươn lên đứng đầu và làm bá chủ toàn cầu. Trong kế hoạch toàn cầu “nhất đới nhất lộ” của Trung Quốc thì Việt Nam có vai trò đặc biệt, về vị trí địa lý cũng như về ảnh hưởng. Việt Nam là nước láng giềng “cứng cựa” nhất, 1.000 năm cai trị mà không đồng hóa nổi, Việt Nam là tấm gương cho nhiều nước Á Phi của thế giới thứ ba, và quan trọng hơn, Việt Nam có vị trí phên giậu và vị trí tiền đồn trong toàn con đường xâm lược của Tàu. Không chinh phục cho xong Việt Nam thì Trung Quốc khó lòng phát huy uy lực ra toàn thế giới. Vì thế việc triển khai giấc mộng bá vương toàn cầu ấy trước hết gây biến đổi dữ dội trong nội tình Việt Nam. Khi chưa lộ rõ nguy cơ ngoại xâm thì vai trò cai trị của ĐCSVN tưởng như chẳng ai dám đụng đến, khắp nơi cứ “đời đời ơn Bác ơn Đảng” chẳng ai dám hé môi, dù trong xã hội đã bộc lộ những vấn nạn tất yếu bản chất của con đường Cộng sản. Tôi còn nhớ lúc đó một khẩu hiệu yêu nước “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam” cũng phải viết tắt, chọn lúc đêm khuya mới đem dán vội ở cột điện. Nhưng hành động xâm lược trắng trợn của giặc Tàu mà ĐCSVN không hề có sự phản kháng thích đáng nào để giữ nước, đã khiến cho cùng một lúc nổ ra phong trào vạch mặt cả giặc Ngoại xâm Tàu và giặc Nội xâm Việt, tức ĐCSVN (là Nội xâm vì thực chất ở tất cả các nước chuyên chính CS, các đảng CS thực chất đã chiếm hết quyền làm chủ đất nước của nhận dân, nhân dân ở mọi nước CS đều bị mất nước vào tay ĐCS chứ không phải riêng ở Việt Nam). Về phía Trung Quốc, cái điểm tựa tưởng như cái cột trụ vĩ đại để CSVN dựa vào thì nay chẳng còn vững chắc gì, đang bị trao đảo dữ dội khi nó lộ diện thành kẻ thù nguy hiểm nhất của thế giới. Các nước tư bản trước đây đã xúm vào buôn bán với Trung Quốc khiến cho con sư tử Trung Quốc vùng lên, nay đã quay lại dùng chiến tranh thương mại để hạ gục Trung Quốc. Trung Quốc như tên nhà buôn giỏi nhất thế giới nay đang nguy ngập chính vì đòn thương mại, “sinh ư nghệ tất tử ư nghệ”, thậm chí nếu có nguy cơ bị tách thành nhiều nước nhỏ thì thật giúp cho nhân loại thoát được một mối họa ngàn năm. ĐCSVN định dựa hẳn vào CS Tàu như tìm ở đó một SINH LỘ cho sự cai trị Cộng sản, tưởng đó lối thoát khôn ngoan, nhưng nay đã thành tai vạ cho chính người đã chọn nó. Chính những hành động bất chấp của Trung Quốc đã làm lộ ra tất cả những điều mà ĐCSVN cần giữ kín, nghĩa là gây bất lợi cực kỳ tai hại cho uy tín của ĐCSVN, và Sinh lộ lúc đầu nay cũng đã thành Tử lộ đối với ĐCSVN rồi. Còn đối với nhân dân Việt Nam, lịch sử đã dạy rằng chui vào trong tay Tàu thì bao giờ cũng là là TỬ LỘ, người Việt Nam yêu nước và tỉnh táo không bao giờ nhầm. Đến cơ sự này thì lối thoát mới cho ĐCSVN thiết tưởng đã hiện ra quá rõ, con đường bỏ Nhân dân để “sang sông” kết với với giặc Tàu cùng Ý thức hệ chính là con đường tự diệt nhanh chóng. Sinh lộ mới cho đảng chính là quay đầu về bờ , từ giã “anh bạn vàng” với cái dây trói Ý thức hệ mù mờ xảo trá, có như vậy mới tìm lại được sức mạnh với Nhân dân, ở đó Nhân dân bao giờ cũng mở rộng vòng tay, cái vòng tay mà từ Bà Trưng-Bà Triệu đến Hưng Đạo-Quang Trung đã ôm lấy giống nòi để cùng chiến đấu chống lại “kẻ thù truyền kiếp” (chữ trong văn kiện của ĐCSVN), buộc chúng phải từ bỏ dã tâm đô hộ để cùng nhau chung sống hòa bình và hữu nghị, trong một thế giới cùng nhau phát triển, an lạc, văn minh. Còn như lập trường chịu nhục để tránh chiến tranh thì kết quả sẽ lãnh đủ cả chiến tranh lẫn nhục nhã, chân lý muôn đời đã dạy. Vâng, LỜI KÊU GỌI chống Trung Quốc xâm lược mà đông đảo Trí thức và Nhân dân hiện nay đang ký tên tuy chỉ hướng vào một mục tiêu chống những hành động xâm lược trước mắt, nhưng thông điệp toản cục sâu xa của Nhân dân, cho cả một giai đoạn lịch sử lâu dài phải được hiểu đầy đủ như vậy. 2/9/2019 Hà Sĩ Phu -  Bauxite Việt Nam  
......

Muốn bảo vệ chủ quyền biển đảo: Phải dứt khoát với ĐCS Trung quốc

Nguyen Ngoc Chu| Nhân dân mọi nước đều yêu chuộng hòa bình. Chỉ có kẻ cầm quyền mới là nguồn gốc của chiến tranh. Không phải nhân dân Trung Quốc mà ĐCS Trung Quốc mới là kẻ tiến hành cuộc xâm lược biển đảo Việt Nam hiện nay. ĐCS Trung Quốc dưới chính thể Mao Trạch Đông đã đánh chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa của Việt Nam. Và hiện nay, bọn chúng đang không ngừng xâm chiếm từng phần biển đảo của Việt Nam ở Bãi Tư Chính. ĐCS Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông đến nay, là kẻ thù xâm lược của Việt Nam. Không chỉ mang lại tai họa cho nhân dân Việt Nam, mà ĐCS Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông lên cầm quyền đã mang đến cho nhân dân Trung Quốc vô vàn đau thương mất mát. Chính nhân dân Trung Quốc cũng không muốn chung sống với chính thể Mao Trạch Đông. Phong trào biểu tình của hàng triệu người Hong Kong trong mấy tháng qua là minh chứng rõ ràng nhất, rằng người Hoa không muốn chung trời với chính thể Trung Quốc hiện nay. ĐCS Trung Quốc đã cướp biển đảo của Việt Nam thì chẳng có lý do gì lại là “anh em đồng chí”. Việt Nam không cần học tập bất cứ thứ gì từ ĐCS Trung Quốc. Càng học ĐCS Trung Quốc càng mang tai họa đến cho Việt Nam. Phải dứt khoát với ĐCS Trung Quốc thì mới bảo vệ được chủ quyền biển đảo. Chừng nào còn “đồng chí” với ĐCS Trung Quốc thì chừng đó còn bị mất thêm biển đảo. Xác định kẻ xâm lược biển đảo của mình là “đồng chí” thì làm sao bảo vệ được chủ quyền quốc gia? Đây là thời điểm lịch sử mà TBT Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị cần có quyết định rõ ràng. Không ai che giấu được trách nhiệm trước Lịch sử./.  
......

Những giọt nước mắt ngày khai trường

Cánh Cò - RFA| Năm nay hình như cả nước uể oải tham gia chương trình khai giảng năm học mới. Không khí không còn ồn ào náo nhiệt vì những trò đọc diễn văn hay trang trí lòe loẹt bắt học sinh đứng đón như lãnh tụ, ngồi hàng giờ giữa nắng nóng nghe những câu văn không bao giờ hiểu và thở phào khi họ ngưng nói, ngưng diễn vai trò những người dẫn dắt nền giáo dục nước nhà. Thế nhưng đâu đó vẫn còn sót lại chút cơ hội hợm mình cho người đứng đầu ngành giáo dục khi bức ảnh ông Phùng Xuân Nhạ tới tham dự Lễ Khai giảng năm học 2019 – 2020 cùng thầy cô giáo và học sinh Trường THPT Sơn Tây, Hà Nội xuất hiện trên báo chí thì người ta phát hiện ra rằng ông Nhạ vẫn chưa thoát được cái hào nhoáng tạm bợ khi bước chân lên tấm thảm đỏ chói hai bên là học sinh ngồi chờ. Ông Nhạ có vẻ hài lòng vì được đón rước long trọng nhưng ngược lại người dân thấy bị xúc phạm khi họ phải còng lưng trả biết bao nhiêu thứ tiền cho con mình được tới trường trong khi người đứng đầu ngành giáo dục tỏ ra vô cảm đối với những gì đã và đang xảy ra trong phạm vi ông quản lý. Bên cạnh chiếc thảm đỏ ấy là hình cảnh những em bé tuổi từ 8 tới 10 được người dân chụp hình tung lên mạng cho thấy các em đứng khép nép trước hàng rào trường học nhìn vào bên trong, nơi những đứa bé cùng tuổi mình ăn mặc tươm tất ngồi nghe thầy cô giáo đọc danh sách khai giảng niên khóa mới. Chắc chắn các em rất buồn vì trên lưng các em đang chất đầy nỗi lo cơm áo. Tình trạng của các em không lạ đối với nhiều nước nhưng nếu nhìn xa hơn ắt sẽ thấy rất nhiều cái lạ khác trong ngày khai giảng. Ngày khai giảng năm học 2019 – 2020. Ảnh: FB Việt Tân edit Ít nhất có 5 bức ảnh mà cư dân mạng mang lên trang nhà của mình cho thấy những lớp học khốn khó cùng lúc khai giảng trong năm học mới. Trường học không có chỉ có một căn nhà lá rách nát và cô giáo đứng trước khoảng 15 tới 20 em học sinh trong khi các em ngồi chồm hổm trên nền đất vì không có bàn ghế để ngồi. Trước mặt các em là cờ đỏ, là căn chòi èo uột và cô giáo xanh mướt vì thiếu ăn. Những hình ảnh đau lòng này không phải cá biệt mà chừng như bất cứ một huyện miền núi nào cũng đều giống như nhau. Theo Báo Tuổi trẻ ngày 6 tháng 9, 2019 đưa tin, trong buổi khai giảng năm học mới ở điểm trường Tắk Pổ, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam có 6 em học sinh phải ngồi dưới nền đất vì không có ghế. Với tư cách Bộ Trưởng Giáo Dục ông Phùng Xuân Nhạ làm sao trả lời thỏa đáng cho những hình ảnh quá khác biệt đối với những ngôi trường miền xuôi nơi ông và các lãnh đạo giáo dục cơ sở đang mãn nguyện với những hoành tráng có khả năng che lấp mọi tiêu cực phía sau nó? Ông không thể vịn vào bất cứ lý do nào để trốn tránh trách nhiệm vì những hình ảnh này không phải mới xảy ra mà hầu như được lặp đi lặp lại từ năm này sang năm khác bất kể ông có lên giọng thế nào chăng nữa. Năm nay ông đưa ra ý tưởng: Năm học mới ưu tiên “dạy người”. Khốn nạn cho ông, “dạy người” thì chính người dạy phải biết làm người đã, trong khi ngược lại bao nhiêu chuyện tồi tệ từ giáo viên dưới quyền ông tỏ ra thiếu tư cách làm người chứ chưa nói tới việc dạy cho học sinh những điều tốt đẹp. Giáo viên nam thì can tội sách nhiễu tình dục với hàng chục nam sinh, giáo viên nữ thì nhục mạ học sinh bắt các em tát tai nhau hay bắt uống thau nước giặt giẻ chùi bảng… những hành động như thế không thể nói là cá biệt vì nó xảy ra tại nhiều địa bản khắp nước và cho tới bây giờ không phụ huynh nào chắc chắn rằng những vụ việc như vậy sẽ không còn xảy ra cho con em mình. “Dạy người” thế nào được khi bản thân là bộ trưởng giáo dục ông không có bất cứ hành động nào khả dĩ giải thích được mối bận tâm của ông khi nhiều tỉnh phía Bắc mua điểm đến nỗi vụ việc vỡ ra và công an vào cuộc nhưng ông lặng thinh xem như chuyện của… thế giới khác chứ không phải xảy ra tại Việt Nam. Các học sinh khi lớn lên chúng sẽ lật những bài viết, những comment nói về chuyện này, như vậy xin hỏi ông “dạy người” là dạy thế nào? Trước ngày khai giảng hơn một tuần, một vụ án xảy ra làm đau lòng không ít cho người nghe chuyện “5 học sinh thay nhau hãm hiếp một cô giáo bất kể cô van xin thế nào chúng cũng không tha”. Báo Pháp Luật 24 thuật lại câu chuyện kinh hoàng này như sau: “Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đang tích cực điều tra, làm rõ vụ việc một giáo viên bị 5 học sinh khống chế và giở trò đồi bại. 5 nam sinh trên gồm: Lý Văn Hạnh, Bàn Văn Hùng (16 tuổi), Bàn Văn Sơn, Bàn Văn Dương, Bàn Văn Hiệu (15 tuổi) đều trú bản Suối Bon và đang học lớp 9 trường THCS Loóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Theo đó, vào đêm ngày 24 tháng Tam, nữ giáo viên trường Tiểu học Loóng Luông là Bùi N.H.(27 tuổi) đang ngồi soạn giáo án để ngày mai lên lớp dạy thì bất ngờ bị 5 nam sinh trên lao vào khống chế, giở trò đồi bại, mặc cho cô giáo khóc lóc van xin. Sau khi thỏa mãn dục vọng, những tên này đã nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Cô giáo H lập tức đến cơ quan chức năng tố cáo vụ việc.” Có phải đây là kết quả của bao nhiêu năm ngành giáo dục đã tận hiến cho các em học sinh hay kết quả này đến từ lòng bất mãn vì thiếu quan tâm, vì bị kỳ thị hay xem thường đồng bào thiểu số khiến cho những thanh niên chưa kịp lớn đã kịp gây ra tội ác mà cô giáo dạy cho chúng trở thành nạn nhân? Hay bài học do chính ông dạy các cô giáo thị xã Hồng Lĩnh nay đã ra kết quả đáng buồn này? Người dân còn nhớ vào sáng ngày 14 tháng Mười Một, 2016 Bộ Trưởng Giáo Dục và Đào Tạo Phùng Xuân Nhạ cho rằng việc UBND thị xã Hồng Lĩnh điều động giáo viên tiếp khách, rót rượu là sai nguyên tắc của cán bộ và ảnh hưởng uy tín của ngành, tuy nhiên, mức độ chưa đến nỗi trầm trọng và quan trọng hơn cả nếu các giáo viên ấy có thái độ im lặng đồng tình, không có kiến nghị, phản ứng gì thì trước tiên phải quy trách nhiệm cho các giáo viên này trước xong mới tính chuyện đến người ép buộc. Ông bộ trưởng yêu cầu từng cô giáo trước tiên phải nghiêm túc trước đã. Chỉ cần một lần sảy miệng ông không thể tại vị cái nơi ông đáng ra phải có những lời nói khác. Ông tiếp tục vung tay múa chân trong môi trường giáo dục tồi tệ và tiếp tục đưa ra những lời có cánh để mụ mị người dân, nhưng tiếc cho ông vì còn ai trong đất nước này còn tin vào lời ông nói nữa? Cánh Cò
......

Vừa Hồng Vừa Chuyên Là Giáo Điều Lạc Hậu

Phạm Trần - huynhngocchenh.blogspot| Với bản lĩnh giáo điều, bảo thủ và cực đoan ngoại hạng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng sản Nguyễn Phú Trọng là lãnh đạo đầu tiên công khai chính trị hóa giáo dục để “nhuộm đỏ”  thầy cô, học sinh và  sinh viên. Bằng chứng được phơi bầy trong thư gửi ngành giáo dục nhân dịp khai giảng năm học mới 2019-2020. Ông Trọng đã yêu cầu :”Tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc, đạo đức, lối sống, lý tưởng cách mạng cho học sinh, sinh viên.” (theo Thông tấn xã Việt Nam,TTXVN, ngày 01/09/2019) Tuy ông không nói ra, nhưng ai cũng biết điều gọi là “truyền thống lịch sử”  bao giờ cũng phải ưu tiên ca tụng vai trò giữ nước và dựng nước của đảng CSVN và người thành lập đảng là ông Hồ Chí Minh. Ngược lại, mặt  trái của “truyền thống” ấy, bao gồm cả những sai lầm và hệ lụy của 30 năm chiến tranh huynh đệ tương tàn do đảng CSVN chủ động lại chưa bao giờ được ghi trong sách sử Việt Nam Cộng sản. Vì vậy cả thầy, cô, học sinh và  sinh viên qua nhiều thế hệ đã  bị đánh lừa bởi thứ  lịch sử một chiều do đảng dựng lên. Do đó, khi ông Trọng đòi phải giáo dục cả “lý tưởng cách mạng cho học sinh, sinh viên” là ông muốn tẩy não cả một thế hệ bằng mớ giáo điều Cộng sản để làm cách mạng và xây dựng đất nước dựa trên  Chủ nghĩa Mác-Lenin. Nhưng ông Trọng lại làm như không biết rằng tuyên truyền Chủ nghĩa Cộng sản cho học sinh, từ tiểu học  đền lớp 12 là hành động giáo điều, bảo thủ và  đầu độc tuổi trẻ.  Ông tưởng rằng, càng nhồi sọ sớm bao nhiêu thì càng dễ uốn nắn thiếu niên đi theo lề đảng chăng ? Không những ông sai mà cả hệ thống giáo dục của đảng cũng sai nên mới có chuyện học sinh, sinh viên Việt Nam không muốn học môn lịch sử  vì nội dung thiếu trung thực và đầy rẫy tuyên truyền, khi nào cũng “ta thắng địch thua”. Ông Nguyễn Phú Trọng còn viết trong thư:”Tôi mong các thầy giáo, cô giáo, cán bộ quản lý, người lao động ngành giáo dục luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề, không ngừng đổi mới, sáng tạo, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp “trồng người”. Nhưng “giữ vững bản lĩnh chính trị”  là “chính trị” gì ? Có phải ông đòi mọi người phải tuyệt đối trung thành với Đảng và kiên định Chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tường Cộng sản Hồ Chí Minh như quy định trong Cương lĩnh đảng ? Hay ông còn muốn răn đe không được quan liêu, suy thoái đạo đức, tham nhũng, “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” như ông từng ra rả với cán bộ, đảng viên trong 2 năm qua ? Đối với học sinh, sinh viên, ông Nguyễn Phú Trọng ngỏ ý:” Mong các em học sinh, sinh viên tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, noi theo các thế hệ cha anh đi trước, phấn đấu học tập tốt, rèn luyện tốt để sau này trở thành những người vừa “hồng” vừa “chuyên” như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.” Tại sao cho đến bây giờ, khi Thanh, thiếu niên thế giới đã ăn sâu, bám rễ với nền khoa học điện tử thay đổi từng giây mà ông Trọng vẫn còn âm u trong cõi vừa “hồng”, vừa “chuyên”  với tuổi trẻ Việt Nam ? Chẳng lẽ ông lại muốn xiềng xích chân tay họ  để  ông mặc sức độc tài ở tuổi 75 thời “đổi mới” ? TRẦN ĐẠI QUANG-TRƯƠNG TẤN SANG Vậy ta thử so sánh những lời “đao búa” của ông Trọng với vài bức thư gửi thầy cô, học sinh và sinh viên của hai Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Trương Tấn Sang xem khác nhau ở chỗ nào ? Trong thư phổ biến  ngày 31 tháng 8 năm 2018,  Chủ tịch Trần Đại Quang viết những điều phi chính trị rằng :”Bước vào năm học mới, ngành Giáo dục cần phát huy những kết quả đã đạt được, tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng tốt nhất yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước. Tăng cường quản lý nhà nước, kiểm tra, thanh tra, kịp thời phát hiện, có giải pháp khắc phục hiệu quả những thiếu sót, hạn chế, đưa nền giáo dục nước ta phát triển vững chắc. Chú trọng phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Quan tâm hơn nữa con em các đối tượng chính sách, đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho mọi người dân.” Kết luận, ông Quang tâm tình:”Tôi mong các thầy giáo, cô giáo giữ vững ngọn lửa đam mê với sự nghiệp giáo dục, không ngừng đổi mới, sáng tạo trong dạy học; các em sinh viên, học sinh phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, ý chí vươn lên, thi đua học tập tốt, rèn luyện tốt để mai sau cống hiến cho nước nhà.” Ông Trần Đại Quang đã đột ngột qua đời  ngày 21/09/2018. Trong khi đó, trong thư gửi ngành Giáo dục nhân dịp khai giảng năm học mới 2015 – 2016, ông Trương Tấn Sang đã  viết như cảm ơn:” Trong điều kiện còn rất nhiều khó khăn, các thầy giáo, cô giáo, nhất là các thầy giáo, cô giáo ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đã vượt lên mọi khó khăn, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đào tạo, có những đóng góp thầm lặng nhưng hết sức to lớn cho đất nước. Tôi mong các thầy giáo, cô giáo tiếp tục cố gắng, có nhiều đóng góp hơn nữa cho sự nghiệp “Trồng người” cao cả, hết sức vẻ vang.” Đối với học sinh và sinh viên, ông Sang bắt đầu:” Các em học sinh, sinh viên yêu quý! Các em là những chủ nhân tương lai của đất nước, những người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Tôi mong các em tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc ta, noi gương các thế hệ cha anh đi trước, phấn đấu học tập tốt và rèn luyện tốt để mai này lập thân, lập nghiệp, trưởng thành, góp phần đưa đất nước ta sánh vai với bè bạn năm châu.” Tuyệt nhiên, không thấy hai Chủ tịch nước này viết điều gì “nổ” như ông Trọng. NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY Vậy học sinh, sinh viên và lớp Thanh niên, Thiếu nữ đoàn viên của Tổ chức Thnh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thành phần được gọi là “đội  dự bị tin cậy của Đảng” đã làm nên cơm cháo gì theo trông đợi của đảng ? Trong bài viết trên Tạp chí Cộng sản, cơ quan ý luận của Đảng, Lê Quốc Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương đảng, Bí thư thứ nhất của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCSHCM) đã kiểm điểm thành tích sau 10 năm thức hiện “Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/07/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X”  về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.” Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, theo Lê Quốc Phong, vẫn còn hạn chế, đó là: -Việc học tập, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, triển khai học tập 6 bài học lý luận chính trị vẫn chưa đồng bộ, chưa có nhiều giải pháp sáng tạo. -Công tác giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa cao. Công tác dự báo và nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng cho thanh niên ở nhiều nơi chưa kịp thời; việc xử lý các vấn đề nổi cộm phát sinh trong thanh niên còn lúng túng. -Hệ thống báo chí, xuất bản của Đoàn đôi lúc còn chạy theo thị hiếu, phản ánh tiêu cực mà chưa quan tâm định hướng, giáo dục thế hệ trẻ, giới thiệu gương người tốt, việc tốt. -Việc tổ chức phong trào hành động cách mạng tại một số cấp bộ đoàn còn có biểu hiện dàn trải, hình thức, thiếu kiên trì, thiếu hấp dẫn, mới chỉ thu hút một bộ phận thanh niên tích cực tham gia, kết quả thiếu tính bền vững. Hiệu quả triển khai một số phong trào thi đua không rõ nét, thiếu tính thường xuyên. Chất lượng, hiệu quả công tác giới thiệu việc làm cho thanh niên chưa cao. Tổ chức cơ sở đoàn ở một số nơi chưa quan tâm đến công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng kết nạp đoàn viên. Công tác quản lý đoàn viên còn lỏng lẻo. Phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác xây dựng, phát triển tổ chức và đoàn kết, tập hợp thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước chuyển biến chậm. Vẫn còn một bộ phận thanh niên thiếu ý chí phấn đấu, có biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống. Một bộ phận thanh niên yếu thế về cơ hội phát triển. Tình hình vi phạm pháp luật, mắc tệ nạn xã hội trong thanh niên diễn biến phức tạp. Trước đó, vào ngày 23/01/2016, tại phiên thảo luận các văn kiện Đại hội XII,người tiền nhiệm Nguyễn Đắc Vinh nói thẳng:” Cần thẳng thắn thừa nhận, công tác giáo dục thanh thiếu nhi vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Nhiều tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đúng và đầy đủ tầm quan trọng của nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, nhất là trong bối cảnh đất nước có nhiều thay đổi. Một bộ phận giới trẻ giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Một số ít thanh niên bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động chống sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong giới trẻ diễn biến phức tạp. Đặc biệt, nguy cơ "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp rất đáng lo ngại. Những yếu tố đó tác động mạnh mẽ đến thanh thiếu niên và đặt ra yêu cầu cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ.” XÔI HỎNG BỎNG KHÔNG Trong khi đó, tại Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định số 1501/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống (LTCMĐĐLS) cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020”, do Bộ Giáo dục-Đào tạo tổ chức tại Hà Nội ngày 27/12/2018, nhiều thất bại cũng đã được công khai. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Nghĩa nhấn mạnh tại Hội nghị: “Sau 3 năm triển khai thực hiện Quyết định 1501, công tác giáo dục LTCMĐĐLS cho thanh thiếu niên nhi đồng vẫn còn nhiều hạn chế bất cập: Một bộ phận thanh thiếu niên thiếu bản lĩnh dễ bị lôi kéo, tham gia tệ nạn xã hội. Một số thanh thiếu niên thiếu động cơ học tập rèn luyện đúng đắn. Bạo lực học đường diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng. Sử dụng mạng xã hội chưa đúng mục đích và công tác truyền thông chưa đạt hiệu quả mong muốn...” Báo cáo tại Hội nghị cũng cho biết:”Trong khi đó, nhiều sinh viên dành quá nhiều thời gian cho việc sử dụng Internet, games online, mạng xã hội nên ngại tham gia hoạt động đoàn thể, hoạt động giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống. Việc áp dụng học chế tín chỉ ở cơ sở đào tạo nên không còn mô hình lớp niên chế (có sĩ số ổn định) nên sinh hoạt Chi đoàn theo lớp gặp khó khăn, nhiều sinh viên lơ là sinh hoạt Đoàn, gây khó khăn trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống ở một số trường.” Chỉ ra một số nguyên nhân, Bộ GD&ĐT lý giải: “Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế kéo theo những mặt trái đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, lối sống của thanh thiếu niên, HSSV, tạo ra nhiều nguy cơ, thách thức đến công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống. Việc kiểm soát, ngăn chặn những tác động tiêu cực đến tư tưởng chính trị của thanh thiếu niên, HSSV, đặc biệt là trên Internet, mạng xã hội rất khó khăn. Đời sống vật chất và tinh thần của thanh thiếu niên, HSSV vẫn còn thiếu thốn…” Như vậy, điều mà ông Nguyễn Phú Trọng từng cảnh giác nhiều lần rằng tình trạng “nhạt Đảng, khô đoàn, xa rời chính trị”  trong giới Thanh niên cần phải được ngăn chặn đã như cơn mưa lũ vỡ bờ. Do đó, không ai ngạc nhiên khi nghe ông báo động tại Hà Nội ngày 11/12/2017 rằng  :”Hiện vẫn còn một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng.” Sở dĩ hàng hàng, lớp lớp Thanh niên đã “phai nhạt lý tưởng cách mạng” vì cuộc cách mạng của đảng đã, đang và chỉ để cho đảng viên, nhất là những kẻ có chức và có quyền, có sân chơi để tranh giành quyền lợi và địa vị. Bằng chứng đã cho thấy càng “hồng” và càng “chuyên” bao nhiêu thì hủ bại tham nhũng, mua quan bán tước, lợi ích nhóm, kèn cựa, cấu xé lẫn nhau, tranh giành quyền lợi càng đẻ ra như dòi bọ làm cho người dân đã nghèo càng nghèo thêm  và đất nước đã tụt hậu cảng lạc hậu hơn. -/- Phạm Trần (09/019)
......

Son, Tuấn, Vũ chỉ là… ví dụ!

Trân Văn| Có quốc gia nào mà một doanh nghiệp của nhà nước, hoạt động bằng công quỹ như Mobifone dùng công quỹ mua lại một doanh nghiệp tư nhân như AVG và tự nguyện trả hớ 7.000 tỉ đồng, tính ra giá mua gấp 14 lần giá trị thật? Có quốc gia nào mà cơ quan đặc trách trật tự – trị an như Bộ Công an thản nhiên lấy nhãn “an ninh quốc gia” dán lên những thương vụ như vụ Mobifone mua 95% cổ phần của AVG nhằm ngăn chặn lạm bàn về những mờ ám trong mua bán? Có quốc gia nào mà chỉ vì lớn giọng dạy dỗ mọi người phải tận trung với đảng cầm quyền nên được chọn làm rường cột (Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN), tham gia quyết định vận mệnh quốc gia, số phận dân tộc, như Son, Tuấn? Có quốc gia nào mà một số doanh nhân vốn dĩ vô danh đột nhiên nổi như cồn vì thành tỉ phú. Nguồn gốc các khối tài sản kếch xù đều bắt đầu từ được hỗ trợ “mua rẻ, bán đắt” đất đai, cả công thổ lẫn ruộng vườn, nhà cửa của nhiều công dân như Vũ? Có quốc gia nào mà doanh giới liên tục than như bọng vì bị “đè đầu, cưỡi cổ”, bị hệ thống công quyền “vắt” đủ kiểu cho đến khi kiệt sức, phải tuyên bố phá sản hoặc xin tạm ngưng kinh doanh nhưng vẫn có vài doanh nhân càng ngày càng “ăn nên, làm ra”? Có quốc gia nào mà bên cạnh sự thành đạt của một số doanh nhân, luôn luôn có bóng dáng của các viên chức lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đủ cấp, đủ ngành, chẳng công khai thì cũng có hơi hướm của sự hỗ trợ bằng chủ trương, chính sách? Có quốc gia nào dù vợ một đàn, con một đống nhưng vẫn được xưng tụng là “cư sĩ”, vì được xem là mẫu mực của cả “kinh doanh” lẫn “tu tập, nên được chọn làm Phó Ban Truyền thông của một trong những giáo hội đông tín đồ nhất như Phạm Nhật Vũ? Có quốc gia nào mà thần quyền tự nguyện trở thành trang sức cho thế quyền, thuyết phục thiên hạ tuân phục thế quyền, chỉ hướng tới “thiện lành”, quên đi sự bất toàn, phi nhân của thế quyền đang gieo rắc khổ đau cho tha nhân? Có quốc gia nào thần quyền gắn bó chặt chẽ với thế quyền, giác ngộ không còn là mục tiêu, tu tập trở thành cơ hội để sống xa hoa, hưởng lạc? Có quốc gia nào mà thế quyền thành công đến thế trong việc tha hóa thần quyền để củng cố vai trò, vị trí của mình? Có quốc gia nào mà thu nhập rất khiêm tốn nhưng đa số viên chức đều giàu có “nứt đố, đổ vách” và rất tự tin trong việc khoe sang, khoe giàu bất kể hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ra rả tuyên bố tham nhũng là “quốc nạn”? Có quốc gia nào đã xác định chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” nhưng lại cấm công bố bản kê khai tài sản của các viên chức? Hệ thống tư pháp chưa bao giờ điều tra vì sao viên chức giàu có bất thường mà chỉ tìm xử những kẻ tiết lộ? Có quốc gia nào thừa nhận tham nhũng là quốc nạn nhưng Quốc hội lại tìm mọi cách để gạt đề nghị xem “giàu có bất minh” (viên chức không thể giải thích hợp lý về nguồn gốc tài sản) là tội phạm, ra khỏi Dự luật sửa Luật Phòng – Chống tham nhũng? Có quốc gia nào mà trước nay, tỉ lệ thành viên của đảng cầm quyền trong Quốc hội – nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng của toàn dân – luôn luôn vượt mức 90%, thành ra soạn thảo – ban hành – giám sát thực thi luật pháp luôn luôn bị bóp méo? Có quốc gia nào mà cuộc sống càng ngày càng lầm than, sinh hoạt xã hội càng ngày càng nhiều rủi ro, đầy dẫy bất an nhưng đa số chỉ hoan hỉ khi những cá nhân như Son, Tuấn, Vũ,… ngã ngựa và bỏ qua việc truy nguyên để chặn từ gốc? Có quốc gia nào mà chỉ những cá nhân như Son, Tuấn mới được lựa chọn – sắp đặt để lãnh đạo quốc gia, dân tộc và sát cánh với những cá nhân như Vũ để gom nhặt, biến mồ hôi, nước mắt đồng bào thành của nổi, của chìm, chia chác với nhau? Hệ thống đã lựa chọn – sắp đặt những Son, những Tuấn, đã hà hơi, tiếp sức bơm thổi cho những Vũ trở thành tỉ phú đang tiếp tục lựa chọn – sắp đặt nhân sự cho “đại hội 13” lãnh đạo cả đảng, quốc hội, nhà nước, chính phủ và các ngành, các Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, Phạm Nhật Vũ không phải là mục tiêu. Đó chỉ là những ví dụ. Nếu không nhìn ra bản chất, không xác định được cội rễ dẫn tới thảm trạng thì xứ sở này, dân tộc này sẽ tiếp tục mất đủ thứ rồi trắng tay./. Trân Văn| ***** Toàn cảnh diễn biến AVG có liên quan gì đến anh em nhà Vũ, Vượng, Thanh Phượng? Tiến Thịnh Hàng trên: Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, Phạm Nhật Vũ. Hàng dưới: Phạm Nhật Vũ, Nguyễn Thanh Phượng, Lê Nam Trà. Ảnh trên mạng (Tài liệu kham khảo) Ông Vũ là con trai thứ 3 của ông Phạm Dương (tên thật là Phạm Nhật Quang). Ông Dương lấy vợ quê ở Hải Phòng, sinh 3 người con gồm: Phạm Nhật Vượng (1968), Phạm Thị Lan Anh (1970), Phạm Nhật Vũ (1972). Cả ba người con của ông Phạm Dương đều sinh ra trên đất Hải Phòng. Cùng với người anh trai Phạm Nhật Vượng, ông Phạm Nhật Vũ từng làm ăn tại Liên Xô (cũ), gọi là mafia Nga. Sau này, khi trở về Việt Nam, hai anh em họ Phạm bắt tay vào khai thác “tư bản thân hữu”, kinh doanh bất động sản, truyền thông, khoáng sản với chính quyền. *** Câu chuyện bắt đầu vào năm 2012, khi Nguyễn Thanh Phượng cùng đám mafia Nga, “bộ đôi Masan” Nguyễn Đăng Quang và Hồ Hùng Anh (chủ Techcombank, rể tướng Hưởng) âm mưu thực hiện vụ áp-phe đình đám để thâu tóm 49% còn lại của mobifone (nhà nước 51%) trong phi vụ sát nhập Gtel vào Mobifone. Gtel khi đó đang trong tình trạng thua lỗ triền miên, khách hàng liên tục bỏ mạng, công nghệ di động 2G lạc hậu, chính phủ từ chối cấp giấy phép 3G, đối tác VinpelCom bỏ của chạy lấy người, để lại 450 triệu USD đã đầu tư vào hạ tầng mạng di động. Với kết quả kinh doanh bết bát như vậy, Masan khi đó chỉ cần bỏ ra 50 triệu USD là có thể mua lại toàn bộ cổ phần của Gtel. Công ty cổ phần chứng khoán Bản Việt do Nguyễn Thanh Phượng làm chủ tịch theo kịch bản sẽ được chỉ định thầu làm tư vấn cho vụ sát nhập và có nhiệm vụ định giá Gtel lên cao chót với ở mức 500 triệu USD mặc cho những kết quả kinh doanh ảm đảm. Sau khi sát nhập thành công Gtel với Mobifone (mobifone được định giá 2 tỷ USD), Masan sẽ chiếm 20% cổ phần trong liên doanh mới. Thông qua việc tăng vốn góp bằng “mồm” để đầu tư 4G, Masan sẽ nâng tỷ lệ cổ phần nắm giữ lên 30% và bộ ba Phượng – Quang – Anh nghiễm nhiên đút túi 3 tỷ USD sau khi bán toàn bộ số cổ phần đã đầu tư 4G này cho các nhà đầu tư nước ngoài (lúc này Mobifone được dự đoán có giá trị IPO khoảng 10 tỷ USD). KẾ HOẠCH ĐỔ BỂ PHÚT THỨ 89 Dù có tính toán kỹ lưỡng đến đâu, Nguyễn Thanh Phượng cùng bộ đôi Masan cũng không thể biết được kế hoạch của mình lại bị đổ bể phút chót bởi một con người đang cận kề cái chết: ông Lê Ngọc Minh – chủ tịch đương nhiệm lúc đó của Mobifone – người đang bị ung thư giai đoạn cuối. Là một người trọn đời gắn bó với sự phát triển của Mobifone, ông Minh không cam tâm để tâm huyết của mình cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Mobifone trong suốt 20 năm, phút chốc đổ xuống sông, xuống biển. Khi tình hình sức khỏe ngày càng đi xuống, ông Minh quyết tâm dành quỹ thời gian còn lại của mình để làm nên một câu chuyện lịch sử: cứu Mobifone khỏi sự sát nhập với Gtel. Ông Minh đã cung cấp toàn bộ thông tin chi tiết về kế hoạch của Phượng cho phe “Tổng bí thư” để cầu cứu, đồng thời bằng mọi cách trì hoãn quá trình cổ phần hóa Mobifone, đưa Credit Suisse vào làm tư vấn cổ phẩn hóa Mobifone chứ không phải là Bản Việt, gửi toàn bộ chi tiết kế hoạch của nhóm Nguyễn Thanh Phượng và Masan cho các báo lề trái qua đó tạo nên một cơn bão dư luận vào thời điểm đó. Với sức ép của dư luận cùng ý chí sắt đá của cố Chủ tịch Lê Ngọc Minh, kế hoạch của Nguyễn Thanh Phượng cuối cùng bị đổ bể. Ông Minh, với tâm thế của một người không có gì để mất, đã tạo nên một điều kỳ diệu và giúp Mobifone tiếp tục phát triển ổn định trong hai năm kế tiếp. Cay cú trước hành động phá rối của ông Minh, Nguyễn Thanh Phượng ngay lập tức đẩy ông Minh khỏi Mobifone ngay khi doanh nghiệp này tách khỏi Tập đoàn VNPT và sát nhập về Bộ Thông tin – Truyền thông năm 2014. Tiếp theo đó, Nguyễn Thanh Phượng bí mật sắp xếp với lãnh đạo Bộ Thông tin truyền thông Son/ Tuấn để đưa đệ tử thân cận Lê Nam Trà ngồi vào chiếc ghế mà ông Minh để lại. KẾ HOẠCH THÂU TÓM LẦN 2 Khi đã đẩy được Lê Nam Trà vào ghế Chủ tịch Mobifone, Nguyễn Thanh Phượng ung dung tính toán để thực hiện tiếp kế hoạch của mình. Việc đầu tiên là Trà/ Son/ Tuấn gạt bỏ Credit Suisse và chỉ định thầu tư vấn cổ phấn hóa Mobifone phải là Công ty chứng khoán Bản Việt. Kịch bản cũ đã bị lộ! không thể tiếp tục dùng quân bài Gtel, nên Nguyễn Thanh Phượng cùng Lê Nam Trà phải lựa chọn một quân cờ mới, đó là AVG của Phạm Nhật Vũ, em trai Phạm Nhật Vượng. Vượng là một doanh nhân thân cận và thọ ơn 3X và cũng trung thành của gia đình 3x. Tương tự như Gtel, AVG chỉ là một đống đổ nát chuẩn bị phá sản với số lượng thuê bao ít ỏi, công nghệ truyền hình vệ tinh thế hệ đầu đã lạc hậu, không tự sản xuất được nội dung nên không có doanh thu phát sinh từ quảng cáo. Tình trạng kinh doanh bết bát, AVG lỗ lũy kế đến 1.000 tỷ đồng và nợ gần 2.000 tỷ tiền đầu tư cơ sở hạ tầng. Để hợp lý hóa việc sát nhập AVG, một doanh nghiệp kinh doanh truyền hình chứ không phải viễn thông, Lê Nam Trà đã móc nối với Lãnh đạo Bộ Thông tin – Truyền thông để xin chủ trương của chính phủ cho phép Mobifone đầu tư vào lĩnh vực truyền hình. Với sự giúp đỡ của Nguyễn Thanh Phượng, con gái Thủ tướng Dũng, chủ trương này nhanh chóng được chính phủ phê duyệt. 3X BỊ HẤT CẲNG Ở HỘI NGHỊ TW13 Khi phe Thủ tướng Dũng có dấu hiệu đuối thế trước phe của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại HNTW 13, Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà nhận thấy hai điều: không thể mạo hiểm bằng mọi giá sát nhập AVG vào Mobifone và không thể hoàn thành việc cổ phần hóa Mobifone vào cuối nhiệm kỳ Thủ tướng (trước tháng 06/2016) vì đó sẽ là thời điểm ông Dũng cần đàm phán với phe ông Trọng để toàn bộ êkip được hạ cánh an toàn. Việc cổ phẩn hóa Mobifone chắc chắn sẽ do chính phủ mới phụ trách. Không còn làm chủ được cuộc chơi, vụ áp-phe lần 2 của Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà đứng trước nguy cơ đổ bể. Để vớt vát công sức mấy năm dàn trận, Nguyễn Thanh Phượng cùng Lê Nam Trà quyết định “ăn non”: hoàn tất kế hoạch việc Mobifone phải mua lại 95% cổ phần của AVG ngay trước khi HNTW 14 diễn ra (ký hợp đồng vào trưa ngày 25/12/2015). SAI PHẠM KHỔNG LỒ CỦA KẾ HOẠCH “ĂN NON” Giá trị thật sự của AVG được tính toán không đến 1.000 tỷ đồng, tuy nhiên Lê Nam Trà đã ký quyết định mua lại 95% với giá 8.900 tỷ, cao hơn giá trị thực 8.000 tỷ đồng. Số tiền này được Vin Group (PHẠM NHẬT VƯỢNG) giải ngân cho Lê Nam Trà cùng một số lãnh đạo của Bộ Thông tin – Truyền thông thay vì bằng tiền thì bằng các bất động sản trong – ngoài nước và các tài khoản ngân hàng nhiều triệu USD ở nước ngoài, mỗi người bỏ túi từ 5%-10%. Để kịp hoàn tất hợp đồng mua bán trước HNTW 14, Lê Nam Trà đã chỉ đạo không chuẩn bị hồ sơ, lập dự án trình Bộ Kế hoạch – Đầu tư và Bộ Tài chính thẩm định theo đúng quy trình (vì nếu làm đúng quy trình chắc chắn sẽ không được duyệt) mà chỉ thông qua móc nối với một số lãnh đạo Bộ Thông tin – Truyền thông để trình thẳng lên Chính phủ. Dù rất vội vã mua AVG, nhưng sau khi hoàn tất hợp đồng, do lo sợ tính pháp lý không đảm bảo, Lê Nam Trà chỉ đạo nhân viên giữ kín toàn bộ thông tin và không được gây ra bất cứ động tĩnh nào (BCA đóng dấu mật là vậy). Mobifone có thành lập Ban Truyền hình để tiếp quản AVG và phát triển kinh doanh truyền hình nhưng đến thời điểm này vẫn án binh bất động, chờ đợi vụ việc chìm xuống. Ngay sau khi bài báo “Lê Nam Trà – tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của Mobifone” được đăng trên các báo lề trái vạch trần các sai phạm ở Mobifone dưới thời Lê Nam Trà, Lê Nam Trà mới vội vã đính chính: “Chúng tôi đang tiếp quản AVG” trên các báo lề phải. Việc mua AVG đã làm chậm tiến độ cổ phẩn hóa Mobifone và làm giảm mạnh giá trị vốn hóa của Mobifone. Mobifone đã hoàn thành việc xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên giá trị số sách vào ngày 30/06/2015. Tuy nhiên với việc mua lại AVG vào ngày 25/12/2015, việc xác định giá trị doanh nghiệp sẽ phải thực hiện lại dựa trên giá trị sổ sách vào ngày 31/12/2015. Ngoài ra, với việc đưa vào kế hoạch kinh doanh dự phòng lỗ 700 tỷ đồng cho AVG trong năm 2016, nợ đọng của AVG 2.000 tỷ, lỗ lũy kế 1.000 tỷ, giá trị vốn hóa của Mobifone chắc chắn sẽ giảm vài tỷ USD so với con số 10 tỷ USD được ước tính ban đầu. Trong bối cảnh nợ công ngày càng tăng, ngân sách sẽ bị thất thoát đi vài tỷ USD chỉ vì một nhóm người chia chác nhau cái lợi 8.000 tỷ đồng (gần 400 triệu USD). Tháng 2 năm 2012, Nguyễn Thanh Phượng, cô con gái duy nhất của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chính thức giữ chức chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank). Như vậy, tại thời điểm đó, bà Phượng nắm trong tay tới 4 công ty khác nhau cùng có tên là Bản Việt gồm công ty đầu tư chứng khoán Bản Việt (VCSC), công ty quản lý quỹ đầu tư Bản Việt (VCAM hay Vina Capital) và công ty bất động sản Bản Việt (VCRE). Tháng 09 năm 2015, Công ty đầu tư chứng khoán Bản Việt (VCSC) được chỉ định thầu thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hóa và IPO cho Mobifone. Trong khi đó, Công ty Quản lý Quỹ đầu tư Bản Việt (Vina Capital) từ 2013 đã âm thầm mua lại 90% các trạm xã hội hóa của Mobifone. Với những động thái này, Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà đang âm mưu những gì? THÂU TÓM NGÂN HÀNG GIA ĐỊNH Tháng 7 năm 2011, Ngân hàng Gia Ðịnh bán 100 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ từ 2000 tỉ đồng lên thành 3000 tỉ đồng. Công ty VCSC Bản Việt của bà Phượng đứng ra lãnh vai trò tư vấn phát hành cổ phiếu, nên qua đó, Nguyễn Thanh Phượng đã mua lại một lượng đáng kể cổ phần của ngân hàng Gia Định rồi trở thành thành viên Hội Ðồng Quản Trị, đổi tên ngân hàng này thành “Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt”. Kịch bản tương tự hoàn toàn có thể xảy ra với Mobifone khi VCSC tiếp tục nắm vai trò tư vấn cổ phần hóa. Thông qua việc phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ, tăng vốn góp để phục vụ phát triển công nghệ 4G, Nguyễn Thanh Phượng sẽ mua được phần lớn cổ phiếu được bán ra với vỏ bọc các Quỹ đầu tư nước ngoài. Liệu sau đó, Mobifone có bị đổi tên thành Tổng công ty Viễn thông Bản Việt? Vina Capital đang nắm trong tay hơn 90% tổng số trạm xã hội hóa của Mobifone với số vốn bỏ ra được vay từ Ngân hàng Bản Việt. Trong số 3 nhà mạng lớn, Mobifone là đơn vị có số lượng trạm ít hơn cả nên nhu cầu tăng số lượng trạm là rất cấp thiết. Mobifone đặt mục tiêu phát sóng thêm hơn 12.000 trạm mới trong 2016. Kịch bản nào nếu VSCS “tư vấn” Mobifone mua lại từ Vina Capital toàn bộ số trạm xã hội hóa này và hoàn trả bằng cổ phiếu với giá gốc 10.000 đồng/cổ phiếu. Nguyễn Thanh Phượng đương nhiên sẽ có thêm được một số lượng lớn cổ phần của Mobifone với giá cực rẻ. CỤ TỔNG/ AVG/ AMAX CỦA THANH PHƯỢNG? Những chi tiết về gia đình, học vấn, tiền bạc, các công ty hay những lời đồn đại về Nguyễn Thanh Phượng người ta đã nói rất nhiều. Nào là Nguyễn Thanh Phượng thâu tóm các ngân hàng, mỏ quặng hay những chiến lược lobby, vận động hành lang cho cha mình và vạch kế hoạch tương lai cho 2 người anh em trai bất tài ham chơi của mình. Và gần đây, thương vụ Mobifone mua AVG đã làm nổi sóng dư luận. Người ta đồn đoán rằng, người lên kế hoạch cho thương vụ mua bán, ăn tiền nhà nước lên đến vài trăm triệu đô la này chính là Nguyễn Thanh Phượng. TBT Nguyễn Phú Trọng muốn tiến tới nhà của đồng chí X thì buộc phải diệt được thành trì Nguyễn Thanh Phượng và cũng là godfather (godmother) gia tộc Nguyễn Tấn Kiên Giang. Nguyễn Thanh Phượng thực sự có phải là chủ mưu thương vụ làm thất thoát ít nhất 7000 tỷ này hay không? Và nếu có thì tại sao trong bản kết luận thanh tra vừa rồi đưa ra, gần như không lục tìm thấy dấu vết liên quan đến Nguyễn Thanh Phượng có dính líu đến đại án chấn động này. Ngoài việc, có một sự nhầm lẫn về ¼ công ty định giá AVG là VCBS (thuộc Ngân hàng VietComBank) và VCSC (thuộc Tập đoàn Bản Việt của Nguyễn Thanh Phượng). Từ cuối tháng 8/2017, khi lời đồn thổi trở nên râm ran thì TGĐ VCSC (Bản Việt) khẳng định rằng, công ty họ không khải là đơn vị định giá, mà là công ty thuộc VietCombank(1). Có những nguồn tin nội bộ thì cho rằng công ty tư vấn của Nguyễn Thanh Phượng cũng tham gia vào việc này nhưng bị loại từ vòng gửi xe. Con đường đến với Bản Việt và Nguyễn Thanh Phượng của TBT Nguyễn Phú Trọng đến đây là vào ngõ cụt. Quay lại, có 4 đơn vị tư vấn thẩm định giá thương vụ AVG là AASC, VCBS, Hanoi Value và AMAX(2). AASC và VCBS đều là những thương hiệu lớn, thì Hanoi Value và AMAX đều là công ty rất bé, vốn điều lệ chỉ là 1 và 3,8 tỷ đồng. Với khả năng như vậy, thì việc được tham gia tư vấn cho một dự án lớn tính bằng trăm triệu đô đến tỷ đô như vậy là quá kì lạ. Đặc biệt, giá trị thẩm định được 4 công ty tư vấn này đưa ra đều khác nhau và chênh nhau rất nhiều. Hai công ty đầu đưa ra những con số không tưởng, từ 1-1,5 tỷ đô la . Hai công ty bé kia đưa ra những con số thấp hơn khá nhiều, và thấp nhất là AMAX là hơn 16 ngàn tỷ (2). Tất nhiên, như chúng ta đều biết, con số quá bé so với giá trị thực của AVG mà TTCP vừa đưa ra. Giá trị mà TTCP đưa ra là 1900 tỷ, chưa tính lỗ lũy kế đến 2017 cỡ 1 ngàn tỷ và thua lỗ tại 2 dự án mà Phạm Nhật Vũ đã mua với giá rất cao nhằm mục đích rút ruột AVG trước khi bán. Một năm sau khi thương vụ hoàn thành, Hanoi Value đã chuyển thành công ty mỹ viện, chuyên chăm sóc sắc đẹp (3) . AMAX vẫn là một công ty nhỏ với vốn điều lệ giữ nguyên 3,8 tỷ và gần như không có gì nổi bật sau khi được nhận một thương vụ rất lớn như thế (4). Người đại diện pháp lý và là Tổng giám đốc là Võ Văn Mạnh, một Thạc sỹ giảng dạy tại Fulbright (5). Như vậy, manh mối liên quan đến Nguyễn Thanh Phượng gần như không tồn tại trên bản KLTT. Tuy vậy, trong bản KLTT cũng như gần đây những bài báo được chỉ thị liên tục tấn công vào AMAX, 1 trong 4 đơn vị tư vấn, dù rằng AMAX là đơn vị cho giá thấp nhất. Trong khi 3 đơn vị kia cho giá cao hơn rất nhiều và gần như không tưởng. Ngay cả kết quả thấp nhất của AMAX cũng bị KLTT nói rõ là “không có cơ sở”. Nhưng tại sao báo chí lại xoáy vào AMAX mà bỏ quên đơn vị kia? Và manh mối nằm ở đây. AMAX chính là công ty của Phượng, dù Phượng không hề đứng tên hay sở hữu chút cổ phẩn nào ở đó. Và 3 đơn vị kia chỉ là chân gỗ được sắp xếp vào và cố tình hét giá cao nhất để AMAX được nhận làm kết quả. Tuổi Trẻ và Thanh niên, 2 tờ báo mạnh mẽ nhất và có vẻ như được cờ lệnh từ trên đều đưa những thông tin kĩ lưỡng về AMAX và những người trong nghề báo điều tra đều nhận ra là “đánh có bài bản”. Điểm cuối của những bài điều tra chắc chắn sẽ là AMAX, nói đúng hơn, là tìm đến công chúa Nguyễn Thanh Phượng. Tuy nhiên, Nguyễn Thanh Phượng không hề có cổ phần hay dính líu mặt pháp lý gì đến AMAX. Vậy, làm cách nào để nắm được đuôi của một con cáo vô cùng ma mãnh, quỷ quyệt và khôn ngoan vô cùng đó? Chỉ có một cách, là khởi tố vụ án thật nhanh KHỞI TỐ AVG VÀ CHÂN TƯỚNG AMAX TTCP đã đề nghị khởi tố vụ án để điều tra. Và muốn túm được đuôi công chúa, đó là con đường duy nhất trước khi manh mối bị hủy hoặc các đối tượng quan trọng trốn ra nước ngoài. Sau khi khởi tố vụ án, vì có dấu hiệu của tội lừa đảo của 4 đơn vị tư vấn (vì đưa ra kết quả sai và dựa vào những điều không đúng như việc kinh doanh tăng trưởng hay giá trị thương hiệu,…) nên có thể triệu tập 4 đơn vị tư vấn kia lên. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ (biện pháp gì không biết, hi hi), để 3 công ty kia khai nhận là được Phượng sắp xếp làm chân gỗ và cố tình hét giá cao lên. Đồng thời, tìm ra bằng chứng chính AMAX là cò mồi của Nguyễn Thanh Phượng câu con cá Mobifone gần 7000 tỷ kia. Tuy nhiên, tiến trình này phải tiến hành nhanh chóng và sử dụng những điều tra viên có trình độ nhất; nếu không, rất khó tìm ra được bằng chứng hoặc để các đối tượng quan trọng đào thoát thì cả chiến dịch vây bắt trở thành công cốc. Tướng Lý Anh Dũng, cục trưởng A92, người được Nguyễn Phú Trọng tin cẩn, nhanh chóng giải quyết hoặc chuyển người khác phụ trách vụ đánh bạc liên quan đến Nguyễn Thanh Hóa, Phan Văn Vĩnh và có thể cả Phạm Quang Nghị, để dồn hết tâm sức phi vụ này, lập đại công để nhận chức Thứ trưởng và Bộ trưởng trong tương lai. P/S: Trương Minh Tuấn, Nguyễn Bắc Son, Lê Nam Trà, Cao Duy Hải, và AVG… đang ra sức chạy tội. Với số tiền khủng sau những phi vụ như thế này, họ thừa tiền để thuê luật sư hay đội ngũ dư luận viên, định hướng viên,…cũng như nhiều cách khác để chạy tội. Nhưng có lẽ Trương Minh Tuấn, Nguyễn Bắc Son,… và đội quân chạy tội đang dày công vô ích. Chuyện mặc áo Juvetus, ăn cơm tù, ra vành móng ngựa gần như không thay đổi được. Con mồi mà TBT Nguyễn Phú Trọng săn ở đây to hơn rất nhiều so với họ. Con mồi này chính là công chúa Nguyễn Thanh Phượng, là người nắm giữ tương lai của gia tộc Nguyễn Tấn Kiên Giang và đối thủ từng làm ông bật khóc ngay trước ống kính truyền hình khi không kỷ luật thành công đồng chí X vào năm 2012. Khi vào thế cờ, thì người ta sẵn sàng thí hết cả bàn cờ để bắt tướng, chứ không riêng gì vài con tốt lụt đâu.  
......

Tàu cẩu Lam Kình và lộ diện ‘tình huống xấu nhất’

Tàu cẩu Lam Kình của Trung Quốc ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 3/9/2019 Thường Sơn (VNTB) Ngay sau khi xuất hiện tàu cẩu lớn nhất thế giới của Trung Quốc là Lam Kình ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 3/9/2019, chỉ cách đường cơ sở của Việt Nam chưa tới 11 hải lý và cách đảo Lý Sơn khoảng 30 hải lý về phía nam, một số dư luận viên thân đảng đã lo sợ thực sự hi rút tít: “Tàu cẩu giàn khoan Trung Quốc vào vùng biển Việt Nam, chuẩn bị tình huống xấu nhất”. ‘Tình huống xấu nhất’ là gì? Đó là một thuật ngữ của giới quân sự Việt Nam nhằm mô tả tình trạng sẵn sàng chiến đấu ở cấp cao nhất. Nghĩa là có thể nổ ra chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc. Lo sợ là đúng, bởi khác hẳn với tàu Hải Dương 8 chỉ làm nhiệm vụ thăm dò địa chất, Lam Kình làm cho người ta lập tức nhớ lại giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc cho tấn công vào vùng biển Việt Nam trong năm 2014. Cùng lúc, các trang báo South China News và IndoPacific_SCS_Info đã dự đoán rằng có thể Bắc Kinh đang chuẩn bị đưa một giàn khoan đến hoạt động trong vùng biển của Việt Nam. Đó có thể là giàn khoan nào? Vào tháng 4 năm 2019, Trung Quốc đã thình lình tung ra động thái đưa giàn sản xuất dầu khí lớn thứ hai là Đông Phương vào Lưu vực Yinggehai ở Biển Đông. Giàn khoan này nặng 17.247 tấn, tương đương với 10 nghìn chiếc xe ôtô thông thường và rộng bằng một sân bóng đá và không thua kém gì giàn khoan Hải Dương 981 mà đã ngự trị ở Biển Đông trong năm 2014. Vụ Đông Phương hờm sẵn kịch bản tái hiện hải Dương 981 hiện ra trong bối cảnh ‘Tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng sắp công du Hoa Kỳ (nhưng cũng vào tháng 4 đó, ông Trọng bất thần bị một cơn bạo bệnh tại Kiên Giang nên chuyến đi Mỹ của ông ta phải dời lại). Nếu Trung Quốc liều lĩnh điều cả một giàn khoan vào Bãi Tư Chính để ‘cùng hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam’ – như cái cách mà Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã trịch thượng yêu sách với giới chóp bu Hà Nội khi đến Việt Nam vào đầu năm 2018 mà bất chấp Việt Nam có muốn hay không, đó sẽ là một thảm họa với Bộ Chính trị đảng Việt Nam. Đánh thì sợ mà không đánh thì bị cướp trắng và mặt mũi chẳng còn ra thể thống gì. Chỗ dựa dẫm duy nhất giờ đây của Hà Nội chỉ còn là Hoa Kỳ – đối trọng duy nhất của Trung Quốc tại Biển Đông. Trong thời gian qua, đã có những thông tin ngoài lề về việc quân đội Việt Nam điều quân để củng cố vùng biên giới phía Bắc và cả biên giới tây nam giáp Campuchia. Tuy nhiên, đó chỉ là cách phòng thủ hết sức thụ động, một kiểu che chắn theo cách ‘kịch liệt phản đối’ nhưng cứ phải giương mắt thao láo nhìn kẻ cướp xông vào nhà mình và lần lượt bỏ túi từng món đồ. Cũng cần bổ sung, cho tới nay các tàu chiến và tàu hải cảnh Việt Nam vẫn chỉ lọ mọ theo đuôi tàu Hải Dương 8 mà không có được bất cứ hành động mạnh mẽ nào, dù chỉ là nổ súng cảnh cáo. Trong khi đó, toàn bộ công tác ‘vận động quốc tế ủng hộ Việt Nam’ đã chỉ nhận được nhưng lời lẽ chia sẻ chung chung và xã giao, còn lại đã chẳng có bất kỳ hành động quân sự đáng chú ý nào từ các nước ‘đối tác chiến lược’ của Việt Nam. Vậy nếu nổ ra ‘tình huống xấu nhất’ với Trung Quốc, hải quân Việt Nam sẽ đánh chác ra sao?  
......

Việt Nam sẽ ‘xoay trục’ về Mỹ ra sao sau vụ Hải Dương 8?

Tàu thám hiểm "Hải Dương Địa Chất 8" của Cục Khảo sát Địa chất Trung Quốc (Ảnh: China Geological Survey) Phạm Chí Dũng - VOA| Đến giờ phút này, ‘xoay trục’ sang Mỹ hầu như đã là một định đề phải có và không còn lối thoát nào khác của chính thể độc đảng ở Việt Nam. Nhưng sẽ là ‘xoay trục’ ra sao và đến mức độ nào? Hậu quả từ mê nhảm ngủ ngày Chiến dịch gây hấn của Trung Quốc mang tên ‘Hải Dương 8’ cùng những trò phép tiếp sau tàu này nổ ra tại Bãi Tư Chính của Việt Nam vào năm 2019 hoàn toàn xứng đáng là đáp án thích đáng cho phương trình ‘Bốn Tốt’ và ‘Mười Sáu Chữ Vàng’ mà giới chóp bu Hà Nội vẫn mê nhảm trong cơn ngủ ngày. Cơn ngủ ngày đó đã lê lết thảm thiết từ tháng 5 năm 2014 - khi nổ ra vụ giàn hoan Hải Dương 981 của Trung Quốc lao vào Biển Đông như một cái tát nổ đom đóm vào mặt Bộ Chính trị Việt Nam… cho tới tận giờ này. Cái cách mà Nguyễn Phú Trọng bày tỏ ‘trà Trung Quốc ngon hơn trà Việt Nam’ hệt như lối lấy lòng ‘đảng anh’ của ông ta chỉ tổ khiến Tập Cận Bình lên mặt trịch thượng và ‘mềm nắn’ hơn nữa với ‘đứa con hoang đàng’ (từ ngữ mà Ủy viên quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì đã xỉ vả các ủy viên bộ chính trị Việt Nam ngay tại Hà Nội vào năm 2014, vài tháng sau khi xảy ra biến cố Hải Dương 981). Tính thực chứng về hậu quả đã hiện ra rất rõ: bất chấp những chuyến ‘triều kiến’ liên tục của đích thân Nguyễn Phú Trọng và và các nhân vật còn lại trong ‘tứ trụ’ vào thời Trần Đại Quang còn chưa chết và vào thời hậu Quang, bất chấp việc giới qauan chức cao cấp Việt Nam đã cúc cung muối mặt mời Tập Cận Bình phát biểu trong nghị trường của một quốc hội ‘nghị gật’ ở Hà Nội trong lúc công an Việt thẳng tay đánh đổ máu đồng bào mình vì dám phản đối họ Tập, cũng bất chấp việc giới quan chức cao cấp Việt Nam đã cúi mình ký kết với Trung Quốc hàng chục văn kiện hợp tác và thỏa hiệp về nhiều chuyện - đặc biệt là cơ chế nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc và cho nhà thầu Trung Quốc những ưu đãi quá lớn - sau vụ Hải Dương 981…, Bắc Kinh vẫn tuần tự và lạnh lùng đánh thẳng vào yết hầu nuôi đảng của ‘đảng em’ Việt Nam là Bãi Tư Chính trong ba năm liên tiếp - lần đầu vào tháng 7 năm 2017, lần thứ hai vào tháng 3 năm 2018 và thêm một lần nữa - nguy biến hơn hẳn - vào năm 2019. Chính sách ‘ba không’ của chính thể độc tài ở Việt Nam đã vỡ vụn như những con tàu ngư dân Việt bị lừa bọc bằng sắt gỉ của Trung Quốc để khi tiến ra biển lớn đã vỡ tung. Nhưng với não trạng bị xem là ‘hèn với giặc, ác với dân’ của giới cầm quyền ở Việt Nam, sự thể cay đắng nhất, cay đắng tận cùng vẫn là việc ‘đảng em’ bị chính ‘đối tác chiến lược toàn diện quan trọng nhất’ - như cách mà Hà Nội thường tụng ca Trung Quốc đến ngút ngàn mây xanh’ - ép vào tử lộ. ‘Trung Quốc dồn Việt Nam vào chân tường rồi!” - lời tán thán thốt lên bởi một viên tướng trên mâm chiếu có đến 500 tướng quân đội ở Việt Nam - hẳn đã phản ánh cái thế ‘kẻ thù lớn bởi vì mi quỳ xuống’ mọp lạy bỉ bôi đến thế nào. Nếu mất Bãi Tư Chính? Đã đến nước này, không phản ứng thì chỉ có chết. Chết theo đúng nghĩa bóng và cả nghĩa đen. Bởi Bãi Tư Chính - nơi mà Trung Quốc không thèm giấu diếm ý đồ muốn nuốt trọn - là khu vực màu mỡ nhất về dầu và khí đốt, tập trung nhiều nhất các lô dầu khí là tiềm năng thiên nhiên duy nhất còn lại ở Việt Nam, sau khi ‘rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu’ đã cạn kiệt và hoang hóa sau hơn bốn chục năm ‘giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước’ và bởi nguồn cơn ‘có cho người cộng sản cả một sa mạc thì họ vẫn phải nhập khẩu cát’. Sự thật rành rành là nếu mất Bãi Tư Chính, hoặc nếu không mất nhưng phải cắm mặt ‘cùng hợp tác khai thác dầu khí’ với Trung Quốc để chấp nhận chia tỷ lệ đến 60% hoặc hơn cho ‘đồng chí tốt’, trong khi Bắc Kinh chỉ đơn giản là thò tay vào túi người khác móc tiền, chính thể Việt Nam sẽ mất trắng hoặc mất phần lớn số ngoại tệ lên đến 4-5 tỷ USD mỗi năm - bằng với ngân khoản chi phí cho quốc phòng và bổng lộc hàng năm cho 500 tướng quân đội cùng nhiều ngàn đại tá của chế độ này. Trong khi đó, tình cảnh đã trở nên bĩ cực đến khôn tả: cho dù luôn tuyên rao có chẵn một chục ‘đối tác chiến lược toàn diện’ với nhiều quốc gia trên thế giới, đã không một bàn tay nào được chìa ra cho Việt Nam kể từ khi nổ ra vụ Hải Dương 981 và tiếp đến vụ Bãi Tư Chính trong ba năm liên tiếp 2017, 2018 và 2019. Trong số đó, có cả hai ‘đối tác chiến lược’ có lợi ích ở Bãi Tư Chính là Tây Ban Nha - mỏ Cá Rồng Đỏ, và Nga - mỏ Lan Đỏ, đều tuyệt đối im tiếng. Trong tận cùng nỗi ‘cô đơn chiến lược’ như thế, rốt cuộc chính thể Việt Nam phải dựa vào ai? Chỉ còn có Mỹ - đối trọng quân sự duy nhất với Trung Quốc ở Biển Đông. Làm sao để bỏ đá ghè chân mình? Mỹ cũng có lợi ích về dầu khí ở vùng biển ngoài khơi Quảng Nam, Quảng Ngãi của Việt Nam: mỏ khí đốt Cá Voi Xanh có trữ lượng đến 150 tỷ mét khối và có thể mang lại đến 60 tỷ USD - một con số khổng lồ và cực kỳ hấp dẫn để trám bù vào ngân sách hộc rỗng của đảng CSVN. Nhưng Mỹ lại chưa hề là ‘đối tác chiến lược’ của Việt Nam. Thậm chí Mỹ còn bị Nguyễn Phú Trọng và những người đồng đảng của ông ta xem là ‘đối tác toàn diện loại thường’. Bài toán đặt ra với Trọng hiện thời là một sự gấp rút thời gian khi phải lôi kéo được người Mỹ tham gia bảo vệ không chỉ vùng biển mà cả vùng trời của Việt Nam ở Biển Đông, mà nếu động thái đó được triển khai có hiệu quả thì Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ yên tâm khai thác dầu khí cùng với các đối tác liên doanh mà không còn quá sợ hãi bị Trung Quốc nắt nạt, còn Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng có thể tỏ ra can đảm hơn đôi chút chứ không đến nỗi bị dân chửi ‘ngư dân bám biển, hải quân bám bờ’ và ‘chưa đánh chác gì đã đái cả ra quần’. Nhưng muốn đạt được ý đồ trên, chính thể độc đảng ở Việt Nam lại phải tính đến việc từ bỏ một phần hoặc toàn bộ chính sách ‘ba không’ giáo điều và vô bổ của nó, nhất là hai nguyên tắc không liên kết với nước này để chống lại nước khác và không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam mà đã tự lấy đá ghè chân mình. Bởi thực chất mối quan hệ ‘đối tác chiến lược’ mà giới chóp bu Việt Nam đang muốn tìm kiếm ở người Mỹ là sẽ phải giải tỏa những nguyên tắc cản đường: không những Việt Nam và Mỹ phải tiến đến một quan hệ hợp tác quân sự chặt chẽ theo mô hình tương trợ quốc phòng mà Mỹ đã ký và thực thi với Philippines, mà Việt Nam phải thừa hiểu là chỉ khi cho Mỹ đặt căn cứ quân sự ở quân cảng Cam Ranh thì tàu Mỹ và máy bay Mỹ mới có thể khống chế được các tàu và máy bay Trung Quốc từ phía Bắc lấn xuống Biển Đông. Chứ không thể chỉ bằng cách ‘đọc vẹt’ của người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam về ‘tôn trọng tự do hàng hải’ và cả ‘tự do hàng không’ là đã đủ cho mối quan hệ tương trợ quốc phòng Việt - Mỹ. Cũng không chỉ bằng cử chỉ âm thầm ‘trốn’ không chịu đi Bắc Kinh của Nguyễn Phú Trọng. Nếu chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng sẽ diễn ra vào tháng 10 năm 2019 như một dự kiến mới nhất, đó sẽ là cuộc làm việc còn quan trọng hơn cả sĩ diện của cá nhân ông Trọng. Đó là vận mạng của các mỏ dầu khí ở Biển Đông, của ngân sách đảng, thậm chí còn là số phận của đảng CSVN và của toàn bộ lực lượng ‘còn đảng còn tiền’ và ‘còn đảng còn mình’. Đến giờ phút này, Việt Nam ‘xoay trục’ sang Mỹ hầu như đã là một định đề phải có và không còn lối thoát nào khác. Cần có một điểm gặp nhau của chính sách xoay trục của Hoa Kỳ về châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2013 với chủ trương xoay trục từ phương Bắc sang phương Tây của Việt Nam ngay vào lúc này, sau khi giới chóp bu Hà Nội đã bỏ lỡ không ít cơ hội để làm điều đó suốt từ năm 2014 đến tận gần đây. Điểm gặp nhau đó sẽ thành hình vào lúc nào và như thế nào? Mọi chuyện tùy thuộc vào cái thế bị dồn đến chân tường của Việt Nam, và phụ thuộc phần lớn vào quan điểm và ‘bản lĩnh Nguyễn Phú Trọng’ khi ông ta đàm phán ở Washington không chỉ với Donald Trump mà cần với cả Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Hoa Kỳ.  
......

Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật nuốt từng hải lý biển Việt Nam

 Họa đồ di chuyển của Hải Dương 8 Thường Sơn (VNTB)| Trong lúc 6 tàu ngầm lớp Kilo của Hải quân Việt Nam được cho là còn phải đi chống ngập ở Hà Nội và Sài Gòn, còn các tàu chiến khác, kể cả ‘tàu buồm hiện đại nhất thế giới’ mang tên Lê Quý Đôn mất dạng, toàn bộ lực lượng hải quân Việt Nam vẫn phủ phục trong tư thế bất  lực và kiên định… bám bờ, các tàu Trung Quốc đã thả giàn tung hoành ở Biển Đông và ngay trong ‘vùng chủ quyền không thể tranh cãi’ của Việt Nam. Chỉ trong vòng khoảng một tuần, nhóm tàu khảo sát Hải Dương-8 của Trung Quốc đã tiến sâu thêm 30 km vào vùng biển Việt Nam và chỉ còn cách bờ biển tỉnh Ninh Thuận, miền trung Việt Nam khoảng 155 km, theo dữ liệu theo dõi tàu biển của trang Marine Traffic vào sáng sớm ngày 1/9. Trước đó vào ngày 24/8, Hải Dương 8 cùng các tàu hải cảnh của Trung Quốc chỉ cách bờ biển Phan Thiết của Việt Nam khoảng 185 km. Vụ tàu Trung Quốc lấn dần từng chục hải lý như thế đã gián tiếp tiết lộ một sự thật bi thảm: trong suốt thời gian từ đầu tháng 6 năm 2019 khi tàu Trung Quốc bắt đầu xâm nhập bãi Tư Chính, Bộ Quốc phòng và Cảnh sát biển Việt Nam đã đối phó tệ hại đến mức Trung Quốc hoàn toàn coi thường những hành động đối phó này. Chiến thuật Việt Nam dùng một số tàu chiến và tàu hải cảnh bao vây tàu Trung Quốc, hoặc bám chặt tàu Trung Quốc đã tỏ ra vô ích và vô tích sự, bởi về số lượng thì tàu Trung Quốc luôn vượt gấp ít ra vài ba lần số tàu Việt Nam, còn việc bị bám đuôi thì Trung Quốc chẳng coi ra gì. Cho tới nay, phía Việt Nam vẫn chẳng dám nổ một phát súng nào, dù chỉ để cảnh cáo tàu Trung Quốc. Vì sao lực lượng hải quân Việt Nam lại phủ phục đến thế? Nếu nổ ra chiến tranh thật sự với Trung Quốc thì lực lượng này sẽ đánh chác ra sao? Nếu ai đó cho rằng hải quân Việt Nam còn đang ‘giấu mình’, vẫn nêu cao tinh thần yêu nước và sẽ ra đòn quyết định vào một thời điểm thuận lợi, làm thế nào để giải thích việc một đô đốc của quân chủng này – Nguyễn Văn Hiến – cách đây không lâu đã bị tống vào ‘lò’ của ‘tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng vì tội ‘ăn đất’? Trung Quốc muốn ép Trọng? Việc tàu Hải Dương 8, vừa trở lại khu vực Bãi Tư Chính sau 5 ngày quay lại đảo Đá Chữ Thập để tiếp liệu, lại rời Bãi Tư Chính để ‘tham quan’ vùng biển gần Phan Thiết, xảy ra trong bối cảnh một tin tức đang ngày càng cận kề: sau một thời gian khá dài được Ban Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trung ương tận tình cứu chữa, ‘Tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng đã gần như hồi phục khỏi cơn bạo bệnh và chuẩn bị cho chuyến thăm Washington – một chuyến đi đặc biệt quan trọng – không chỉ về danh thể của Nguyễn Phú Trọng mà còn do tính chất đối đầu đã tới lúc không thể khoan nhượng giữa Việt Nam với Trung Quốc, mà theo đó Việt Nam đang rất cần đến lực lượng hải quân và không quân của Hoa Kỳ – đối trọng duy nhất với Trung Quốc tại Biển Đông – để bảo vệ Việt Nam khai thác dầu khí nuôi đảng. Chẳng khó để hình dung ra rằng Tập Cận Bình chẳng thích thú gì với chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng, và muốn gây sức ép buộc Trọng phải hủy bỏ chuyến đi đó. Hoặc nếu không hủy bỏ thì buộc Nguyễn Phú Trọng phải đi Trung Quốc trước khi đi Mỹ, như một biểu hiện ‘triều kiến’. Thời điểm dự kiến cho chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng đang lùi sang tháng 10 năm 2019. Đã hầu như chắc chắn là sau giai đoạn đầu cho tàu Hải Dương 8 vào quấy phá tại Bãi Tư Chính, Trung Quốc sẽ còn ra những đòn mới và lắm chiêu trò hơn nhằm hành hạ tinh thần ảo não của giới chóp bu Việt Nam. Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật nuốt từng hải lý biển Việt Nam. Có thể vào một ngày đẹp trời không lâu nữa, người dân và các lực lượng quân đội lẫn cảnh sát ở Phan Thiết hoặc ở một thành phố duyên hải nào đó của Việt Nam sẽ trố mắt trước những chiếc tàu giương cờ Trung Quốc lừng lững ngự ngay trước mắt họ ở vùng biển sát bờ./.  
......

Tàu cẩu TQ Lam Kình di chuyển vào vùng biển VN, chuẩn bị đặt giàn khoan?

Lam Kình là tàu cẩu lớn nhất trên thế giới của Trung Quốc, chuyên làm nhiệm vụ cẩu và đặt những thiết bị rất nặng như các giàn khoan dầu khí. Khánh An-VOA| Tàu cẩu lớn nhất thế giới của Trung Quốc, tàu Lam Kình, đang di chuyển trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam, các nguồn tin về Biển Đông trích dẫn dữ liệu theo dõi tàu cho biết hôm 3/9. Thông tin này cũng được một chuyên gia xác nhận với VOA và đồng thời cho biết thêm rằng lực lượng cảnh sát biển của Việt Nam đang theo dõi động thái của con tàu này. Theo trang South China News và IndoPacific_SCS_Info, tàu Lam Kình của Tập đoàn Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) đã xuất hiện trong vùng biển của Việt Nam hôm 3/9. Nguồn tin dự đoán rằng có thể Bắc Kinh đang chuẩn bị đưa một giàn khoan đến hoạt động trong vùng biển của Việt Nam. Nhà báo Duan Dang trích dẫn dữ liệu từ Marine Traffic cho biết thêm rằng tọa độ của Lam Kình là 14°56'6.00"N/109°23'42.00"E ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi vào lúc 9 giờ 42 phút cùng ngày, chỉ cách đường cơ sở của Việt Nam chưa tới 11 hải lý và cách đảo Lý Sơn khoảng 30 hải lý về phía nam, nghĩa là trong lãnh hải của Việt Nam, cũng là nơi có dự án Cá Voi Xanh mà Việt Nam đang hợp tác với tập đoàn dầu khí Mỹ Exxon Mobil để khai thác. Xác nhận thông tin về sự xuất hiện của tàu cẩu Trung Quốc trong khu vực, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, một nhà nghiên cứu an ninh và chính trị khu vực của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS có trụ sở ở Singapore, nói thêm với VOA rằng vị trí di chuyển của tàu Lam Kình là trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ), chứ không phải bên trong lãnh hải (trong vòng 12 hải lý). Theo ông, với tình trạng “đi qua vô hại” của tàu Lam Kình trong khu vực EEZ, thì Việt Nam chưa thể phản ứng gì vì đây là một hoạt động hợp pháp theo luật quốc tế. “Đi kèm theo nó là mấy tàu vận tải khác, nhưng người ta thấy các tàu vận tải đó không có các khung nhà giàn hay khung giàn khoan cố định nào. Và kèm theo nó còn có hàng chục tàu cảnh sát biển Trung Quốc đi hộ tống. Cảnh sát biển của Việt Nam cũng đi theo và không làm gì được người ta cả vì người ta đã làm gì đâu”, TS. Hà Hoàng Hợp nói với VOA. Mặc dù đưa ra giả thuyết về khả năng thời tiết xấu vào đêm 3/9 và sáng 4/9 khiến tàu Lam Kình có thể phải di chuyển xuống khu vực bên dưới, đối chiếu với đất liền là khoảng Phú Yên, Khánh Hòa, nhưng TS. Hà Hoàng Hợp không loại trừ khả năng Trung Quốc có thể từ một mũi khác kéo giàn khoan vào hoạt động trong vùng biển của Việt Nam và lúc đó sẽ “rất to chuyện”. “Nếu Mỹ, Nga, Ấn Độ cảm thấy bị đe dọa, bị ngăn cản hoạt động kinh tế bình thường và hợp pháp của họ trong vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam thì phản ứng của họ có thể là phản ứng quân sự”, TS. Hà Hoàng Hợp dự báo. Đang tham dự một hội nghị an ninh ở Singapore với sự có mặt của các nước Trung Quốc, Nhật, Australia, Ấn Độ…, TS. Hà Hoàng Hợp cho biết các bên đang rất quan ngại về tình hình ở Biển Đông, với cảnh báo rằng “không còn ranh giới nào giữa hòa bình và chiến tranh trên biển nữa” trước những hành vi hung hăng và khó lường trước của Trung Quốc. Theo TS. Hà Hoàng Hợp, hiện Việt Nam và các quốc gia liên quan đã “chuẩn bị sẵn sàng” cho tình huống xấu nhất, tức là khả năng xảy ra đối đầu quân sự. Trước đó một ngày, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng kêu gọi các nước giúp giảm căng thẳng ở Biển Đông do “những diễn tiến nghiêm trọng” gần đây gây ra. “Biển Đông có ý nghĩa quan trọng đối với các nước trong và ngoài khu vực trên bình diện kinh tế, an ninh, an toàn, tự do hàng không và hàng hải”, bà Hằng nói trong một email gửi cho hãng tin Bloomberg hôm 2/9. “Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng hợp tác với các nước khác và cộng đồng quốc tế nhằm duy trì hòa bình, ổn định và an ninh trong khu vực”. Phát biểu của người đại diện Bộ Ngoại giao được đưa ra sau khi 3 quốc gia Anh, Pháp, Đức đưa ra tuyên bố chung vào ngày 29/8, nêu lên quan ngại về những căng thẳng hiện nay ở Biển Đông và khả năng có thể dẫn tới bất ổn về an ninh và ổn định của khu vực. Trước đó, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Ấn Độ cũng lên tiếng về việc Trung Quốc đưa tàu Hải Dương Địa Chất 8 vào hoạt động trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong thời nhiều tháng qua, bất chấp phản đối liên tục của Hà Nội và chỉ trích từ phía Mỹ. Tàu Lam Kình được trang bị một cần cẩu khổng lồ có khả năng nâng 7.500 tấn. Bản thân chiếc cần cẩu này nặng 4.000 tấn và có móc phụ nặng 1.600 tấn, có khả năng nâng và hạ các thiết bị đặc biệt nặng như các giàn khoan dầu. Cho đến nay, Lam Kình vẫn được xem là tàu cẩu lớn nhất trên thế giới.  
......

Đừng tưới nước lên gốc cây rã mục

(Sau khi đọc bài viết “Những Cơ Hội Bị Bỏ Lỡ cho Một Liên Minh Việt Mỹ” của Gs Tương Lai) Chính Luận Trần Trung Đạo| Giáo sư Tương Lai, trong bài viết Vietnam’s Overdue Alliance With America đăng trong mục Ý Kiến của Nytimes.com ngày 11 tháng 7, 2014 và bản tiếng Việt Những Cơ Hội Bị Bỏ Lỡ cho Một Liên Minh Việt Mỹ do Liêm Nguyễn dịch đăng trên nhiều trang web tiếng Việt, đã lấy làm tiếc khi nhiều cơ hội đã bị bỏ qua cho một liên minh Việt Mỹ. Lần đầu do cơ quan tình báo chiến lược Mỹ OSS (tiền thân của CIA) “giúp huấn luyện và thành lập đơn vị du kích Mỹ-Việt đầu tiên vào cuối năm 1944.” Và cơ hội khác khi TT Truman không phúc đáp các lá thư của Hồ Chí Minh “bày tỏ lòng ngưỡng mộ của người Việt Nam” đối với “dân tộc Mỹ vì sự đấu tranh cho những lý tưởng cao đẹp của Công lý và Nhân đạo quốc tế, vì những thành tựu kỹ thuật hiện đại mà người Việt Nam cảm thấy bị lôi cuốn.” Tôi không dám phê bình trình độ chính trị học của giáo sư Tương Lai nhưng sẽ ngạc nhiên nếu ông thật sự tin rằng nếu lúc đó TT Truman đáp ứng lời kêu gọi của Hồ Chính Minh và quân đội Mỹ, giống như OSS từng làm, yểm trợ Việt Nam để phục hồi nền độc lập, xây dựng đất nước thì Việt Nam đã là một quốc gia dân chủ, tự do chứ đâu phải bị nô lệ trong ý thức hệ CS và bị Trung Cộng đè đầu cưỡi cổ như hiện nay. Giáo sư Tương Lai bỏ qua mối quan hệ “tuy hai mà một” giữa Hồ Chí Minh và đảng CSTQ như vô số tài liệu cho thấy và cũng không nhắc đến những khả năng gì sẽ xảy ra với liên minh Mỹ Việt sau khi CSTQ đã chiếm hết lục địa Trung Hoa năm 1949. Quan điểm của giáo sư Tương Lai cũng có thể gây cho người đọc hiểu lầm rằng Hồ Chí Minh không hẳn là người Cộng Sản và chỉ trở thành người CS khi không có chỗ dựa nào khác trong cuộc chiến chống Thực Dân Pháp mà quên đi sự kiện chính Hồ Chí Minh từ tháng 2 năm 1920 đã “vui mừng đến phát khóc” khi đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin. Lý do TT Truman không đáp ứng thư của Hồ Chí Minh Theo tài liệu lưu trữ trong văn khố Hoa Kỳ, tổng số gồm 11 lá thư Hồ Chí Minh gởi TT Truman, Ngoại trưởng James Byrnes và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Lá thư thứ nhất ký ngày 17 tháng 10 năm 1945 và lá cuối cùng vào ngày 28 tháng Hai năm 1946. Ngày 12 tháng 9 năm 1946, George M. Abbott, lúc đó là Đệ nhất Tham Vụ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Paris, đã điện đàm với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ vẫn là gốc gác của họ Hồ. Theo báo cáo của George M. Abbott cho đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, Hồ Chí Minh không thừa nhận ông ta là Cộng Sản. Không những thế, ông Hồ còn chỉ ra cho George M. Abbott thấy “không một người nào trong nội các của ông ta là Cộng Sản.” Trong thực tế, các chức vụ then chốt gồm Chủ tịch (Hồ Chí Minh), Bộ trưởng Quốc Phòng (Võ Nguyên Giáp), Bộ trưởng Tài Chánh (Lê Văn Hiến), Bộ trưởng Tư Pháp (Vũ Đình Hòe) trong nội các liên hiệp kháng chiến đều do các đảng viên đảng CS hay đảng Dân Chủ nắm giữ. Khi George M. Abbott hỏi có hay không có một đảng CS tại Việt Nam, Hồ Chí Minh thừa nhận là trước đây có nhưng đã giải tán mấy tháng trước rồi. Dĩ nhiên, như viết trong báo cáo, George M. Abbott cũng biết những câu trả lời của Hồ Chí Minh chỉ là những câu nói dối. Ngày 12 tháng Ba năm 1947, TT Harry Truman xin quốc hội chuẩn chi ngân sách 400 triệu Mỹ kim để viện trợ vũ khi cho chính phủ Cộng Hòa Hy Lạp để đánh bại phiến loạn CS và để giúp hiện đại hóa quân đội Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ nhằm đối phó với đe dọa quân sự của Liên Xô. Ngăn chận làn sóng CS trên phạm vi thế giới là trọng tâm của Chủ thuyết Truman (Truman Doctrine). Lẽ ra, những lá thư của Hồ Chí Minh là cơ hội hiếm hoi để Truman đóng nút sự bành trướng của chủ nghĩa CS ở Đông Nam Á qua ngả Trung Quốc. Nhưng không. TT Truman không đáp ứng vì chính phủ Mỹ biết rõ rằng Hồ Chí Minh và đảng CS Việt Nam là một bộ phận Đông Dương của đệ tam quốc tế CS chứ chẳng quốc gia dân tộc gì. Với đảng CS, việc thay tên đổi họ, từ một người hay thậm chí cả đảng, theo nhu cầu chiến lược mỗi thời kỳ là chuyện bình thường. Đảng CS tổ chức tinh vi và chặt chẽ đến mức dù dùng tên gì vẫn hoạt động thống nhất và tuân chỉ triệt để một cương lĩnh. Vào thời điểm 1946, trước khi CSTQ chiếm toàn lục địa Trung Hoa, nếu Mỹ viện trợ, Hồ Chí Minh sẽ nhận và nếu Mỹ lên tiếng phản đối Pháp, Hồ Chí Minh sẽ cám ơn nhưng chắc chắn không bao giờ có chuyện “giải tán đảng CS” hay thành thật từ bỏ đảng CS. Niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa CS đã đóng đinh vào nhận thức của các tầng lớp lãnh đạo CSVN. Cộng sản hóa Việt Nam là canh bạc của đời họ. Dòng lịch sử đầy tang thương của đất nước diễn ra từ đó đến nay qua các đợt khủng bố tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia, Cải Cách Ruộng Đất, đày ải nhiều trăm ngàn công nhân viên chức VNCH, đưa đất nước vào ngõ tối độc tài lạc hậu đã cho thấy nhận định của chính phủ Truman về Hồ Chí Minh và đảng CSVN là đúng. Năm 1954, vừa chiếm được nửa nước, chưa có một ngày ổn định và đời sống người dân miền Bắc còn quá sức nghèo, trung ương đảng CSVN đã nghĩ đến việc chiếm nửa nước còn lại. Có tổng tuyển cử? Tốt, đảng sẽ chiếm miền Nam mà không tốn nhiều xương máu. Không có tổng tuyển cử? Không sao, đảng vẫn chiếm miền Nam nhưng bằng súng đạn Nga, Tàu. Dù qua phương cách gian lận bầu cử, khủng bố cử tri hay phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” mục tiêu toàn trị vẫn không thay đổi. Sinh mạng của nhiều triệu người Việt, tương lai bao nhiêu thế hệ Việt Nam, viễn ảnh một Việt Nam nghèo nàn thua sút phần lớn nhân loại không nằm trên bàn tính của Bộ Chính trị Trung ương Đảng CSVN. Trung Cộng muốn gì? Hôm nay, hoàn cảnh chính trị thế giới đã thay đổi. Việt Nam đang đứng trước một đế quốc thực dân mới và lần này là chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng. Như người viết đã phân tích trong các bài trước, Trung Cộng muốn Việt Nam: Hoàn toàn lệ thuộc về cơ chế chính trị và tư tưởng. Một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng. Trung Cộng độc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng Biển Đông bao gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp. Nội dung của mật ước Thành Đô không được công bố, tuy nhiên, các diễn biến kinh tế, chính trị và quốc phòng cho thấy ba điểm nêu trên là ba yêu sách chính mà Trung Cộng đã đưa ra trong các phiên họp vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Về mặt kinh tế chính trị: Khi thỏa hiệp bán nước Thành Đô vừa ký kết xong, ngày 25 tháng 2 năm 1992, Quốc vụ viện Trung Cộng thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Ba tháng sau đó, Trung Cộng ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam và hứa sẽ bảo vệ công ty Creston bằng võ lực. Ngoài ra, Trung Cộng còn ra lịnh cấm đánh cá, thành lập các đơn vị hành chánh cấp huyện tại Hoàng Sa và Trường Sa. Về mặt quốc phòng: Việt Nam theo đuổi một chính sách quốc phòng “ba không”: (1) không tham gia các liên minh quân sự, (2) không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, (3) không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Đây là một chính sách quốc phòng tự sát vì chỉ có lợi cho Trung Cộng. Việt Nam là một nước nhỏ, và cũng chính vì là một nước nhỏ, những người lãnh đạo lẽ ra phải biết từng bước hội nhập vào cộng đồng nhân loại, biết nâng cao vị thế quốc gia trong bang giao quốc tế, biết linh động trong việc mở rộng các mối quan hệ song phương và đa phương, gần và xa để tạo thế đứng thuận lợi trong hòa bình và chiến lược trong chiến tranh. Trong Thế Chiến thứ Hai, trong số 20 quốc gia châu Âu tuyên bố trung lập chỉ có 6 quốc gia là không bị lôi kéo vào chiến tranh. Sáu quốc gia này may mắn không phải nhờ Hitler tôn trọng lời tuyên bố mà chỉ vì không nằm trên trục tiến quân của các sư đoàn Panzer Đức, rất tốn kém để chinh phục như trường Thụy Điển hay vì vị thế chính trị có lợi cho khối trục mà không cần đánh chiếm như trường hợp Tây Ban Nha dưới chế độ độc tài Francisco Franco. Để làm nhẹ áp lực Trung Cộng, Việt Nam cần có liên minh. Vâng, nhưng liên minh được với Mỹ trong vị trí tương xứng với Nam Hàn, Nhật Bản chỉ là giấc mơ ngày. Mỹ có quyền lợi ở vùng Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương? Có. Mỹ có xung đột với Trung Cộng về ảnh hưởng kinh tế chính trị và cả quân sự trong vùng Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương? Có. Mỹ có phê bình, lên án chính sách bá quyền Trung Cộng đối với các nước nhỏ trong vùng Nam Thái Bình Dương? Có. Tuy nhiên, với quan hệ kinh tế tài chánh quá lớn và vô cùng phức tạp giữa hai cường quốc này như hiện nay, ngoại trừ xung đột sâu sắc, trầm trọng và trực tiếp về quyền lợi của Mỹ trong khu vực, Mỹ sẽ không can thiệp vào các tranh chấp song phương giữa Trung Cộng và Việt Nam hay Trung Cộng và một quốc gia nào đó của ASEAN. Trung Cộng hiểu được điều đó nên theo đuổi chính sách gặm nhấm từng mảnh nhỏ tài nguyên của Việt Nam, bao vây kinh tế Việt Nam, và tránh né việc quốc tế hóa các xung đột với Việt Nam và các nước trong vùng. Nỗi sợ lớn nhất của Trung Cộng Như người viết đã phân tích trong bài Để thắng được Trung Cộng, chính sách tuyên truyền thâm độc và bưng bít thông tin tuyệt đối tại Trung Cộng cho thấy mối lo sợ lớn nhất của lãnh đạo CSTQ là ánh sáng dân chủ. Trung Cộng không ngại mấy chiếc tàu ngầm kilo mà rất lo “sân sau” CSVN trở thành một nước dân chủ. Việt Nam có dân chủ trước Trung Cộng là cách tốt nhất để vô hiệu hóa sự lệ thuộc vào Trung Cộng về mặt cơ chế chính trị và tư tưởng. Độc lập chính trị là tiền đề dẫn đến độc lập chủ quyền lãnh thổ. Với Trung Cộng, việc giải quyết xung đột lãnh thổ gắn liền với nhu cầu ổn định nội bộ. Theo nghiên cứu của M. Taylor Fravel trong tác phẩm Strong borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China‘s Territorial Disputes, trong thập niên 1960, lãnh đạo Trung Cộng nhân nhượng lãnh thổ với hàng loạt quốc gia nhỏ như Burma, Nepal, Mongolia, Bắc Hàn, Pakistan và Afghanistan chỉ vì họ cần tập trung vào việc ổn định vùng biên giới phía bắc sau cuộc xâm lăng Tây Tạng và giải quyết nạn đói sau chính sách Bước tiến nhảy vọt đầy thảm họa của Mao. Con đường giành lại được Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là con đường dài, đầy kiên nhẫn, khai thác mọi khó khăn, mọi nhược điểm của Trung Cộng, nhưng dù làm gì cũng phải bắt đầu từ độc lập về cơ chế chính trị. Không có con đường nào khác. Như người viết đã nhấn mạnh nhiều lần, một Việt Nam văn minh dân chủ với một nền kinh tế cường thịnh, một hệ thống khoa học kỹ thuật hiện đại là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn chận không những Trung Cộng mà bất cứ một thế lực xâm lăng nào muốn thách thức đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Đừng hoài công tưới nước lên gốc cây rã mục Ba mươi chín năm qua, không chỉ đất nước đứng trước ngã ba mà nhiều người Việt quan tâm cho đất nước cũng đang đứng trước ngã ba. Không ít người, ngoài miệng lớn tiếng phê bình đảng nhưng trong đáy lòng vẫn nghĩ chỉ có đảng CS mới thay đổi được hướng đi của đất nước. Vì thế họ mãi loay hoay, hy vọng, chờ đợi trong mỏi mòn một bình minh không bao giờ đến. Thay vì tìm cách cứu đảng hãy chung lưng góp sức để đẩy mạnh cuộc cách mạng dân chủ được diễn ra và thành công trong hòa bình, thuận lợi, ít lãng phí tài nguyên dân tộc. Con đường dân chủ có thể làm cho một số người chưa quen cảm thấy bỡ ngỡ lúc ban đầu hay ngay cả gây ít nhiều đau nhức nhưng đó là con đường của thời đại. Hãy đi cùng dân tộc và thời đại. Ý thức hệ CS chưa bao giờ lỗi thời và lạc hậu hơn hôm nay. Đừng hoài công tưới nước vào một gốc cây đang rã mục mà hãy dành để tưới lên những mầm xanh hy vọng của tương lai đất nước./. Trần Trung Đạo  
......

Những “cuộc chia ly màu đỏ” Việt – Trung

Diễn biến chính trị và truyền thông gần đây ở Việt Nam có vẻ như cho thấy xu hướng rõ ràng hơn cho một toan tính “thoát Trung” của nhà cầm quyền Hà Nội. Liệu rằng, đây có phải là sự thay đổi xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cho sự tồn vong của thể chế, do áp lực khách quan hay chỉ là một chiêu trò đàng điếm chính trị của Hà Nội bấy lâu nay? Nếu thực sự đây là một khuynh hướng chính trị, ngoại giao mang tính nhất quán trong tương lai gần và dài hạn, thì hệ quả của nó sẽ là gì? Điều này vô cùng quan yếu đối với sự hưng thịnh, suy vong quốc gia. Trong lịch sử cận đại, những nhà lãnh đạo của CSVN vì những toan tính lợi ích cho phe nhóm và quyền lực của đảng phái, thường tự biến mình thành nạn nhân và đưa cả dân tộc vào vòng binh lửa trên bàn cờ địa chính trị đẫm máu của các siêu cường. Cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979 và cuộc chiến tranh với Khmer Đỏ Cambodia kéo theo hệ lụy bi thảm, dai dẳng là ví dụ rõ ràng nhất. Những người “anh, em” cộng sản mới hôm qua còn thề bồi “mãi mãi keo sơn”, nhưng vì lợi ích và tham vọng quyền lực, có thể ngày hôm sau quay ra giết nhau tàn nhẫn. Nếu thực sự Hà Nội đang toan tính cho một cuộc chia tay với người bạn “4 Tốt” trong bối cảnh mà xem ra mối duyên nợ đã trở thành nghiệp báo, khi “tuần trăng mật” Việt – Trung đã hết, thì cái giá phải trả cho “cuộc chia ly màu đỏ” lần này là gì? Giải pháp nào cho một cuộc “thoát Trung” êm thấm, ít tổn thương nhất? Trước khi để có câu trả lời, hãy cùng nhìn lại bức tranh toàn cảnh theo dòng thời gian lịch sử cận đại và hiện tại về mối quan hệ chồng chất ân oán, cừu thù giữa hai đảng cộng sản “anh em”: Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc cộng sản đảng. Cuộc “chia ly lần thứ nhất” của những người cộng sản Việt Nam – Trung Hoa Các cuộc chia tay giữa những người “anh em” cộng sản thường diễn ra tồi tệ với kết cục “núi xương, sông máu”. Chắc chắn, đó không phải là những xúc cảm đậm sắc màu “anh hùng cách mạng” của ông Nguyễn Mỹ lãng mạn về một tình cảm lứa đôi thời chiến trong bài thơ có cái tên “Cuộc chia ly màu đỏ” vào năm 1979. Cuộc chia tay Việt – Trung cũng có màu đỏ, nhưng là máu của hàng trăm ngàn người dân của cả hai bên chiến tuyến đổ xuống vì quyền lực của đảng phái, tham vọng địa chính trị của các hoàng đế Đỏ, dưới những danh xưng tôn nghiêm, đẹp đẽ như bảo vệ tổ quốc, chống chủ nghĩa bá quyền, bảo vệ thành quả cách mạng,… Như một vòng luẩn quẩn oan nghiệt, sau nỗ lực hy sinh hàng trăm ngàn “nhân dân anh hùng” để “thoát Trung”, những lớp lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại quay lại ôm chân Bắc Kinh chặt hơn. Những gì đã diễn ra sau 1979 là một quá trình Hán hóa liên tục, lệ thuộc nhiều hơn, cắt nhượng nhiều hơn lãnh thổ, chủ quyền, tài nguyên cho “mẫu quốc”. Khi “Anh cả Đỏ” Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, cả nước đã không còn đủ bo bo, gạo mốc để ăn vì đường lối kinh tế sai lầm duy ý chí. Bị cô lập về mọi mặt, Hà Nội cuống cuồng van xin “ơn trên” từ các “đấng Thiên tử phương Bắc”, chấp nhận đánh đổi bằng mọi phẩm giá và chủ quyền quốc gia để cứu vãn quyền lực của đảng phái và sự sụp đổ về kinh tế xã hội. Sự điếm nhục đó của Hà Nội, được biết đến với cái tên “16 chữ vàng, 4 tốt”. Để tìm hiểu sâu hơn về nguyên cớ “cuộc chia ly lần thứ nhất” của những người cộng sản Trung Quốc – Việt Nam thì phải ngược về thời gian từ thủa đầu tiên của các phong trào cộng sản ở Đông Dương cho đến thời điểm tháng Hai, 1979. Trung Quốc, cái nôi của phong trào cộng sản Châu Á, đã hỗ trợ cho tất cả các lực lượng cộng sản không chỉ giới hạn ở ba nước Lào, Cambodia và Việt Nam mà cả vùng Đông Nam Á và bán đảo Triều Tiên trong cuộc đối đầu với Phương Tây. Đối với Việt Nam và Triều Tiên, hai quốc gia được coi là “tiền đồn cộng sản” ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á, sự hỗ trợ to lớn không chỉ dừng lại vũ khí, quân trang, hậu cần mà cả lực lượng tham chiến trực tiếp hoặc chuyên gia đào tạo, huấn luyện tại chỗ, chỉ huy tác chiến các chiến dịch quan trọng. Không hề ngoa khi nói rằng CSVN là con đẻ của Trung Quốc Cộng Sản Đảng. Hồ Chí Minh và những lớp cán bộ “hạt giống đỏ” đầu tiên của vùng Đông Nam Á đều được đào tạo chính trị và quân sự tại Trung Quốc. Họ được nuôi ăn học với chế độ ưu đãi ngay cả khi nhân dân Trung Quốc chết đói. Đó không phải vì tình hữu nghị vô sản mà là cái nhìn xa trông rộng của Mao Trạch Đông. Những lớp cán bộ đó khi trở về quê hương, tiến hành cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, đã luôn hướng về Trung Quốc như vầng thái dương chói lòa. Họ coi học thuyết cộng sản như thánh kinh và tạc dạ ơn nghĩa Trung Hoa vĩ đại. Đó là điều Mao muốn. Ông ta cần Việt Nam, Triều Tiên như những tên lính tiên phong trong cuộc chiến tranh với Mỹ. Ở phương diện nào đó, Mao Trạch Đông xứng đáng là một thiên tài chính trị – thứ chính trị để triệt hạ, giết chóc và hủy diệt tất cả. Tuy nhiên, khi cộng sản Bắc Việt xé bỏ Hiệp Định Genève 1954, vượt qua vĩ tuyến 17 (ranh giới mang đậm tính lịch sử, ngầm định sự khống chế của Trung Hoa với Việt Nam), quyết sử dụng võ lực để thống nhất quốc gia, với sự trợ giúp lớn hơn của Liên Xô, Mao Trạch Đông đã nhắc nhở Phạm Văn Đồng “đừng đưa cán chổi đi quá xa”. Ông ta e ngại một Việt Nam thống nhất, với sự hỗ trợ của cộng sản Nga Sô, sẽ trở thành một đối thủ tiềm tàng ở ngay sau lưng mình. Mao thậm chí, đã ủng hộ khả năng có nhiều hơn một Việt Nam (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa quốc gia cùng tồn tại). Viễn kiến của Mao hoàn toàn chính xác. Khi cái “cán chổi” của Hà Nội đã quét xuống Sài Gòn vào tháng Tư, 1975, nó đã quét luôn cả sang Cambodia chỉ ít lâu sau đó. Những người cộng sản Việt Nam bấy giờ thấy “trăng Liên Xô tròn hơn trăng nước Mỹ” và có lẽ cũng to hơn, sáng hơn “trăng Bắc Kinh”. Một so sánh về viện trợ của Liên Xô và Trung Cộng cho Miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1965 – 1971. Khi nguồn viện trợ của Trung Quốc bị cắt bỏ, Hà Nội đã nhắc lại câu chuyện chủ quyền về Hoàng Sa, tham gia khối COMECON vào tháng Sáu,1978, cho phép Liên Xô thuê cảng chiến lược Cam Ranh vào ngày 16 tháng Tám, ký hiệp ước liên minh và hợp tác với Liên Xô vào tháng Mười Một cùng năm đó. Một “tiểu bá vương” ở Đông Dương đã hình thành – điều khiến cho Trung Quốc không thể nuốt trôi sự tráo trở của “đứa con hoang đàng” cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Cộng vẫn giữ chính sách “wait and see” bước tiếp theo của Hà Nội là gì, trong khi tính toán và đi những nước cờ lớn hơn trên bàn cờ địa chính trị thế giới. Nỗ lực không ngừng nghỉ của Đặng Tiểu Bình trong việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ đã thành công. Ngày 15 tháng Mười Một, 1978, Mỹ chính thức công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và ngày 1 tháng Giêng, 1979 chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Cái nhìn cay nghiệt của Hà Nội về cộng đồng Hoa kiều tại Việt Nam cũng như chính sách quốc hữu hóa, đánh tư sản mại bản của Hà Nội sau 1975 hầu như trực diện đánh vào cộng đồng Hoa kiều vốn nắm giữ khá lớn nguồn lực kinh tế của miền Nam Việt Nam. Đỉnh điểm chính sách phi nhân và ngu dốt này là việc trục xuất 150.000 người Hoa kiều ở miền Bắc Việt Nam về Trung Quốc và ép buộc hơn 1,3 triệu người dân ở miền Nam Việt Nam (trong đó có nhiều người gốc Hoa) phải liều mạng vượt biển để lại tài sản, nhà cửa và phương tiện sản xuất… dẫn đến một cuộc đại khủng hoảng nhân đạo kéo dài nhiều thập kỷ sau đó. Họ được biết đến với cái tên “thuyền nhân”, khoảng 200.000 người đã bỏ mạng ở Biển Đông vì bão và cướp biển. Đáng chú ý rằng Hà Nội thậm chí đã có một chính sách ngầm định “cấp phép” cho người dân vượt biên bằng đường biển với cái giá 4 ounce vàng/ người lớn và một nửa đối với trẻ em. Số vàng khổng lồ thu được phần lớn vào túi các quan chức địa phương và lực lượng công an, bộ đội. Chỉ khoảng 1/3 là được chuyển về cho trung ương bù đắp các khó khăn kinh tế. Khi quân đội CSVN tiến chiếm Phnom Penh vào ngày 7 tháng Giêng, 1979, đó là “giọt nước tràn ly cuối cùng”, một lý do chính trị rõ ràng để Đặng “dạy cho CSVN bài học cần thiết”. Đặng Tiểu Bình, người đồng chí thân thiết của Hồ Chí Minh và cả Saloth Sar – kẻ mà sau đó cả thế giới được biết đến với cái tên Pol Pot, đã phát động cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979 và ủng hộ chế độ tàn ác Khmer Đỏ tiến hành những cuộc tấn công vào Tịnh Biên và nhiều nơi thuộc tỉnh An Giang vào năm 1978. Trước đó, là những cuộc khủng bố man rợ giết hại dân thường Việt Nam và Việt kiều ở Cambodia, ở tỉnh Tây Ninh năm 1977. Ở thời điểm sau cái chết của Mao, ngoài những rối loạn chính trị mà “bè lũ bốn tên” gây ra, Trung Quốc còn chịu thiệt hại nghiêm trọng vì thiên tai. Trận động đất ở Hồ Bắc tháng Bảy, 1976 đã giết chết gần 700 ngàn người và hơn một triệu người mất nhà cửa khiến cho nền kinh tế suy sụp nghiêm trọng. Dù vậy, điều đó không ngăn cản Đặng đã ủng hộ nhiệt thành Pol Pot và cung cấp tất cả vũ khí, quân nhu và lương thực mà Khmer Đỏ cần. Mối thâm thù về chủng tộc dai dẳng có nguyên nhân từ lịch sử “Nam tiến” của các chúa Nguyễn đã chiếm đoạt các vùng đất của Kampuchia Krom (tức đồng bằng sông Cứu Long, một thời là Thủy Chân Lạp thuộc về Cambodia) và các hòn đảo như Koh Tral (Phú Quốc), cũng như chính sách hà khắc đối với sắc dân Khmer trong quá khứ, được các lãnh đạo Khmer Đỏ khơi gợi và kêu gọi những cuộc tàn sát người Việt. Thật mỉa mai, khi cộng sản Việt Nam đã đào tạo và hỗ trợ cho phong trào cộng sản ở Cambodia để chính những lực lượng này sau đó đã trở thành con dao găm đâm ngang sườn mình. Điều đó cũng giống hệt với mối quan hệ CSVN – Trung Cộng Những người “anh em tốt, đồng chí tốt, láng giềng tốt” (Trung Quốc, Liên Xô, Cộng Sản Việt Nam, Cambodia) đều có chung một “ý thức hệ” đáng nôn mửa – Cộng sản chủ nghĩa. Tuy vậy, có một điểm khác biệt về bản chất ở đây, rằng đối với Trung Quốc thì quyền lợi của quốc gia là quan trọng nhất. Cái gọi là “ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa” chỉ là phương tiện mà thôi. Mao Trạch Đông từng viết rằng: Sở dĩ chúng ta nghiên cứu thuyết Các Mác không phải vì luận điệu tốt đẹp của nó, cũng không vì nó chứa đựng một phép thần diệu để trừ quỉ ma. Nó không đẹp, nó cũng không thần diệu. Nó chỉ lợi ích. Có nhiều người cho nó là thần dược trừ bá chứng. Chính những người này đã xem thuyết Các Mác là một giáo lý. Phải nói cho những người này hiểu rằng giáo lý của họ không có ích lợi bằng phân bón. Phân bón còn làm giàu cho ruộng đất, giáo lý không làm được việc đó. Quả thực, chủ thuyết đó đã mang lại lợi ích to lớn cho Mao, nó trở thành phương tiện tập hợp một xã hội Trung Hoa rách nát thành một lực lượng khổng lồ và cuồng nộ, giúp cho Mao đạp bằng mọi trở lực trên con đường tiến tới quyền lực tối thượng. Song cũng chính nó đã hủy hoại xã hội Trung Quốc tới tận gốc rễ. Còn đối với những người cộng sản Việt Nam, khi họ đem về chủ thuyết Cộng sản chủ nghĩa cùng với vũ khí và lương thực của Nga Sô và Trung Cộng để tiến hành các cuộc chiến tranh, họ đã đặt hai cái gông cùm nô lệ lên cổ dân tộc mình. Một là nô lệ “ý thức hệ”, hai là nô lệ vì nợ nần chiến phí và cả xương máu của ngoại bang. Thảm kịch đó chưa bao giờ kết thúc cho đến tận ngày hôm nay vì căn nguyên của nó chưa bao giờ được giải quyết. Và cũng vì lý do đó, mà sau cuộc chiến tàn khốc giữa những người “anh em cộng sản” 1979, “đứa con hoang đàng” Cộng Sản Việt Nam lại quay trở lại với “mẫu quốc” vào năm 1990, với “hội nghị Thành Đô” đầy oan trái. (Còn tiếp) Tân Phong https://viettan.org/nhung-cuoc-chia-ly-mau-do-viet-trung/ Xin đón xem tiếp Phần 2: Hà Nội toan tính cho một “cuộc chia ly lần 2”  
......

Nguyễn Phú Trọng sẽ đi Mỹ: Làm thế nào để có ‘đối tác chiến lược’?

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lobby để Nguyễn Phú Trọng được Donald Trump tiếp. Thường Sơn – (VNTB) – Làm sao đạt được quan hệ ‘đối tác chiến lược’ với Mỹ, để bảo đảm rằng quốc gia đối trọng duy nhất với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ hỗ trợ chế độ cộng sản Việt Nam khai thác dầu khí? Giáo sư Carl Thayer – một chuyên gia theo dõi chặt chẽ về những biến động chính trị ở Việt Nam và mối quan hệ của Việt Nam với các nước, cho biết đã có một đợt vận động hành lang của Bộ Ngoại giao Việt Nam để Nguyễn Phú Trọng được Donald Trump tiếp. Lẽ ra, ông Trọng đã đặt chân lên Washington vào giữa năm 2019, nếu không xảy ra cú bạo bệnh thình lình trong đợt ông ta bất ngờ đi công tác tại Kiên Giang ‘nhà Ba Dũng’ vào tháng 4 năm 2019. Cú bạo bệnh này mà diễn tiến của nó được cho là phức tạp về hệ thần kinh đã khiến Trọng phải nằm điều trị trong một thời gian khá dài mà không thể tiếp khách hay xuất cảnh. Điểm khác biệt lớn nhất giữa lần dự kiến đi Mỹ vào giữa năm 2019 của Nguyễn Phú Trọng và lần dự kiến thứ hai vào tháng 10 cùng năm là hội chứng tàu Trung Quốc. Trước tháng 5 năm 2019 và trong lúc Nguyễn Phú Trọng còn phải nằm giường điều trị, đã chưa có vụ tàu Trung Quốc gây hấn ở khu vực Bãi Tư Chính. Vấn đề quan hệ Việt – Mỹ có cần thiết được đẩy lên tầm ‘đối tác chiến lược’ hay không cũng bởi thế không quá khẩn thiết đối với Trọng và giới chóp bu trong Bộ Chính trị đảng. Nhưng kể từ đầu tháng 6 năm 2019, Trung Quốc bắt đầu điều tàu phá rối ở mỏ Lan Đỏ – nơi được liên doanh giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PN) với Tập đoàn Dầu khí Rosneft của Nga, và sang đầu tháng 7 thì vụ gây hấn này đã lan sang Bãi Tư Chính, đặc biệt xoáy vào mỏ Cá Rồng Đỏ – liên doanh giữa PVN với hãng dầu khí Repsol của Tây Ban Nha. Đến lúc đó, tình hình đã khác hẳn, kéo theo cán cân đàm phán Việt – Mỹ đã nghiêng hẳn về phía Mỹ, xét trên phương diện ‘ai cần ai hơn’. Từ cuối tháng 7 năm 2019, Mỹ đã trở thành quốc gia đầu tiên lên tiếng ủng hộ Việt Nam, dù chỉ là gián tiếp, chống lại thói bắt nạt của Trung Quốc trên Biển Đông. Không chỉ Bộ Ngoại giao, mà cả Bộ Quốc phòng và Cố vấn an ninh của Hoa Kỳ đã cùng lên tiếng về chủ đề này không chỉ một lần. Cùng lúc, hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan được Mỹ điều đến Biển Đông để tuần tra, mà về thực chất là án ngữ ở cửa ngõ vùng biển mà rất có thể xảy ra một cuộc xung đột vũ trang bắt nguồn từ ‘đồng chí tốt’ của Việt Nam. Bài toán đặt ra với Trọng hiện thời là một sự gấp rút thời gian khi phải lôi kéo được người Mỹ tham gia bảo vệ không chỉ vùng biển mà cả vùng trời của Việt Nam ở Biển Đông, mà nếu động thái đó được triển khai có hiệu quả thì Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ yên tâm khai thác dầu khí cùng với các đối tác liên doanh mà không còn quá sợ hãi bị Trung Quốc nắt nạt, còn Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng có thể tỏ ra can đảm hơn đôi chút chứ không đến nỗi bị dân chửi ‘ngư dân bám biển, hải quân bám bờ’ và ‘chưa đánh chác gì đã đái cả ra quần’. Nhưng muốn đạt được ý đồ trên, chính thể độc đảng ở Việt Nam lại phải tính đến việc từ bỏ một phần hoặc toàn bộ chính sách ‘ba không’ giáo điều và vô bổ của nó, nhất là hai nguyên tắc không liên kết với nước này để chống lại nước khác và không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam đã tự lấy đá ghè chân mình. Và làm sao đạt được quan hệ ‘đối tác chiến lược’ với Mỹ, để bảo đảm rằng quốc gia đối trọng duy nhất với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ hỗ trợ chế độ cộng sản Việt Nam khai thác dầu khí. Bởi thực chất mối quan hệ ‘đối tác chiến lược’ mà giới chóp bu Việt Nam đang muốn tìm kiếm ở người Mỹ là sẽ phải giải tỏa những nguyên tắc cản đường: không những Việt Nam và Mỹ phải tiến đến một quan hệ hợp tác quân sự chặt chẽ theo mô hình tương trợ quốc phòng mà Mỹ đã ký và thực thi với Philippines, mà Việt Nam phải thừa hiểu là chỉ khi cho Mỹ đặt căn cứ quân sự ở quân cảng Cam Ranh thì tàu Mỹ và máy bay Mỹ mới có thể khống chế được các tàu và máy bay Trung Quốc từ phía Bắc lấn xuống Biển Đông.  
......

Ngoại giao căn cứ hải quân Cam Ranh: tại sao không?

Tàu ngầm Kilo ở vịnh Cam Ranh. Nguyễn Hiền – (VNTB) – Trung Quốc có sự đột phá kinh tế như ngày hôm nay đến từ ngoại giao bóng bàn với Mỹ, vậy tại sao Việt Nam không tạo ra sự kiện ngoại giao hải quân với Washington (qua cảng Cam Ranh) để có tầm nhìn phát triển hơn?   Quan hệ ngoại giao của hai quốc gia Việt – Mỹ có những tiến triển về cơ bản tốt. Và có những dấu hiệu cho thấy, quan hệ quân sự đang nối bước theo sau.   Trong lời chúc mừng quốc khánh của Việt Nam, Ngoại trưởng Mỹ Pompeo đã đề cập đến “sự tăng trưởng vượt trội của quan hệ đối tác song phương”, trong đó ông nhấn mạnh “mối quan hệ đối tác mạnh mẽ và cam kết chung của chúng ta đối với hòa bình, an ninh, độc lập có chủ quyền và thịnh vượng trong khu vực.”   Và cũng vào đúng ngày quốc khánh Việt Nam (2.9), cuộc tập trận chung trên biển đầu tiên giữa Mỹ và khối ASEAN sẽ bắt đầu ở khu vực ngoài khơi Vịnh Thái Lan và mở rộng cho tới vùng Cà Mau ở cực nam của Việt Nam. Và Hà Nội sẽ tham gia cuộc tập trận này Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng xác nhận chiều 22.8.   Trong khi đó, theo một tin tức mới nhất từ SCMP ngày 30.8 cho biết, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper cho biết, nước này muốn đầu tư vào nhiều căn cứ hơn ở châu Á-Thái Bình Dương.   SCMP dẫn lời Patrick Cronin, từ Học viện Hudson, cho rằng, Mỹ có thể mở rộng sự hiện diện quân sự ở một số khu vực của Đông Nam Á. Bởi ngay cả Việt Nam, quốc gia theo đuổi chính sách quốc phòng không liên minh quân sự hay cho quân đội nước ngoài đóng quân trên đất liền, thì gần đây đã tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ trong bối cảnh tranh chấp leo thang với Bắc Kinh trên Biển Đông.   Hiện, Mỹ có hơn 40 căn cứ quân sự trong khu vực, nhiều trong số đó thuộc lãnh thổ của các đồng minh chủ chốt như Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc. Nhưng nếu là căn cứ tạm thời nhằm điều động linh hoạt quân đội và phù hợp với chiến lược của Mỹ, thì ngoài Manila ra, Hà Nội là một điểm đến không tồi.   25 năm bình thường hóa quan hệ với Mỹ trong năm 2020 sẽ là thời điểm tối ưu nhất để thúc đẩy mạnh điều này, và Cam Ranh sẽ một lần nữa được nhắc tên.   Căn cứ Cam Ranh vẫn là nơi đón tiếp các tàu hải quân chiến lược các nước khi ghé thăm Việt Nam, và Mỹ cũng không ngoại lệ.   Vào giữa tháng Tư, Đô đốc Philip Davidson, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã đến thăm tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, ông bày tỏ ý định muốn thấy tàu sân bay và lực lượng Hải quân Mỹ đến thăm tỉnh này trong tháng Chín. Điều này đồng nghĩa, sẽ có một tàu chiến sẽ ghé Cam Ranh trong năm nay. Trước đó, vào năm 2017, tàu chiến đổ bộ hải quân Mỹ USS San Diego đã ghé Cam Ranh. Nếu điều này xảy ra, thì đây là lần thứ hai, Mỹ được phép đưa tàu quân sự đi vào căn cứ Cam Ranh. Trước đó vào năm 2017, tàu khu trục lớp Arleigh Burke USS John S. McCain và tàu ngầm ngầm lớp Emory S. USS Frank Cable  đã đến vịnh Cam Ranh. Chuyến thăm của các tàu chiến Mỹ – chuyến thăm đầu tiên của các tàu chiến của Hải quân Mỹ tới Vịnh Cam Ranh kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam năm 1975 – diễn ra sau khi Hà Nội và Washington kỷ niệm 21 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 2016.   Rõ ràng, chừng nào Trung Quốc còn tỏ thái độ hung hăng tại vùng Biển Đông, và khi các đảo nhân tạo của Bắc Kinh bắt đầu được lấp đầy bởi trang thiết bị quân sự và lính thì Mỹ vẫn sẽ còn để mắt đến cảng Cam Ranh như là một thành phần trong mở rộng quân sự ở Ấn Độ-Thái Bình Dương.   Không chỉ Washington, ngay cả Ấn Độ cũng đang dòm ngó Cam Ranh. Và với quan hệ song phương giữa Ấn Độ và Việt Nam đã phát triển đáng kể về các vấn đề an ninh và thương mại khu vực, cũng như là “đối tác chiến lược” của Hà Nội, thì khả năng sử dụng cảng quân sự này trở nên lớn hơn rất nhiều. Nhất là khi, vào năm 2010, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký với Ấn Độ một thỏa thuận liên quan đến việc, New Delhi sẽ hỗ trợ Hà Nội mở rộng khả năng hậu cần hải quân và huấn luyện quân đội trong chiến tranh.   Giống như Mỹ, Ấn Độ cũng thể hiện một vai trò lớn trong đảm bảo an ninh cho các tuyến đường biển và chia sẻ mối lo ngại với Hà Nội về việc Trung Quốc hành xử tiêu cực tại Biển Đông. Việt Nam nhìn thấy một đối tác ở Ấn Độ, cũng như Mỹ, trong kiềm chế Trung Quốc.   Việt Nam có thể mạnh dạn hơn, trong tiến hành hợp tác với các quốc gia trong khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông, và tất nhiên, không cần thiết phải lo sợ trước mối đe dọa của Trung Quốc. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra khi có một đồng minh quân sự thực tế. Cũng như Cam Ranh phải là biểu tượng của sự hợp tác cao nhất về mặt quân sự của Mỹ và Ấn Độ.   Cam Ranh phải nên được sử dụng như một hình thức ngoại giao hải quân để đạt được nhiều mục tiêu như thể hiện ý định, trấn an đối tác và răn đe kẻ thù. Và dịp kỷ niệm 25 năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, trong bối cảnh Trung Quốc vẫn đang hành động vô pháp luật trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thì đón chào một tàu sân bay và đoàn hải quân Mỹ là một biểu tượng cho sức mạnh và tinh thần ngoại giao, hợp tác an ninh giữa hai nước. Thể hiện đúng mực hình thức ngoại giao hải quân, mở đường cho sự hợp tác quốc phòng chuyên sâu hơn, tiến tới là đồng minh.   Lý do cơ bản cho sự cổ vũ Việt – Mỹ là đồng minh, vì cả hai có cùng chung một đối tượng cần phải kiềm chế. Và giống như Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đề cập sau Hội nghị Bộ trưởng Asean-Mỹ trước đây tại Bangkok. Thì, Washington không yêu cầu các quốc gia Ấn Độ-Thái Bình Dương chọn phe, và sự tham gia của Mỹ trong khu vực này chưa và sẽ không bao giờ là một trò chơi có tổng bằng không. Đó đơn giản là “hội tụ một cách tự nhiên với lợi ích chung của chúng ta”.   Việt – Mỹ đã cùng tìm thấy một lợi ích chung đầy thực tế ở Biển Đông, trong duy trì chủ quyền theo luật pháp hàng hải quốc tế cũng như đảm bảo một tinh thần tự do hàng hải. Vậy thì không cứ gì Hà Nội phải từ chối chủ nghĩa thực dụng của Mỹ, cùng chơi trò chơi mà nơi đó, lợi ích sẽ được chia đôi.   Trung Quốc có sự đột phá kinh tế như ngày hôm nay đến từ ngoại giao bóng bàn với Mỹ, vậy tại sao Việt Nam không tạo ra sự kiện ngoại giao hải quân với Washington (qua cảng Cam Ranh) để có tầm nhìn phát triển hơn?   Vịnh Cam Ranh có một vị trí đặc biệt thuận lợi trong quan sát toàn bộ Biển Đông, nó nằm ở vị trí cách các đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đảo Hải Nam tương ứng khoảng 323 hải lý, 430 hải lý và 462 hải lý. Gần với eo biển Malacca và Trung Quốc.  
......

Nguồn cơn nào khiến Nhà máy In tiền quốc gia VN phải lỗ lớn?

Phạm Chí Dũng| Khi năm 2019 đã bước sang nửa cuối, thị trường tiền tệ và ngành ‘in tiền’ Việt Nam nhận được một tin tức có vẻ đáng lo ngại: Nhà máy In tiền Quốc gia trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lỗ đến 11,2 tỉ đồng chỉ trong 6 tháng đầu năm 2019, còn những năm trước chỉ toàn lãi và lãi… Từ ‘lỗ đột biến’… Nhà máy In tiền Quốc gia có trụ sở tại quận Cầu Giấy, Hà Nội. Từ năm 2010, nhà máy này được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty TNHH một thành viên với 100% vốn điều lệ được Ngân hàng Nhà nước nắm giữ. Ngành nghề kinh doanh chính của Nhà máy In tiền Quốc gia là in, đúc tiền, sản xuất vàng miếng, vật phẩm, lưu niệm bằng vàng và các loại giấy tờ có giá. Số lượng, doanh thu và chi phí từ hoạt động in đúc tiền của Nhà máy In tiền Quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào cung cầu tiền mặt trong nền kinh tế, việc điều hành chính sách tiền tệ và theo kế hoạch do Thống đốc Ngân hàng nhà nước giao. Số lỗ hơn 11 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2019 là đáng thất vọng đối với cơ sở độc quyền về in tiền và được xem là không bao giờ lỗ. Bởi cùng kỳ năm 2018, Nhà máy In tiền Quốc gia thu lợi nhuận sau thuế tới 60 tỷ. Còn vào năm 2017, nhà máy này đã đạt lãi ròng 44 tỷ đồng. Nếu nhìn vào báo cáo tài chính của Nhà máy In tiền Quốc gia, có thể cho rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng lỗ sau 6 tháng đầu năm 2019 là do chi phí hoạt động tăng cao trong khi doanh thu từ việc sản xuất giảm sút so với những năm trước. Trong 6 tháng đầu năm 2019, doanh thu tài chính của Nhà máy In tiền Quốc gia thấp hơn cùng kỳ 7 tỷ, giảm còn 10 tỷ đồng. Nhưng vì sao doanh thu năm 2019 của Nhà máy In tiền Quốc gia bị sụt giảm? Phải chăng do số lượng và doanh thu in tiền của Nhà máy In tiền Quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào cung cầu tiền mặt trong nền kinh tế nên doanh thu sụt giảm là do nền kinh tế ‘bội thực’ với tiền mặt? Giả thiết trên là hoàn toàn có cơ sở khi ‘trải nghiệm’ chiều dài dĩ vãng in tiền và in tiền bạt mạng của Nhà máy In tiền Quốc gia, dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước và sự lãnh đạo của ít nhất hai đời thủ tướng chính phủ từ Nguyễn Tấn Dũng đến Nguyễn Xuân Phúc. Đến ‘lãi lạm phát’ Dù đến nay chính phủ và Ngân hàng Nhà nước vẫn tuyệt nhiên không chịu đả động, hoặc cố tình giấu kín động thái in tiền thông qua công cụ Nhà máy In tiền Quốc gia, nhưng bản thân những con số dư nợ cho vay trong hệ thống ngân hàng đã phản ánh cơ bản nguồn cơn “vì sao tiền đồng tràn ngập thừa mứa trong ngân hàng”. Vào năm 2008, tổng dư nợ cho vay của khối ngân hàng là 2,3 triệu tỷ đồng, nhưng đến cuối năm 2018 đã lên đến 7,6 triệu tỷ đồng, tức lượng tiền mặt hiện diện trên thị trường cho đến cuối năm 2018 đã gấp gần 3,5 lần của 10 năm trước. Hẳn nhiên và tương ứng, lượng tiền được Ngân hàng Nhà nước cho in và bổ sung vào lưu thông đã có thể vào khoảng 500.000 tỷ đồng mỗi năm, tức phần “lạm phát in tiền” đã chiếm đến 10-15% hàng năm – một tỉ lệ in tiền rất cao so với tỉ lệ in tiền bình quân của các nước phương Tây. Cũng còn một cơ sở khác để đối chiếu: theo chính các số liệu của Ngân hàng Nhà nước, mức tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán hàng năm ở Việt Nam luôn tăng đến 14 - 16% mỗi năm. (Tổng phương tiện thanh toán, còn gọi là M2, bao gồm tổng lượng tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng, tiền gửi bằng nội tệ và ngoại tệ của dân cư, doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại). Tính đến tháng 5/2019, số dư tổng phương tiện thanh toán đã đạt đến quy mô 9.706.888 tỷ đồng (tăng 5,37% so với cuối năm 2018). Quay ngược về tháng 12/2013, quy mô này chỉ ở mức 4.400.692 tỷ đồng. Tức sau 5 năm, số dư tổng phương tiện thanh toán đã tăng hơn 2 lần. Đáng chú ý là tỷ trọng tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam gần như không mấy thay đổi trong nhiều năm qua, phổ biến chỉ xoay quanh mức 11,5%. Hiện tượng này đồng nghĩa với quy mô tăng đều theo tổng phương tiện thanh toán hàng năm, tức khi tổng phương tiện thanh toán tăng thì lượng tiền mặt trong lưu thông cũng tăng theo. Cũng có nghĩa là sau 5 năm, khi số dư tổng phương tiện thanh toán đã tăng hơn 2 lần thì lượng tiền mặt trong lưu thông cũng tăng gấp hơn 2 lần. Tiền mặt trong lưu thông tăng lại dẫn đến lạm phát. Chỉ xét theo số liệu về tổng phương tiện thanh toán trong giai đoạn 2013 - 2018 của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ lạm phát hàng năm đã lên đến khoảng 15%. Con số này là hoàn toàn trái ngược với các báo cáo mắt nhắm mắt mở và tô hồng vô liêm sỉ của Chính phủ về số liệu lạm phát chỉ dưới 5% hoặc dưới 4% hàng năm. Hẳn đó là nguyên do khiến trong khi Nhà máy In tiền Quốc gia đột biến lợi nhuận trong những năm trước, giới cán bộ hưu trí lại thường phản ánh nhận được lương hưu với nhiều tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng, mới cứng và chắc chắn chưa được lưu hành ngoài thị trường. Không chỉ giới hưu trí và công chức, những người thường xuyên giao dịch tại các ngân hàng thương mại cũng rất thường chứng kiến cảnh nhiều xe chở tiền mới cứng được đưa tới các ngân hàng. Còn tại nhiều chợ đầu mối ở Sài Gòn và Hà Nội, giá thịt thà và rau củ cứ tăng đều đặn 30-40% mỗi năm, chưa kể tăng gấp đôi vào những sự kiện tăng lương, tăng giá xăng dầu, tăng giá điện hay tăng giá đô la…, tạo nên một nghịch lý rất lớn hiện hình trong nội tình ngân sách và hệ thống ngân hàng Việt Nam: tiền đồng thừa ứ và đang “kiến tạo” lạm phát dần phi mã đã góp thêm một kích thích tố đẩy lạm phát tăng vọt khiến dân tình càng thêm xác xơ. “Tín hiệu đáng mừng của nền kinh tế” (!?) Vào năm 2019, có một vụ việc mà đã suýt chút nữa khiến Việt Nam lọt vào ‘danh sách các nước thao túng tiền tệ’ của Hoa Kỳ: do nóng ruột muốn gia tăng Quỹ dự trữ ngoại hối để có ngoại tệ trả nợ nước ngoài cùng khoe khoang thành tích chính trị nhằm chạy đua đến đại hội 13, chính phủ của thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước ồ ạt tung tiền Việt để thu gom USD trôi nổi trên thị trường. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2019, núi tiền lên đến hơn 200 ngàn tỷ đồng được tung ra lưu thông đã thu lại khoảng 8,5 tỷ USD, tạo nên thành tích chưa từng có của Quỹ dự trữ ngoại hối là có đến hơn 65 tỷ USD. Thế nhưng số ngoại tệ 8,5 tỷ USD gom được lại vượt hơn hẳn điều kiện không được vượt quá 2% GDP (một trong 3 tiêu chí của Hoa Kỳ về thao túng tiền tệ), khiến Việt Nam tuy chưa nằm trong ‘Danh sách các nước thao túng tiền tệ’ nhưng vẫn bị Hoa Kỳ xếp vào danh sách theo dõi đặc biệt. (Mỹ sử dụng ba tiêu chí để đánh giá việc thao túng tiền tệ của một quốc gia: thặng dư tài khoản vãng lai lớn hơn 3% GDP, thặng dư thương mại hàng hóa song phương với Mỹ ít nhất là 20 tỷ đô la, và can thiệp vào thị trường ngoại hối vượt quá ít nhất 2% GDP). Rốt cuộc, giới chuyên gia thân chính phủ đã phải bao biện rằng hiện tượng Nhà máy In tiền Quốc gia sụt giảm về doanh thu là “tín hiệu đáng mừng của nền kinh tế, cho thấy Ngân hàng Nhà nước vẫn đang theo chính sách hạn chế cung tiền ra thị trường”. Nhưng nhìn thẳng vào thực chất vấn đề, không hạn chế cung tiền thì sẽ khiến bóng ma lạm phát đội mồ sống dậy. Bởi Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và đằng sau những cơ quan này là ‘đảng chỉ tay năm ngón’ không còn có thể in tiền và tung xả láng tiền ra thị trường như cái thời Nguyễn Tấn Dũng ‘tiền nhiều như nước sông Đà’, đưa nhiều quan chức cộng sản mấp mé danh sách tỷ phú đô la của Tạp chí nhà giàu Forbes. Nếu không kềm chế hoạt động in tiền thì bất cứ một trạng thái kích động lạm phát đủ nghiêm trọng nào cũng đều có thể làm rung chuyển chân đứng của chế độ cầm quyền ở Việt Nam, vốn đã rệu mục từ lâu bởi các núi nợ công quốc gia và nợ xấu ngân hàng. Đó là nguồn cơn khiến số đơn hàng in tiền của Ngân hàng Nhà nước đã ít hẳn lại vào năm 2019 và làm cho Nhà máy In tiền Quốc gia bị sụt giảm doanh thu và phải chịu lỗ lớn mà không thể mở miệng than van. Phạm Chí Dũng  
......

7 Cảnh báo và 3 Đề nghị vụ cháy nhà máy Rạng Đông ở Hà Nội

”...Đứa mất dạy nào nói cháy nhà máy Rạng Đông “không sao đâu!” cứ đập thẳng vào mặt nó! Sự ngu và ác của chúng nó có thể tước đi tính mạng hay “tạo ra” con cái biến dị cho người khác nếu không thực hiện phòng độc và xử lý độc thuỷ ngân, độc lưu huỳnh từ vụ cháy đấy!...” Quốc Ấn Mai   Tối qua đến sáng nay tôi xem tài liệu về thuỷ ngân, phốt pho và các độc chất khác liên quan đến việc sản xuất bóng đèn và phích nước của nhà máy Rạng Đông. Có nhiều vấn đề có thể viết nhưng tôi sẽ chọn góc tiếp cận thông tin theo hướng giải quyết vấn đề để hạn chế thấp nhất hậu quả nhiễm độc sau vụ cháy. Xin đưa ra các cảnh báo và đề nghị sau: CẢNH BÁO 1- Các gia đình gần nơi xảy ra vụ cháy còn cảm nhận được mùi khó chịu phải di dời lập tức ít nhất 2 tuần khỏi hiện trường. 2-Sử dụng khẩu trang phòng độc (có màng cacbon hay màng nitrat bạc) khi ra đường, nhất là nơi gần xảy ra vụ cháy. Phải sử dụng khẩu trang phòng độc vì có nhiều phản ánh tuy chỉ đi ngang vẫn cảm nhận được mùi khó chịu. Có thể tham khảo thêm ở chương trình phi lợi nhuận này: https://www.facebook.com/1608577719/posts/10213705793151608?sfns=mo Những người gần khu vực vụ cháy và trong bán kính ảnh hưởng Khi đi ngang qua nên mua loại khẩu trang phòng độc này mà đeo vào. Ngăn được 95% những hạt siêu mịn và siêu độc đó! Chí ít là giảm thiểu thiệt hại sức khoẻ đã. 3-Không ăn thực phẩm, trái cây khu vực quanh vụ cháy. Bán kính không hạn chế ở mức 1km như thông báo của phường Hạ Đình (Quận Thanh Xuân, Hà Nội) mà bất cứ đâu người dân từng cảm nhận được mùi cháy và thấy khó chịu vì nó vào tối 28/8/2019. Diện tích cảnh báo sau khi đã cân nhắc của tôi là bán kính 5km quanh vụ cháy vì rất nhiều thông tin về mùi khó chịu (nhiều khả năng là có độc) của vụ cháy trong mức này. Tốt nhất nên tiêu huỷ toàn bộ thực phẩm, trái cây quanh khu vực này. 4-Không sử dụng nước bể lộ thiên, vật chứa nước không đậy cũng khu vực bán kính 5km quanh vụ cháy để nấu ăn. Xả hết nước bể lộ thiên, vật chứa nước không đậy và vệ sinh kỹ rồi mới tích nước lại dùng. Tro bụi vụ cháy và các độc chất có thể ngấm vào nước mà người dân không biết. 5-Vệ sinh toàn bộ nhà cửa bao gồm trần nhà, tường và vật dụng bằng cách lau bằng giẻ ướt để tránh phát tán độc chất dạng bụi, giặt tất cả các quần áo để bênngoài tủ quần áo và xả kỹ, xịt thân vá lá cây cảnh, cây ăn trái. Bụi mịn cỡ PM2.5 và nhỏ hơn (PM1.0 hay PM0.3) từ vụ cháy có thể bám lên bề mặt đồ đạc, quần áo. Nhà có chó mèo thì cũng phải tắm chúng thật kỹ bằng xà phòng sau khi thực hiện các bước trên cũng như vệ sinh chính bản thân mình thật kỹ. Việc này phải làm thường xuyên vì cơn mưa ngày 29/8/2019 có làm bớt bụi mịn thì khi các vũng nước khô đi thì bụi mang độc chất vẫn phát tán do giao thông đi lại. 6-Những người cảm nhận rõ mùi khó chịu của vụ cháy và thấy cơ thể có biểu hiện ho, khó thở, đau ngực, nhức đầu, sốt bất thường thì phải đưa đi khám tại các bệnh viện để có biện pháp xử lý kịp thời. Tốt nhất nên có các xét nghiệm máu và nói rõ với bác sĩ về việc có ảnh hưởng của vụ cháy bóng đèn với khả năng phát tán thuỷ ngân, lưu huỳnh. Uống nước thật nhiều (trên 2,5 lít/ngày). 7-Yêu cầu chính quyền địa phương công bố minh bạch thông tin chi tiết vụ cháy và các ảnh hưởng của nó. Yêu cầu rà soát lại toàn bộ doanh nghiệp sản xuất và kho bãi chứa hàng có các yếu tố hoá chất độc hại trên địa bàn đông dân cư. (Yêu cầu này thì dân nơi chưa xảy ra sự cố môi trường cũng nên làm.) ĐỀ NGHỊ -Đề nghị chính quyền cấp thành phố Hà Nội công bố lập tức thông tin thiệt hại vụ cháy về hàng hoá để biết được mức độ độc hại từ vụ cháy. Tốt nhất nên công bố tình trạng nguy hiểm và di dời ngay lập tức những hộ dân đang bị ảnh hưởng mùi trực tiếp. Phong toả và cách ly kín toàn bộ hiện trường vụ cháy và các hộ đã di dời gần đó nhanh nhất có thể. -Đề nghị các cơ quan chức năng, nhà khoa học trên địa bàn thủ đô phối hợp lấy mẫu không khí, đất, nước quanh vụ cháy trong bán kính 5km hoặc hơn. Nhất là xác định hướng gió của vụ cháy, hướng của nước ngầm để biết tính phát tán. -Đề nghị Bộ Công an lập tức khởi tố vụ án vì tính nghiêm trọng của nó. P/s: Hôm qua cậu em phóng viên Bach Tran vẫn vào sát vụ cháy để tác nghiệp. Tôi đề nghị báo Vietnamplus đưa cậu ấy vào viện ngay bởi qua miêu tả của cậu ấy trong chat thì khả năng là đã nhiễm độc. Các báo khác cũng nên làm thế đối với phóng viên tác nghiệp hiện trường vụ cháy Rạng Đông. P/s2: Đứa mất dạy nào nói cháy nhà máy Rạng Đông “không sao đâu!” cứ đập thẳng vào mặt nó! Sự ngu và ác của chúng nó có thể tước đi tính mạng hay “tạo ra” con cái biến dị cho người khác nếu không thực hiện phòng độc và xử lý độc thuỷ ngân, độc lưu huỳnh từ vụ cháy đấy! Mai Quốc Ấn
......

Lo cho đảng viên trẻ bị diễn biến hoà bình

Ông Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương Đảng CSVN phát biểu tại hội nghị báo chí toàn quốc hôm 28 tháng Mười Hai, 2018. Ảnh: Infonet Phạm Nhật Bình – Web Việt Tân Trong hai tuần lễ vừa qua, hầu như ngày nào báo chí lề đảng cũng loan tải những buổi sinh hoạt, nói chuyện, học tập nhằm vào đảng viên trẻ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, ông Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc cho đến ông Trưởng Ban Tuyên Giáo Võ Văn Thưởng, ông Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam,… và một số cán bộ cao cấp nhưng nay về hưu đã đăng đàn kêu gọi các đảng viên trẻ phải cảnh giác âm mưu diễn biến hòa bình. “Thế lực thù địch” và “diễn biến hoà bình” là hai nhóm từ ngữ mà các cây bút của cơ quan tuyên giáo cộng sản thường sử dụng để đe doạ chẳng những người dân bên ngoài mà ngay cả cán bộ trong đảng. Quy định số 47 của Đảng CSVN đưa ra hồi năm 2011, đưa ra “19 điều quy định đảng viên không được làm” để đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Hay nói khác đi, đây là 19 trọng tội mà đảng viên vi phạm sẽ bị xét xử, chứng tỏ tầm mức quan trọng của vấn đề tư tưởng đảng viên. Giờ đây, mối lo tâm huyết của đảng là ngăn chặn và triệt tiêu sức tấn công của thế lực thù địch vào thành phần đảng viên trẻ, là tầng lớp đang được đào tạo để bước lên ghế lãnh đạo sau này. Sự lo lắng này cũng dễ hiểu vì thế lực thù địch ngày nay của đảng có quá nhiều và thật đáng sợ như đảng thú nhận. Đó là những người bất đồng chính kiến, mạng lưới truyền thông lề trái, những tổ chức xã hội dân sự và những nhóm đấu tranh chính trị ôn hoà. Theo đảng, những thành phần này đều có khả năng đầu độc đảng viên, nhất là đảng viên trẻ, làm cho đảng bị phân hoá nội bộ, băng hoại đạo đức. Lãnh đạo đảng ngày đêm lo âu, mất ngủ vì tư tưởng đảng viên ngày càng xuống cấp, suy đồi. Tệ nạn tham nhũng cũng không có hiện tượng chấm dứt cho dù công cuộc đốt lò của ông Trọng được quảng cáo ầm ĩ suốt mấy năm qua. Thật khó tưởng tượng trong bốn bức tường kiên định chủ nghĩa Mác-Lê, một hệ thống đảng viên luôn được đảng trau giồi, học tập chính trị thường xuyên nay lại dễ dàng bị thế lực này, thế lực nọ làm cho họ mất tin tưởng vào đảng một cách trầm trọng. Gần đây, lần đầu tiên một lãnh đạo cao cấp ngành tuyên giáo là Võ Văn Thưởng và ngay cả Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng đều thừa nhận có một “nhóm thế lực thù địch” nằm ngay trong lòng đảng. Theo ông Thưởng, nhóm này không khó nhận diện nhưng “rất khó đấu tranh” hàm ý rất khó diệt trừ. Đó chính là thành phần đảng viên các cấp, có người đã từng giữ những chức vụ cao trong bộ máy chính quyền và họ bị quy cho suy đồi tư tưởng, mất niềm tin vào đảng. Đây cũng chính là những đảng viên nguy hiểm nhất có thể làm đảng tan nát chứ không phải bọn tham nhũng. Bởi vì cán bộ tham nhũng dù sao cũng là những người trung thành với đảng, giúp cho đảng vững mạnh nhờ đó họ mới có cơ hội làm giàu và nuôi sống đảng. Mà những thế lực thù địch được cho là nằm ngay trong ruột gan đảng thì làm sao diệt cho hết. Theo ông Thưởng, họ “len lỏi và phức tạp”, sử dụng truyền thông xã hội chuyên nghiệp để làm suy yếu nền tảng tư tưởng của đảng. Do đó lần này đảng chơi chiêu mới, bắt đầu chẩn bệnh và chữa bệnh từ hàng ngũ đảng viên trẻ thường gọi là tầng lớp hậu duệ. Nói khác đi đây là đám con ông cháu cha được nuôi dưỡng, rèn luyện để trở thành những hạt giống đỏ “hồng và chuyên” thay thế và thực hiện hệ thống toàn trị của đảng trong tương lai. Khung cảnh diễn đàn mang tên “đảng viên trẻ tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng” do Ban Bí Thư Trung Ương Đoàn Cộng Sản Việt Nam cùng với Học Viện Báo Chí – Tuyên Truyền tổ chức hôm 26 tháng Tám, 2019. Trong chiều hướng đó, chiều ngày 26 tháng Tám vừa qua, một diễn đàn của Ban Bí Thư Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản mang một cái tên rất kêu “Đảng viên trẻ tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” đã được tổ chức tại Hà Nội. Nhiều giáo sư, tiến sĩ thuộc các cơ quan, học viện chính trị, báo chí, các viện triết học đã đăng đàn kêu gọi “các đảng viên trẻ, đoàn viên, thanh niên phải đọc, phải học, phải nắm vững, phải tin vào nền tảng tư tưởng của đảng”… trước hết để nhận diện cho được thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng ấy tức bảo vệ đảng. Đảng viên trẻ cũng phải luôn kiên định lập trường tư tưởng Mác-Lê vì đó là kim chỉ nam cho lập trường chính trị không khoan nhượng trước kẻ thù giai cấp. Có điều các diễn giả chỉa mũi dùi vào thế lực thù địch nhưng không hề giải thích vì sao ngày nay đảng nhìn đâu cũng có thế lực thù địch, ngay cả nhân dân cũng là một “thế lực thù địch tiềm ẩn” như nhận định chua chát của một người đã bỏ đảng. Đảng dạy dỗ đảng viên trẻ phải đọc, phải học nhưng thật ra họ cần gì học đâu cho xa mà chỉ cần nhìn vào tấm “gương sáng” tham ô của các lãnh đạo cao cấp trước vành móng ngựa trong thời gian qua sẽ thấy ngay. Những gì gọi là âm mưu diễn biến hoà bình và thế lực thù địch của đảng không ai khác hơn chính là đồng đô-la đã sai khiến cả đảng lao vào con đường tha hoá. Không thế lực nào khác ngoài đồng tiền đang chi phối chính sách, tạo ra những nhóm lợi ích làm cho nội bộ đảng phân tán và điêu đứng vì quốc nạn tham nhũng do chính đảng nuôi dưỡng. Ngày nay Đảng CSVN còn vẽ vời ra những buổi học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hay mở chiến dịch “50 năm thực hiện di chúc Bác Hồ” để làm gì khi mà hầu hết đảng viên đều không còn tin những gì ông Hồ nói. Nhất là khi chính ông ta trong Đại hội 2 năm 1951 đã thừa nhận “Không, tôi chẳng có tư tưởng gì, ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê; tôi là học trò của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin chớ làm gì có tư tưởng ngoài triết học Mác.” Vì thế chẳng qua các lãnh đạo sau này bày đặt ra cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” để tô son trát phấn cho chế độ đang lúng túng trong cơn khủng hoảng của giáo điều Mác-Lê xơ cứng, không đáp ứng nổi nguyện vọng thay đổi của mọi tầng lớp dân chúng. Đồng thời họ trưng ra “tư tưởng Hồ Chí Minh” làm một cái pháo đài bất khả xâm phạm để các lãnh đạo che giấu sự hủ hoá đạo đức và thất bại trong điều hành đến nỗi đẩy đất nước rơi vào sự tụt hậu mọi mặt. Giờ đây Đảng CSVN nên nhìn vào thực lực yếu kém của mình và những vấn nạn của đất nước, đừng giải quyết lòng vòng để lừa bịp người dân. Nhất là đừng đóng khung bắt đảng viên sống chết trong bốn bức tường của chủ nghĩa Mác-Lê, một trào lưu tư tưởng đã bị thời đại vượt qua và thải hồi. Phạm Nhật Bình  
......

Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ – Quan hệ hai nước sẽ cải thiện?

Diễm Thi -  RFA Mục đích chuyến đi Trong cuộc hội đàm tại Hà Nội hôm 27 tháng Hai, 2019, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã mời Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ trong năm nay để tiếp tục trao đổi về những biện pháp tăng cường quan hệ Đối tác Toàn diện giữa hai nước. Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng nêu điểm khác biệt lớn nhất giữa lần dự kiến đi Mỹ vào giữa năm 2019 của Nguyễn Phú Trọng và lần dự kiến thứ hai vào tháng MườI cùng năm là hội chứng “Tàu Trung Quốc”. Ông phân tích rằng trước tháng Năm, 2019 chưa có vụ tàu Trung Quốc gây hấn ở khu vực Bãi Tư Chính, do đó quan hệ Việt – Mỹ có cần thiết được đẩy lên tầm ‘đối tác chiến lược’ hay không cũng không quá khẩn thiết đối với ông Trọng và giới chóp bu trong Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, dù trước đó đã liên tiếp xảy ra hai vụ Trung Quốc gây hấn đều ở Bãi Tư Chính vào tháng Bảy năm 2017 và tháng Ba năm 2018. Nhưng kể từ đầu tháng Bảy, 2019, khi Trung Quốc ngang nhiên đem tàu thăm dò dầu khí vào khu vực Bãi Tư Chính, thì tình hình đã khác hẳn, kéo theo cán cân đàm phán Việt – Mỹ đã nghiêng hẳn về phía Mỹ, xét trên phương diện ‘ai cần ai hơn’ vào lúc này? “Bài toán đặt ra với Nguyễn Phú Trọng hiện thời là trong khi ông ta vẫn tuyệt đối ‘cấm khẩu’ về vụ tàu Hải Dương và giới quan chức cấp dưới của ông ta cũng ‘sao y bản chánh’, ông ta phải gấp rút thời gian để lôi kéo được người Mỹ tham gia bảo vệ không chỉ vùng biển mà cả vùng trời của Việt Nam ở Biển Đông.” Nhà báo tự do Nguyễn Ngọc Già, cũng là một người theo dõi sát thời cuộc, nhận định chuyến đi dự kiến vào tháng Mười, nếu diễn ra, thì đó là một tín hiệu tốt cho Đảng CSVN nói chung và cho Bộ Chính Trị nói riêng, trong tình thế hiện nay mà ông ví với thành ngữ “thù trong giặc ngoài”. Ông nêu điểm tương đồng không thay đổi trong mối quan hệ Việt – Mỹ từ năm 1946 cho đến nay: “Đặt trong bối cảnh tình hình hiện nay, tôi nhớ tới năm 2013, ông Trương Tấn Sang, đương kim chủ tịch nước lúc bấy giờ, sang thăm chính thức Hoa Kỳ và có mang bức thư của ông Hồ Chí Minh năm 1946 gửi Tổng Thống Harry Truman (dù không nhận được hồi âm), gọi là tặng lại cho tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Barack Obama. Nội dung bức thư đó chúng ta thấy rất rõ ở điểm: Việt Nam đang cầu viện Hoa Kỳ can thiệp vào tình hình Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là một thông điệp quá rõ để thấy nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang rất cần Hoa Kỳ.” Trong khi đó, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc lại cho rằng mục đích chuyến đi của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, mà theo Giáo Sư Carl Thayer là khoảng tháng Mười, là để mở rộng quan hệ Việt – Mỹ và giải quyết những vấn đề nóng bỏng hiện nay trên Biển Đông. Trong đó, Mỹ với vai trò và tính cách là một cường quốc có quyền lợi ở khu vực này. Tuy nhiên ông không đánh giá cao chuyến đi sắp tới bởi một số lý do sau: “Thứ nhất, sức khỏe của ông Trọng chưa thể bảo đảm cho một chuyến đi dài ngày; thứ hai là trong quan hệ Việt – Mỹ, không thể một sớm một chiều mà có thể thay đổi từ quan hệ đối tác chiến lược sang đối tác chiến lược toàn diện. Một điểm nữa, Tổng Thống Donald Trump là một ông “sáng nắng chiều mưa”, và Việt Nam không phải là trọng điểm chiến lược của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương. Do đó mối quan hệ Việt – Mỹ trong thời gian trước mắt chưa có gì bảo đảm để khắng khít theo mong muốn của Việt Nam với chính sách ‘ba không’.” Ông Đinh Kim Phúc cho rằng nếu muốn đẩy mối quan hệ Việt – Mỹ hiện nay thêm một bước thì chỉ cần cấp bộ trưởng ngoại giao là đủ chứ không cần tới nguyên thủ quốc gia. Liên quan đến quan hệ quốc phòng Việt – Mỹ, Luật Sư Vũ Đức Khanh, một người luôn theo dõi tình hình chính trị Việt Nam từ Canada thì cho rằng ông Trọng không có khả năng “tăng tốc” mối quan hệ này vì hạn chế về tuổi tác và ý thức hệ. Tuy vậy ông nhận xét: “Với những gì chúng ta có thể quan sát được về mặt nổi trong quan hệ Việt – Trung và những căng thẳng đang có trên Biển Đông, khả năng một quan hệ tầm chiến lược toàn diện sẽ được nâng cấp trong chuyến thăm Nhà Trắng kỳ này của ông Trọng”. Việt Nam kỳ vọng điều gì? Tại cuộc họp báo thường kỳ vào chiều ngày 14 tháng Ba, 2019, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng cho biết, Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng sẽ sang thăm Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng Thống Mỹ Donald Trump. Thời gian chuyến thăm sẽ được thu xếp vào thời điểm thích hợp. Vào cuối tháng Tư, 2019, Bộ Trưởng Công An CSVN Tô Lâm dẫn đầu một phái đoàn cấp cao của Việt Nam thăm Mỹ theo lời mời của các cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ. Trong cuộc gặp với Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ David Hale, ông Tô Lâm nói: “Việt Nam luôn coi Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu và mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau.” Đó là cách nói của ông Tô Lâm, còn với nhận định của giới chuyên gia về tình hình chính trị thì theo ông Phạm Chí Dũng, với tình hình Biển Đông như hiện nay, Việt Nam phải làm sao đạt được quan hệ ‘đối tác chiến lược’ với Mỹ, để bảo đảm rằng quốc gia đối trọng duy nhất với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ hỗ trợ chế độ cộng sản Việt Nam khai thác dầu khí. Ông nêu ra giải pháp: “Nhưng muốn đạt được ý đồ trên, chính thể độc đảng ở Việt Nam lại phải tính đến việc từ bỏ một phần hoặc toàn bộ chính sách ‘ba không’ giáo điều và vô bổ của nó, nhất là hai nguyên tắc không liên kết với nước này để chống lại nước khác và không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam đã tự lấy đá ghè chân mình.” Chính sách “3 không” của Việt Nam bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Việt Nam cho rằng chính sách này thể hiện Việt Nam giữ trạng thái cân bằng trong quan hệ với các cường quốc. Ở một nhìn nhận khác, ông Nguyễn Ngọc Già khẳng định rằng, trong chuyến thăm Mỹ lần này, phía Việt Nam phải đáp ứng được yêu cầu của Hoa Kỳ về mặt kinh tế với hai vấn đề quan trọng là thâm thủng mậu dịch và thao túng tiền tệ. Việt Nam không nên để Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia thao túng tiền tệ như Donald Trump đã từng cảnh báo. Ngoài vấn đề kinh tế, một vấn đề nữa mà theo ông, Việt Nam cần phải nắm lấy cơ hội ngay, đó là quốc phòng: “Bây giờ họ không chần chừ được nữa, không có đường lui nữa với tình hình Bãi Tư Chính nói riêng và tình hình Biển Đông kết hợp với tình hình Hong Kong, Đài Loan…” Ông Nguyễn Ngọc Già cũng nhận định thêm rằng, Việt Nam có thể thực hiện hay nhượng bộ một số điều để làm vừa lòng Hoa Kỳ, trừ nhân quyền và thể chế độc đảng: “Một điểm duy nhất xuyên suốt mà theo tôi, những ai có quan tâm thời cuộc đều thấy rất rõ từ thời Trần Đại Quang làm chủ cịch nước, đó là họ sẵn sàng đáp ứng tất cả những yêu cầu của Hoa kỳ, nhưng họ chỉ mong muốn phía Hoa Kỳ phải tôn trọng thể chế độc đảng. Tôi nghĩ rằng trong thời điểm hiện nay, có thể Hoa Kỳ vẫn sẽ chấp nhận điều đó.” Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhận xét rằng dù có “chiều” lòng Hoa Kỳ tới đâu, dù có thể hiện quan điểm mới của Việt Nam trong chính sách mà Việt Nam hay gọi là “đa dạng hóa, đa phương hóa” thì cũng không giải quyết được tình hình hiện nay cho Việt Nam, vì Việt Nam hiện vẫn là một nước nhỏ, kinh tế thì vẫn còn nghèo, quân sự thì hạn chế bên cạnh một cường quốc hung hãn như Trung Quốc: “Chính vì vậy mà hơn một tháng qua, ông Nguyễn Phú Trọng không hề lên tiếng trong vấn đề biển đảo. Tôi nghĩ rằng đó là thế thủ, chừa đường lui để tiếp tục quan hệ với Trung Quốc trong tương lai nếu Trung Quốc tạm chấm dứt, tạm đình chỉ hoặc thay đổi phương hướng của mình về tình hình Biển Đông.” Hôm 26 tháng Tám, 2019, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ lên tiếng chỉ trích Trung Quốc có những hành động xâm lấn cưỡng bức đối với các hoạt động khai thác dầu khí ở vùng nước mà Việt Nam đòi chủ quyền. Bộ Quốc Phòng Mỹ gọi các hành động của Trung Quốc là chiến thuật bắt nạt các nước, đồng thời khẳng định cam kết của Mỹ trong việc tiếp tục bảo vệ các đồng minh và đối tác để đảm bảo tự do hàng hải và các hoạt động kinh tế ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Diễm Thi    
......

Ông Châu Văn Khảm bị CSVN vu khống trắn trợn

Le Anh|   Theo bản tin Đài ABC Úc Châu dẫn thông tin do Trung tâm Báo chí và Thông tin của Bộ Ngoại giao Việt Nam cung cấp cho ABC cho biết: "Hôm 29/7/2019, Cơ quan điều tra đã quyết định truy tố ông Châu Văn Khảm và các tòng phạm vì đã có hoạt động khủng bố chống lại chính quyền nhân dân."   Đây là một sự vu khống trắng trợn và vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền CSVN khi không có bất cứ bằng chứng cụ thể nào.   Theo thông tin trên bản thông cáo báo chí lên án nhà cầm quyền CSVN vi phạm nhân quyền của Việt tân cho biết, vào ngày 13 tháng 1 năm 2019, tại Sài Gòn, công an CSVN đã bắt giữ ông Châu Văn Khảm và ông Nguyễn Văn Viễn, một thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ nhân chuyến đi tìm hiểu về tình trạng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam.   Ông Châu Văn Khảm là một thành viên của đảng Việt Tân và là một doanh nhân thành công tại Úc, một gương mặt rất quen thuộc và tích cực trong các sinh hoạt cộng đồng tại thành phố Sydney. Đặc biệt là các sinh hoạt đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ tại Việt Nam.   Hành động trên của nhà cầm quyền CSVN là một trong những cách thường xuyên áp dụng, quy chụp nhà hoạt động bất đồng chính kiến khi họ bị bắt và kết tội với mục đích để tuyên truyền.   Sự kiện ông Châu Văn Khảm bị bắt đã được nhiều báo chí Quốc tế loan tin và các tổ chức nhân quyền lên án.   Bà Nikita White, thuộc Tổ chức Ân xá Quốc tế cho biết Chính phủ Việt Nam "muốn bịt miệng bất kỳ và tất cả các hình thức phê bình".   "Chúng tôi nghe những câu chuyện như của ông Khảm quá thường xuyên - cũng như về các nhà hoạt động đang bị giam cầm vì các cáo buộc xâm phạm an ninh quốc gia vì hoạt động ôn hòa", cô nói.   Bà nói rằng Úc cần gây áp lực với Việt Nam để đảm bảo ông Khảm được xử trong một phiên tòa công bằng và sẽ không phải đối mặt với án tử hình.   Bà Pearson, thành viên Tổ chức Theo dõi Nhân quyền yêu cầu   “Australia cần công khai kêu gọi phóng thích ngay lập tức Châu Văn Khảm, một công dân Úc, và tất cả các tù nhân chính trị đã và đang bị giam giữ một cách bất công ở Việt Nam,”   Trước chuyến đi thăm Việt Nam của ông Scott Morrison, Thủ tướng Úc, Tổ chức theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch và Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu đã ra thông cáo báo chí kêu gọi chính phủ Canberra thúc ép Hà Nội cải thiện thành tích nhân quyền tồi tệ của Việt Nam lâu nay và yêu cầu Ông Thủ Tướng Úc áp lực CSVN trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm con đang bị giam giữ tại Việt Nam.   Trong chuyến đi của ông Thủ Tướng Úc tại VN, không biết ông Scott Morrison có đề cập đến vấn đề nhân quyền và trường hợp của ông Châu Văn Khảm không? Nhưng không nghe báo chí loan tin gì cả.      
......

Tại sao giải pháp dễ nhưng thực hành lại khó?

Một trạm gác di động của Việt Nam tại Trường Sa, tháng Tư, 2010. Mặc Lâm – VOA| Tình hình bãi Tư Chính và tàu Hải Dương 8 xâm phạm vùng đặc khu kinh tế của Việt Nam vẫn đang diễn biến ngày càng phức tạp và khó đoán định. Tin mới nhất cho biết con tàu này đang tiến dần vào Việt Nam chỉ cách Phan Thiết 185 hải lý tức đã vào khu vực kinh tế của Việt Nam có bề rộng 200 hải lý tính từ đất liền. Hành động ngông cuồng này của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh chưa bao giờ tỏ ra mềm lòng trước Hà Nội kể cả khi người bạn nhỏ bé này hết mực nhún nhường người anh cả trong cái gọi là “đại cục”. Trong thời điểm đối đầu hiện nay giữa hai nước, mang tàu thăm dò địa chất vào sâu trong vùng biển Việt Nam Bắc Kinh đang khiêu khích cả thế giới, nhất là Mỹ, một quốc gia mà hồi gần đây luôn lên tiếng bênh vực cho những nước yếu hơn Trung Quốc trên bàn cờ Biển Đông. Trung Quốc đã có những hành động khiêu khích đối với Mỹ trên vùng biển này lẫn trên lĩnh vực ngoại giao, mọi tuyên bố đều xoáy vào luận điểm: Cả Biển Đông là của Trung Quốc và nước ngoài không có quyền tham dự vào trên bất cứ phương tiện nào. Còn Việt Nam thì sao? Vẫn chưa có động tĩnh gì trong khi nhìn bề ngoài thì Trung Quốc giống như đang dí cả chính phủ Việt Nam vào một cái rọ chật chội của truyền thông. Ngoài việc lên tiếng một cách yếu ớt như thường lệ, báo chí, tuyên giáo và cả hệ thống chưa được phép lên tiếng chống lại Trung Quốc như Trung Quốc đang cổ vũ cả nước của họ chống lại Việt Nam. Cái rọ truyền thông ấy chứng tỏ Trung Quốc rất thành công khi cấy “đại cục phù” vào cơ thể của Bộ chính trị Việt Nam khiến cả một hệ thống tê liệt ý chí, bạc nhược tinh thần và tư duy nô lệ đang từng ngày ăn mòn vào suy nghĩ của rất nhiều người kể cả trong và ngoài đảng. Tư duy sợ hãi sức mạnh quân sự và kinh tế của Trung Quốc khiến những lập luận phản động có cơ hội lan tỏa gây ngờ vực trong những cuộc họp tìm phương hướng chống lại cuộc chiến xâm lược của Trung Quốc. Không hiếm những tướng tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam lên mạng tuyên bố rằng chống Trung Quốc là âm mưu diễn biến hòa bình của địch, là cố tình gây chia rẽ tình hữu nghị bền chặt của hai nước và nhất là đánh Trung Quốc Việt Nam sẽ mất tất cả từ đất nước đến quyền lực mà Đảng đang nắm giữ cho đến cuốn sổ hưu mà cán bộ hưu trí đang có trong tay. Những luận điệu ấy tưởng rằng đã mai một với các thực tế đang diễn ra nhưng hình như trong não bộ của rất nhiều người vẫn còn ám ảnh vì chúng. Mỗi khi bàn bạc đến một phương cách chống lại diễn biến mà Trung Quốc đang áp dụng nhiều người lại tự khóa suy nghĩ thật sự của mình lại, mang những gì được uốn nắn lâu nay xào nấu lại, diễn ngôn trên truyền thông đại chúng lừa bịp chính mình và người nghe khiến dư luận không còn biết điều gì đang xảy ra ngay trong nội bộ chính phủ hay Bộ chính trị. Người ta chỉ lờ mờ đoán rằng họ, những kẻ quyền lực cao nhất, đang bối rối tìm cách giải quyết vấn đề nóng bỏng của đất nước chung quanh chiếc bàn tròn mang đặc trưng chủ nghĩa xã hội. Giải pháp luôn có nhưng áp dụng và triển khai nó thì không. Giải pháp đầu tiên và dễ dàng nhất là nói thật, từng chi tiết một không được tránh né và che đậy vì bất cứ lý do gì. Minh bạch thông tin là chìa khóa vàng mở cánh cửa trái tim của người dân đang bị bưng bít và áp chế những thông tin có liên quan đến sự kiện. Thông tin chính xác và nhanh chóng giúp cho binh lính, dân chúng những người không thể tiếp cận tin tức bí mật thuộc diện nhà nước, hiểu được diễn biến câu chuyện để họ có thêm quyết tâm chống giặc giữ nước. Cùng lúc, Việt Nam phải nhanh chóng quyết định từ bỏ những gì không phù hợp trong quá khứ khiến cho việc tìm giải pháp trong tình hình mới như hiện nay khi Trung Quốc ngày một rời xa với niềm tin bằng hữu của Hà Nội và lộ rõ hành vi nước lớn, nhất mực xem hành vi áp đặt của mình là đúng với nguyên lý “sức mạnh nằm trong cây súng”. Cây súng ấy Việt Nam chưa thể có nhưng không vì thế mà vĩnh viễn không có trong tay, nếu Hà Nội cương quyết tìm chỗ để tậu nó hay ít ra dựa vào nó như một thế lực thứ hai nhằm chống lại thế lực Trung Quốc. Nơi đang sở hữu cây súng mà Việt Nam rất cần không ai khác ngoài Mỹ, một đất nước duy nhất mà Trung Quốc sợ hãi và dè chừng. Một đất nước đối trọng thật sự với sức mạnh của Trung Quốc. Đất nước ấy đang chứng tỏ với thế giới khả năng có một không hai về sức mạnh quân sự lẫn kinh tế dư sức làm cho Trung Quốc sụp đổ tham vọng bành trướng. Việt Nam có thể mượn sức mạnh này làm cái khiên che chở những cơn lên đồng của Trung Quốc về ảo tưởng bá chủ thế giới. Mỹ chắc chắn sẽ không nệ hà gì kéo Việt Nam vào danh sách đồng minh của mình để tăng thêm sức mạnh tại Biển Đông, nơi Việt Nam có khá nhiều điều kiện để ngăn chặn Trung Quốc. Việt Nam rất tâm đắc khi cho rằng biết rất rõ Mỹ, nhất là triết lý của Winston Churchill: “Trên thế giới này, không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn”. Mỹ rất thực dụng và sức mạnh của nó nằm trên sự thực dụng ấy. Biết được như thế nhưng vẫn ngập ngừng không dám bắt tay với Mỹ trong khi bàn tay của Washington vẫn đưa ra trong nhiều năm qua. Việt Nam lo sợ sự giận dữ cũa Trung Quốc và cơn giận này được bọn thân thích với Trung Quốc hết lòng vận dụng, tô vẽ, cơi nới nhằm ngăn cản sức mạnh tiềm ẩn mà Việt Nam có thể tựa vào. Hai giải pháp mà bất cứ chính phủ nào cũng có thể làm được cho đất nước của mình còn Việt Nam thì không, hay nói đúng hơn, khước từ không thực hiện. Thực hiện giải pháp minh bạch thông tin nhà nước lo sợ sẽ gây biến động khi nguồn thông tin ấy bất lợi cho nhà nước. Cách suy nghĩ này tồn tại bao nhiêu năm và chưa có dấu hiệu nào bị đánh bật ra khỏi tư duy của người Cộng sản. Nhà nước chưa quen với suy nghĩ người dân cũng là một nhân tố trong việc điều hành và bảo vệ quốc gia, sự tham vấn gián tiếp của họ thông qua nguồn thông tin minh bạch sẽ giúp cho nhà nước rất nhiều trong việc điều hành đất nước và điều chỉnh những sai trái, bóp méo, xuyên tạc của kẻ thù trong chiến lược chống Trung Quốc. Chính sách “ba không” (không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia) đã được Trung Quốc mớm vào miệng của các quan chức thân Trung Quốc gây cản trở nỗ lực chống lại mối hiểm họa đến từ phương Bắc. Trong cả ba điều mà nhà nước Việt Nam luôn vịn vào như một lá bài “hòa bình” nhằm an lòng Trung Quốc đã cản trở sự tự vệ chính đáng của Việt Nam bằng chính tuyên ngôn suy nhược này. “Không dựa vào nước này để chống nước kia” là định dạng của một hành vi đầu hàng ngay khi tiếng súng chưa nổ ra. Bất cứ sự huy động quốc tế nào để tăng thêm khả năng đề kháng chống lại kẻ thù đều bị thế lực thân Trung Quốc lái sang hướng phản động, là đang dựa vào nước này để chống nước kia kể cả chống Trung Quốc cũng vi phạm câu tuyên ngôn “sắt son” này. Giải pháp đốt sạch chính sách “ba không” sẽ là viên đạn đại bác bắn vào thành trì của thế lực thân địch đang ngự trị khắp hang cùng ngõ hẹp của Việt Nam. Hà Nội cần một liều thuốc cực mạnh và cực đắng để tiêu diệt mầm mống phản loạn trước khi nghĩ tới chuyện làm cách nào để chiến thắng sự ngang ngược và lộng hành của Trung Quốc.  
......

Bôi nhọ ông Lê Đình Kình để chuẩn bị tái chiếm đất đồng Sênh

Tháng 4 năm 2017, Nguyễn Đức Chung không chỉ ký sống mà còn lăn tay vào bản cam kết trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân Đồng Tâm. Thường Sơn – (VNTB)|  Không nghi ngờ gì nữa, nhà cầm quyền Hà Nội đang gấp rút lên kế hoạch cho chiến dịch một lần nữa cướp sạch 59 ha đất đồng Sênh của người dân Đồng Tâm, trên danh nghĩa ‘đất quốc phòng’. Tháng 4 năm 2017, Nguyễn Đức Chung không chỉ ký sống mà còn lăn tay vào bản cam kết trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân Đồng Tâm. Chiều 27/8, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức buổi họp báo về việc quản lý, sử dụng đất khu sân bay Miếu Môn, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội. Buổi họp báo có mặt đại diện UBND TP Hà Nội, Thanh tra TP Hà Nội, Thanh tra Chính phủ, nhưng đã không có bất cứ người dân Đồng Tâm nào được tham dự. “Trước buổi thông tin hôm nay, chúng tôi đã gặp trao đổi với nhiều đại biểu Quốc hội, chính quyền xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, một cách công khai, minh bạch. Tôi khẳng định rằng có một bộ phận đối tượng có mục tiêu lợi dụng, trục lợi để lấn chiếm đất hoặc để có thể hy vọng được bồi thường. Bản thân ông Lê Đình Kình (82 tuổi, trú tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội, là 1 trong 4 người bị bắt giữ ngày 15-4-2017) cũng nhằm mục tiêu như vậy, ông Kình đã từng làm nhiều vị trí trong chính quyền ở xã Đồng Tâm nhiều năm trước, ông Kình nắm rõ chi tiết rất nhiều khu đất khác trên địa bàn.” – nhiều tờ báo quốc doanh trích dẫn nguyên văn lời của quan chức Nguyễn Đức Chung – Chủ tịch UBND TP Hà Nội – nói tại buổi họp báo trên. Cụ Lê Đình Kình Cùng toa rập với Nguyễn Đức Chung, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Thanh cũng cho rằng “ông Lê Đình Kình không có quyền khiếu nại kết luận thanh tra của Thanh tra và cũng không phải là người đại diện cho người dân xã Đồng Tâm”. Nhưng ở góc độ đối diện, Luật sư Đặng Đình Mạnh cho rằng từ trước đến nay ông Lê Đình Kình không chỉ là người đại diện mà còn được người dân địa phương xem như một lãnh đạo tinh thần của họ trong quá trình tranh chấp đất đai xây dựng sân bay Miếu Môn giữa chính quyền và người dân. Cuộc họp báo trên là động tác chuẩn bị dọn đường thứ hai của nhà cầm quyền diễn ra trong vòng bốn tháng. Vào chiều ngày 25/4, nhà cầm quyền đã tổ chức buổi công bố “kết luận rà soát thanh tra đất đai Đồng Tâm”  ở Hà Nội. Khi đó, Nguyễn Mạnh Hà, quan chức Tổ trưởng Tổ rà soát, thuộc Thanh tra Chính phủ đã dọn đường dư luận khi cho rằng Kết luận Thanh tra về đất đai ở Đồng Tâm của Thanh tra Hà Nội công bố hồi tháng 7 năm 2017 là chính xác; đồng thời xác định khiếu nại của ông Lê Đình Kình cùng người dân Đồng Tâm liên quan diện tích đất nông nghiệp 59 héc-ta ở đồng Sênh là không đúng. Ngay sau đó, quan chức Nguyễn Đức Chung đứng ra cam kết “tăng cường tuyên truyền để cho người dân hiểu rõ hơn về nguồn gốc và quá trình sử dụng, quản lý đất đai tại sân bay Miếu Môn. Huyện Mỹ Đức và xã Đồng Tâm được giao sớm hoàn thiện 14 phương án bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân đang ở khu vực này”. Đã rất rõ là những động tác móc ngoéo trước sau của ‘liên minh ma quỷ’ (cụm từ mà bà con Đồng Tâm trực chỉ giới quan tham và nhóm lợi ích) đã âm thầm chuẩn bị phương án ‘cướp sạch’ trong những tháng qua, để nay chính thức đưa lên truyền thông công bố và dọn đường dư luận. Cũng đã rất rõ là trên gương mặt viên cựu công an Nguyễn Đức Chung không còn sót lại chút nào tì vết liêm sỉ cuối cùng mà những người dân còn mơ màng về bản chất chính thể, bản chất quan chức, và cả những người dân có quá ít thông tin thực chất về vụ khủng hoảng Đồng Tâm có thể vin vào đó để ‘thắp sáng hy vọng có đảng là có tất cả’. Trong chiến dịch “rào làng chiến đấu” vào tháng 4/2017, Đồng Tâm đã trở nên mạnh mẽ với tinh thần đồng lòng và được dẫn dắt bởi giới cựu binh vốn đã quá quen với việc xây dựng “thế trận nhân dân”, đã bắt giữ cả một trung đội cảnh sát cơ động và buộc Nguyễn Đức Chung không chỉ ký sống mà còn lăn tay vào bản cam kết trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân Đồng Tâm. Thế nhưng dối trá lại là bản chất của một chính quyền chỉ phục vụ cho các nhóm lợi ích và đàn áp người dân. Từ năm 2017 đến nay, chính quyền Hà Nội vẫn không một lần thực hiện nội dung cam kết là truy xét những quan chức công an và quân đội đã đánh gãy xương đùi ông Lê Đình Kình. Ngược lại hoàn toàn, nhà cầm quyền Hà Nội lại sắp nhe nanh lao vào cắn xé đất đồng Sênh.
......

Vì sao Việt Nam ‘can đảm’ tập trận với Mỹ và ASEAN?

Tàu buồm Lê Quý Đôn của hải quân Việt Nam, được xem là 'tàu buồm hiện đại nhất thế giới', nhưng đã biến mất tăm khi tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc xâm phạm Bãi Tư Chính. Thường Sơn  - (VNTB) Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng Việt Nam bất ngờ tỏ ra ‘can đảm’ khi nhận lời tham dự một cuộc tập trận với Mỹ và các nước trong khối ASEAN, diễn ra từ ngày 2 tới ngày 6-9-2019. Sự kiện diễn tập này diễn ra ở cảng hải quân Sattahip ở tỉnh Chonburi, Thái Lan, và kéo dài tới mũi Cà Mau của Việt Nam.   Mặc dù Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng “là thành viên của ASEAN, Việt Nam sẽ tham gia cuộc diễn tập này", như  nhiều năm trước đây Việt Nam đã không hề tham gia loại hình tập trận chung này dù đã là thành viên của ASEAN từ lâu.   Việc lần đầu tiên Việt Nam ‘can đảm’ tham dự vào cuộc tập trận trên diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang tiến hành chiến dịch mang tên ‘Hải Dương 8’ và cho các tàu xông vào Bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, mà không một chút nể mặt ‘đảng em’.   Không những khiêu khích, Trung Quốc còn không thèm che giấu ý đồ chiếm trọn Bãi Tư Chính - là nơi tập trung nhiều nhất các lô dầu và khí đốt màu mỡ của Việt Nam, cũng là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên cuối cùng để khai thác nuôi đảng và bù trám cho ngân sách hộc rỗng cùng núi nợ nước ngoài lên đến ít nhất vài trăm tỷ USD.   Thực ra, đã có tiền lệ cho cuộc tập trận của Việt Nam không phải với ASEAN, mà là với Mỹ. Vào năm 2018, giới chóp bu Việt Nam đã lần đầu tiên ‘can đảm’ cho lực lượng hải quân nước này tham gia tập trận hải quân lớn nhất thế giới mang tên Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) tại Hawaii và Nam California - diễn ra vào cuối tháng Sáu năm 2018.   Việc Việt Nam quyết định tham gia vào cuộc tập trận trên xảy ra khoảng 3 tháng sau khi Trung Quốc tiến hành gây hấn lần thứ hai tại Bãi Tư Chính, còn trước đó đã nổ ra gây hấn lần đầu vào năm 2017.   Tháng 3 năm 2018, Tập Cận Bình lại cử Vương Nghị - Bộ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc - đến Việt Nam ngay sau vụ Bãi Tư Chính lần hai, với một “tối hậu thư”: Việt Nam phải “cùng hợp tác khai thác” mỏ Cá Rồng Đỏ với Trung Quốc. Nếu không, “bản lĩnh Việt Nam” sẽ hết cửa kiếm tiền ngay trong vùng lãnh thổ của mình.   Không bao lâu sau ‘tối hậu thư’ của Vương Nghị, Trung Quốc đã tiến thêm một bước xa hơn bằng việc vẽ lại ‘đường lưỡi bò’ quét qua đến 67 lô dầu khí của Việt Nam ở Biển Đông, chặn toàn bộ cửa ‘làm ăn’ của kẻ vẫn đang mơ màng về ‘Bốn Tốt’ và ‘Mười sáu chữ vàng’.   Tình trạng cô đơn cùng cực trên trường quốc tế cùng trạng thái mất ngủ lẫn mất ăn dầu khí đã khiến chính thể độc đảng ở Việt Nam phải tiến tới quyết định ‘bám Mỹ’, với bước đi liều lĩnh hơn hẳn khi tham gia vào cuộc tập trận hải quân lớn nhất ở Hoa Kỳ vào năm 2018 và với mỹ cùng ASEAN vào năm 2019. Bằng cách thức này, Việt Nam đã gián tiếp xác nhận bước đi của mình như một đồng minh quân sự của Mỹ, chứ không chỉ là tư cách quan sát viên như hồi 2016.   Bài toán đặt ra với Nguyễn Phú Trọng hiện thời là một sự gấp rút thời gian khi phải lôi kéo được người Mỹ tham gia bảo vệ không chỉ vùng biển mà cả vùng trời của Việt Nam ở Biển Đông, mà nếu động thái đó được triển khai có hiệu quả thì Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ yên tâm khai thác dầu khí cùng với các đối tác liên doanh mà không còn quá sợ hãi bị Trung Quốc nắt nạt, còn Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng có thể tỏ ra can đảm hơn đôi chút chứ không đến nỗi bị dân chửi ‘ngư dân bám biển, hải quân bám bờ’ và ‘chưa đánh chác gì đã đái cả ra quần’.   
......

Về quan điểm “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”

An Viên (VNTB)| Những người trung thần chế độ mà quyền lực là độc tôn biến mình thành một “con chó” [1], để khi lãnh đạo sai đâu thì cắn đó, bất chấp các lý lẽ, đạo đức và sự thật. Và khi tự loại bỏ ra khỏi vị trí con người, họ cũng mất luôn nhận thức một thực tế cay đắng rằng, trong khi họ đổ máu và công sức vì “lý tưởng cách mạng”, thì người được lợi nhất lại là giới lãnh đạo, những tận hưởng sự sa hoa và bê tha đạo đức [2]. Chiều 26.8, Ban Bí thư T.Ư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã phối hợp với Học viện Báo chí – Tuyên truyền tổ chức diễn đàn “Đảng viên trẻ tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. PGS – TS Lương Khắc Hiếu, nguyên Giám đốc Học viện Báo chí – Tuyên truyền khẳng định: Cái nào trái với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước chúng ta gọi nó là sai trái và phải kiên quyết chống lại. Chị Nguyễn Ngọc Trinh, Bí thư Đoàn phường Thành Công (TP.Buôn Ma Thuột), cho biết với tư cách là Bí thư Đoàn phường và phó bí thư dân quân phường, chị đã tham mưu cho chi bộ phát động phong trào mỗi ngày một điều Bác Hồ dạy. Cũng theo báo Thanh Niên, chị Ngọc Trinh cũng tham mưu thành lập “đội phản ứng nhanh” để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, thù địch bằng cách lập các tài khoản ảo để thường xuyên đăng tải các thông tin bảo vệ Đảng, chính quyền đồng thời report (báo cáo vi phạm) đối với những bài viết, tài khoản phản động. Báo Thanh Niên online mau chóng gỡ bỏ những lời phát biểu đầy thật thà nhưng đi ngược tinh thần thời đại 4.0 của chị Nguyễn Ngọc Trinh. Dập khuôn quan điểm và độc tôn chân lý Quan điểm của PGS – TS Lương Khắc Hiếu và Bí thư Đoàn phường Thành Công (Tp. Buôn Mê Thuột) tuy hai mà một. Bởi nó đều hướng tới dập khuôn tư tưởng và độc tôn chân lý. Một thể thức thường thấy tại những nước độc tài trong lĩnh vực quyền lực chính trị, và ngự trị ở Việt Nam sau hàng thập kỷ. Nếu dựa trên nguyên tắc “người của chế độ” và giữ vững sự độc tôn chế độ bất chấp các quy luật thời đại, thì quan điểm của GS Khắc Hiếu và Bí thư phường Ngọc Trinh là không sai. Bởi cả hai đều là gộc đỏ của chế độ và lương từ chính ngân sách chế độ mà ra, nhưng trên cả là những biệt đãi mà chế độ dành cho họ, những “trung thần”, hay nói gọn hơn là “Hồng vệ binh” của chế độ. Mao Trạch Đông, người dung dưỡng đội ngũ Hồng vệ binh bên Trung Quốc đã có một phát biểu vào năm 1958, trong đó phác họa những con người “của chế độ, thuộc chế độ và chết vì chế độ” như sau. “Chúng tôi cần những người trẻ tuổi, có trình độ học vấn thấp, có thái độ vững vàng và kinh nghiệm chính trị để tiếp quản công việc.” Mao Mao Trạch Đông tuyên bố. Và sự cuồng tín, trung thành, nhiệt tâm đã biến những “Hồng vệ binh” cách mạng trở thành một trong những người thẳng tay trừng phạt những kẻ mà họ cho là “phản động, thù địch”. Điều này dẫn đến một thảm họa mà Trịnh Nghị (Zheng Yi), một nhà văn Trung Quốc mô tả rằng, trong một số trường trung học, sinh viên giết hiệu trưởng của họ và sau đó nấu chín và ăn nội tạng (hiệu trưởng] để ăn mừng một chiến thắng trước bọn phản cách mạng. Những người trung thần chế độ mà quyền lực là độc tôn biến mình thành một “con chó” [1], để khi lãnh đạo sai đâu thì cắn đó, bất chấp các lý lẽ, đạo đức và sự thật. Và khi tự loại bỏ ra khỏi vị trí con người, họ cũng mất luôn nhận thức một thực tế cay đắng rằng, trong khi họ đổ máu và công sức vì “lý tưởng cách mạng”, thì người được lợi nhất lại là giới lãnh đạo, những tận hưởng sự sa hoa và bê tha đạo đức [2]. Sở dĩ phải diễn giải rất nhiều về Hồng vệ binh thời Mao Trạch Đông, vì ở cả GS Khắc Hiếu và Bí thư Đoàn phường Ngọc Trinh đã cho thấy điều đó. Họ – sẵn sàng quy kết “sai trái” và “kiên quyết chống lại” nếu quan điểm hay ý kiến nào đó trái chủ nghĩa và tư tưởng Mác-Lênin, tư tưởng HCM, đường lối ĐCSVN. Họ – sẵn sàng sử dụng những tài khoản ảo để “like”, thả biểu tượng cảm xúc cho các bài viết tôn vinh; báo cáo các tài khoản trái chiều nhằm “bảo vệ Đảng, chính quyền”, và dựa vào đó để xét hạng rèn luyện chính trị. Họ sống trong thời đại mà đối thoại, đa chiều và thông tin liên tục hiện diện, nhưng cách thức họ tiến hành dập khuôn tư tưởng, độc tôn chân lý cho thấy một mô thức rất Maoism. “Hạ xuống với bất cứ ai chống lại Mao”, hay “hạ bất kỳ ai ngược hướng với Đảng” là một. Họ là những người có ăn học, và cũng giống như tầng lớp giáo viên và học sinh thời kỳ Cách mạng Văn Hoa, họ luôn mang theo trích dẫn quan điểm của lãnh tụ, hình ảnh của lãnh tụ để làm giá đỡ quan điểm, trở thành cái loa để phát ra những điều cũ kỹ đến hàng thế kỷ, trong khi chính kiến cá nhân hoàn toàn biến mất. Họ trở thành những người, dù học hàm, học vị cao, nhưng sự thật lại là những người có trình độ nhận thức thấp kém như Mao đã từng nhận định về lực lượng Hồng vệ binh. Điều họ làm được là thái độ độ chính trị vững vàng và không khoan nhượng. Và nếu sinh trong thời kỳ “cách mạng hừng hực” tái lặp một tinh thần “đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” như nêu trên thì có lẽ, GS – TS Khắc Hiếu và Bí thư phường Ngọc Trinh sẽ treo cổ ông Võ Văn Thưởng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương ĐCSVN vì quan điểm “chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận”. Thậm chí, cách mà cách mà Bí thư Đoàn phường Ngọc Trinh khuyến khích sử dụng tài khoản ảo để tuyên truyền và báo cáo các tài khoản khác bị cho là “phản động” cũng đi ngược lại với tinh thần Định danh tài khoản Facebook, bảo vệ người dùng của Bộ Thông tin và truyền thông. Và điều cuối cùng, PGS – TS Lương Khắc Hiếu và Bí thư Đoàn phường Thành Công có thể chỉ ra điểm sai của bài viết này? [1] “Tôi là con chó của Chủ tịch Mao. Ông ta nói cắn ai, tôi sẽ cắn”, Giang Thanh đề cập vai trò của bà trong Cách mạng Văn hóa, https://vnexpress.net/the-gioi/hai-phien-toa-the-ky-cua-trung-quoc-2872204.html. [2] “Vào thời điểm đó, đỉnh cao của Cách mạng Văn hóa, đôi khi Mao ở trên giường với ba, bốn, thậm chí năm người phụ nữ cùng lúc”, bác sĩ riêng của Mao, ông Li Zhisui, “The East, the West, and Sex: A History of Erotic Encounters”, tác giả Richard Bernstein.  
......

Canh chừng nhau, rồi sao nữa?

Nguyễn Tường Thụy -  RFA| Theo các nguồn tin nước ngoài, tàu khảo sát Hải Dương 8, với sự hộ tống của ít nhất bốn tàu khác, ngày 24 tháng Tám, 2019 đã tiến sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở vị trí cách đảo Phú Quý 102 km về phía đông nam và cách bờ biển Phan Thiết 185 km, tức là 100 hải lý. Điều đó có nghĩa là nhóm tàu Trung Cộng đã vào giữa vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng 200 hải lý của nước ta. Thông tin này chưa thấy báo chí Việt Nam nhắc tới. Không thể giữ mãi đường lối ngoại giao mềm dẻo tới mức nhu nhược Sự hung hăng, lấn lướt của Trung Cộng cho thấy, nhà cầm quyền Việt Nam cần phải xem xét lại đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền của Tổ Quốc. Từ sau khi Trung Cộng cưỡng chiếm đảo Gạc Ma và nhất là sau Hội nghị Thành Đô, nhà cầm quyền Việt Nam nhanh chóng chuyển từ trạng thái đối đầu sang đối thoại. “Đối đầu” (hay) “đối thoại” là những từ hay cụm từ được nhắc tới với tần suất rất nhiều trong giai đoạn chuyển đổi này. Tuy nhiên, chính sách ngoại giao mềm mỏng tới mức nhu nhược, hạ mình của phía Việt Nam sẽ là bất lợi cho tư thế và chủ quyền của Việt Nam. Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Cộng tháng Hai, 1979 và những đụng độ khác giữa hai nước không được nhắc tới. Sự húy kỵ tới mức báo Du Lịch bị đình bản 3 tháng và ông Nguyễn Trung Dân, Phó Tổng Biên Tập bị cách chức và thu hồi thẻ nhà báo chỉ vì đã cho đăng những bài “nhạy cảm” như bài “Tản mạn cho đảo xa” (của Trung Bảo), “Ải Nam Quan”. Những bài báo này can tội bóng gió nói đến chủ quyền của Tổ Quốc. Những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc đều bị đàn áp và cho đến nay có thể nói đã bị tê liệt. Tiếc lãnh thổ bị mất, nhiều bạn trẻ đêm đêm tìm cách dán các khẩu hiệu HS – TS – VN ở các nơi công cộng, xong bỏ chạy, tránh sự truy đuổi của cảnh sát. Nguyễn Đặng Minh Mẫn và Phạm Thanh Nghiên bị tù do viết khẩu hiệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Những người lên tiếng về chủ quyền biển đảo bị cho là là kích động chiến tranh. Luận điệu này hết sức bậy bạ. Chẳng lẽ không có quốc gia nào dám lên tiếng khẳng định chủ quyền của mình trước họa xâm lăng? Những người yêu cầu nhà cầm quyền phải cứng rắn hơn với Trung Quốc bị coi là những “phần tử phản động, cơ hội chính trị lại tìm mọi cách để xuyên tạc tình hình, gây bất ổn trong nước” (báo Hà Nội mới). Khác hẳn giai đoạn trước đó với 2 cuộc chiến tranh biên giới và một cuộc nội chiến, từ sau 1988, nhà cầm quyền lại nhún nhường một cách quá mức để tránh một cuộc chiến tranh. Không ai muốn chiến tranh xảy ra, nhưng điều này còn tùy thuộc vào đối phương. Trong vụ Trung Cộng cướp đảo Gạc Ma, phía Việt Nam nhún nhường tới mức không dám nổ súng. Các chiến sĩ hải quân bị biến thành bia chủ quyền, rồi trở thành bia sống cho quân xâm lược. Cuối cùng, đảo Gạc Ma vẫn mất. Nguyễn Thị Kim Ngân “giao thiệp” với Tập Cận Bình ngày 12 tháng Bảy, 2019. Ảnh Báo mới Gần đây nhất là vụ tàu HD 8 của Trung Cộng đến khiêu khích ở Bãi Tư Chính bắt đầu từ ngày 3 tháng Bảy, 2019. Lẽ ra, phía Việt Nam phải lên tiếng phản đối, dừng các hoạt động ngoại giao xã giao. Thế mà 12 tháng Bảy, Nguyễn Thị Kim Ngân lại sang Bắc Kinh ưỡn ẹo “giao thiệp” với Tập Cận Bình. Những hình ảnh Kim Ngân tươi cười, thân thiện, gần gũi họ Tập coi như không có chuyện gì xảy ra làm cho dư luận vô cùng phẫn nộ, gọi thị là kẻ bán nước. Sự mềm dẻo tới mức nhu nhược không thể bảo vệ được đất nước mà còn là tín hiệu cho kẻ thù yên tâm và quyết tâm hơn trong việc thực hiện mưu đồ xâm lược của chúng. Ngày 9 tháng Năm, 2014, Tổng Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã viết thư gửi giáo dân Việt Nam về tình hình Biển Đông. Bức thư có đoạn: “những thỏa ước tôn trọng tình hữu nghị giữa hai quốc gia láng giềng, giữa hai Đảng Cộng Sản (Việt Nam và Trung Quốc) thực tế đã cho thấy không mang lại lợi ích cho dân nước Việt Nam mà còn đưa đất nước vào tình trạng lâm nguy” (theo Wikipedia). Canh chừng nhau, rồi sao nữa? Trở lại tình hình mới nhất là nhóm tàu Trung Cộng đã vào tới giữa vùng đặc quyền kinh tế của nước ta. Như vậy, Trung Cộng đã dấn thêm một bước leo thang mới, đẩy xung đột ở Biển Đông ngày càng căng thẳng. Động thái mới từ phía Trung Cộng cho thấy, tình hình có thể nghiêm trọng hơn vụ giàn khoan HD 981 hồi tháng Năm, 2014. Những hành động tiếp theo của Trung Cộng là gì, điều này không ai có thể biết trước nhưng chắc chắn không phải là điều tử tế. Mỗi lần Trung Cộng gây hấn, hai bên đều dàn tàu ra để canh nhau, xịt vòi rồng hoặc huých vào nhau, chưa bên nào dám nổ súng. Mỗi bên đều tố cáo bên kia va chạm vài trăm lần. Sau đó, HD 981 đã rời đi, mỗi bên đều tuyên bố có lợi cho mình. Phía Trung Cộng nói là đã “hoàn thành việc khoan và thăm dò”. Phía Việt Nam cho rằng “đây là sự thành công về cuộc chiến về pháp lý, về ngoại giao của Nhà nước và Nhân dân Việt Nam”. Cả hai vụ giàn khoan HD 981 và vụ HD 8 ở Bãi Tư Chính, chưa có tiếng súng nổ nhưng va chạm thì quyết liệt. Phía Việt Nam không nổ súng do kiềm chế và phải chăng Trung Cộng cũng đợi Việt Nam nổ súng để gây chiến tranh. Lẽ thường, một quốc gia khi bị nước khác xâm phạm chủ quyền thì có quyền nổ súng. Thậm chí, Bắc Việt Nam còn vượt vĩ tuyến 17 để nổ súng vào Việt Nam Cộng Hòa, đánh thốc vào chiếm Sài Gòn luôn. Có một trận đánh ở Đồng Hới, Bắc Việt Nam cho máy bay MIC ném bom Hạm đội 7 Hoa Kỳ. Lúc đó Hạm đội 7 đang đỗ ngoài khơi giống như tàu HD 8 của Trung Cộng bây giờ. Hồi đó, chẳng phải dè dặt đắn đo gì, thấy đối phương là chiến, thậm chí tìm đối phương để tiêu diệt. Bây giờ thì khác, vì “tình hữu nghị”, vì “đại cục” nên chẳng dám bắn vào kẻ thù trước. Thậm chí, kẻ thù nổ súng trước, chưa chắc đã dám bắn lại như bài học ở Gạc Ma. Thôi, cứ để “đảng và nhà nước lo” và để cho dân chửi. Nhưng chẳng lẽ cứ gầm ghè nhau, huých vào sườn nhau mãi. Khoảng cách 100 hải lý rất gần. Chẳng lẽ, nó đi đến đâu, ta theo đến đấy, may mà nó quay về thì tốt. Nhưng nhỡ nó đổ bộ lên Mũi Né thì sao? Liệu có phải vẫn một ông Việt Nam đi kèm một thằng giặc trên bộ xem nó làm gì, mong nó quậy chán thì về, đi theo tiễn. Đấy là nói đến trường hợp không có chuyện đọ súng xảy ra mặc dù ta có quyền bắn. Nhưng chủ quyền của ta dễ để cho quân thù ra vào tùy thích như vậy hay sao? 25/8/2019    
......

Cách chôn giấu chữ “hèn” của đảng

Van Nga DO Ông Cộng bị thằng cha hàng xóm đem hung khí sang đất nhà mình cướp mất cái ao của gia đình. Thế nhưng ông Cộng ém tin này làm con cái trong nhà không hay biết gì. Một lần thằng con được người khác mách lại sự tình nên mới vỡ lẽ nhà đang bị cướp, thế là ông con về nhà gân cổ la lên cầu cứu. Ông Cộng sợ mất lòng tên cướp nên đã dùng tay bịt mồm ông con lại. Ông con quyết không chịu câm, ổng vùng vẫy lấy hết sức cạy tay ông bố ra và la tiếp. Thấy bịt mồm ông con không được, ông bố vào nhà thả bầy chó dữ tấn công ông con để hắn không còn to mồm tố tên cướp kia nữa. Vâng, ông Cộng là ĐCSVN. Thằng cha hàng xóm sang nhà ông Cộng ăn cướp là ai chắc không cần phải nói. Phía bên ăn cướp đã cho tàu vượt ra khỏi khu vực Bãi Tư Chính rất xa để áp sát bờ biển Việt Nam và cách biển Phan Thiết chỉ có 185 km. Điều này cho thấy, Trung Cộng không chỉ tham vọng muốn chiếm nguồn dầu mỏ mà họ còn muốn chiếm nốt phần chủ quyền ít ỏi mà Việt Nam đang có. Dã tâm cướp thì đã rõ, thế nhưng chính quyền CSVN lại cho phong tỏa nguồn tin về tình hình tranh chấp trên báo chí nhà nước. Đây rõ ràng là hành động ém tin không cho dân biết. Đói tin, nên dân đành phải hóng các nguồn tin từ nước ngoài. Trong tình hình quân cướp nước tiến sát bờ, đảng đã không thông tin một lời nào cho dân biết mà còn xua thêm thành phần có vai trò tương tự như bọn chó dữ trong truyện ngụ ngôn kia tấn công đánh phá những ngòi bút đang truyền tải sự thật. Ngày 26/08/2019, trên báo Thanh Niên có đăng bài “Đảng viên trẻ phải học, đọc mới nhận diện được âm mưu của thế lực thù địch”. Trong tình hình ngoại xâm đe dọa như thế, nhưng Trung Ương đoàn và Học Viện Báo Chí tuyên truyền lại lên chiến dịch tấn công những người nói lên sự thật. Hàng loạt trang facebook có lượng follow cao và đưa tin nhanh chóng bị đám này đưa vào tầm ngắm. "Đàn chó" này đã lập ra nhóm gọi là “đội phản ứng nhanh”, những kẻ này đã lập những nick giả rồi report đánh sập các nick chính chủ. Mục đích của bọn này là làm tắt đi những nguồn tin cập nhật từ bên ngoài nhằm bảo vệ đảng khỏi mang tiếng hèn. Hành động hèn dù có bị tố hay không thì nó cũng in vào lịch sử. Dù cho hôm nay đảng có xua chó tấn công người lên tiếng thì với hành động như vậy của đảng thì cũng không cách nào gột rửa được chữ hèn trước lịch sử. Chữ hèn với đảng như là hình với bóng vậy. Có thể nói không ngoa rằng, chữ “hèn” là cái bóng của đảng trước ánh sáng sự thật. Mà một khi là cái bóng thì đảng bước một bước nó theo một bước, đảng đi đâu bóng theo đó. Đảng rất sợ cái bóng này cho nên đã xua một đàn chó trung thành đến cào bới vùng đất dưới chân mình thành cái huyệt. Ý đảng muốn là cho cái bóng đáng ghét ấy xuống huyệt và lấp lại để nó không còn đeo bám vào gót chân mình nữa. Thế nhưng khi lấp huyệt xong, cái bóng ấy vẫn xuất hiện chình ình bên trên ngôi mộ vừa lấp. Cái bóng ấy không hề nằm dưới mộ mà nó vẫn cứ bám gót đảng. Thực tế, đảng không thể chạy trốn chữ hèn được, trừ khi đảng đứng về phía dân. Vì sao? Vì dân ta không bao giờ hèn với ngoại xâm, lịch sử đã chứng minh điều đó. -Đỗ Ngà- Tham khảo: https://thanhnien.vn/…/dang-vien-tre-phai-hoc-doc-moi-nhan-…
......

Thoát Trung là con đường Nhà nước và Nhân dân phải cùng làm

Hà Sĩ Phu Thoát Trung là chống lại con đường Bắc thuộc mới đang hiện ra ngày càng khốc liệt. Sự nghiệp chống xâm lược của một quốc gia đương nhiên phải do Nhà nước của quốc gia ấy đảm đương và tổ chức. Nhưng việc chống xâm lăng Trung Cộng đối với Nhà nước Cộng sản Việt Nam là việc rất khó thực hiện vì hai lý do: – Do nhu cầu bảo vệ quyền lãnh đạo độc tôn của một đảng Cộng sản nên ĐCSVN không muốn Thoát Trung. Việc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam lại mâu thuẫn với việc bảo vệ quyền lực độc tôn của đảng, mà lời TBT Nguyễn Văn Linh chính là một minh chứng khi ông đặt ĐCS của ông lên trên Tổ quốc: “Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng”. Lời đúc kết ấy, tuyên ngôn ấy “mãi mãi là một vết cắt lịch sử rất sâu vào da thịt Việt Nam”. – Nhưng đã có những văn bản ràng buộc khiến ĐCSVN không thể Thoát Trung. Điển hình nhất là Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng dưới sự chỉ đạo tối cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Công hàm ấy tán thành công hàm của Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai xác định hải phận của Trung quốc, có bản đồ kèm theo, xác định Tây Sa và Nam sa (tức Hoàng Sa và Trường sa) là của Trung quốc, tức không phải của Việt Nam. Đó là căn cứ pháp lý mà Trung Quốc đã đưa vào hồ sơ pháp lý trình Liên hiệp quốc. Muốn bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng chỉ có cách duy nhất là lên án công hàm ấy chống lại chủ quyền của nhân dân Việt Nam, cũng tức là lên án chế độ Cộng sản mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đại diện. Đó không chỉ là một văn bản pháp lý bán nước mà còn nặng nề hơn. Bán tức là xác định quyền sở hữu trước đây của mình nhưng nay bán cho nước khác, nhưng công hàm Phạm Văn Đồng công nhận Hoàng Sa Trường Sa là của Trung quốc, không phải của Việt Nam, đó là sự chối bỏ chủ quyền, nay biết nói sao trước pháp luật quốc tế? Không chối bỏ cái công hàm tự diệt ấy thì làm sao mà kiện? Ấy mới là việc ở hải phận và biển đảo, còn sự xâm lăng nội địa và toàn diện tất nhiên còn có những ràng buộc khác cũng không kém phần rắc rối. Vì hai lý do như trên, muốn Thoát Trung tận gốc, để muôn đời thanh thản, chẳng có cách gì khác hơn là phải thoát ly khỏi thể chế cũ, cái thể chế đã bất đắc dĩ phải cho kẻ thù truyền kiếp mượn đường “môi răng” để tiến hành xâm lược ngọt như tằm ăn dâu. ĐCS đương nhiên không muốn Thoát Cộng, không thể tự Thoát Cộng. (Chính HCM trước đây đã nói tự Đảng khó sửa lỗi của mình nên cần có sự hỗ trợ của Nhân dân). Nhân dân sẽ hỗ trợ đảng bằng những áp lực. Hai áp lực thông thường nhất là những kiến nghị, yêu sách và các cuộc biểu tình đông đảo, ôn hòa, giúp Đảng biết lắng nghe mà sửa lỗi. Đảng giúp dân thực hiện các hoạt động ấy cũng là cách tự giúp mình thoát hiểm, trở về thành một đảng trong xã hội dân chủ đa nguyên, và mãi mãi sung sướng vì độc lập khỏi kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Dù dân không nêu khẩu hiệu Thoát Cộng nhưng cuối cùng vẫn phải động vào cái gốc ấy, cái chốt ấy, cái khóa ấy, mới giải quyết được mọi vấn đề. Trong điều kiện Nhà nước còn có khó khăn, nhiều con đường tại các làng xã, xóm thôn đã theo sáng kiến “Nhà nước và Nhân dân cùng làm” nên thôn xóm khang trang, thanh thoát. Sáng kiến ấy rất hay, tôi nghĩ con đường Thoát Trung rất lớn lao này Nhà nước và Nhân dân cũng nên hiệp đồng, cùng làm như làm những con đường nơi thôn dã vậy.  ***  Những trở ngại trên con đường Thoát Trung: – Trở ngại từ trong ĐCS. Những yêu cầu của Trí thức và dân chúng có lẽ chỉ tập trung vào nhu cầu đối ngoại, như yêu cầu Nhà nước kiện Trung quốc ra Liên hiệp quốc chẳng hạn, nhưng muốn đáp ứng những yêu cầu ấy đương nhiên phải có những thay đổi sâu sắc từ bên trong đảng, từ bên trong thể chế, dần dà cũng là thay đổi từ gốc. Như trên đã nói, sự tự thay đổi này là rất quan trọng nhưng cũng thật là khó khăn. Đòi hỏi một hệ thống quyền lực tự mình giảm thiểu vì lợi ích sống còn của Dân tộc vẫn là chuyện không bao giờ dễ dàng. – Trở ngại về phía Nhân dân: Hơn nửa thế kỷ sống trong chiến tranh, trong bất an mà kết quả lại không như ý nên số đông người dân chán nản trước việc chung, từ cái gốc nồng nàn yêu nước nay dẫn đến vô cảm thờ ơ, mặc kệ việc đời, khi chưa thấy có ngọn cờ nào đủ sức gây lại cảm hứng ngày xưa, mà cứ ló ra ngọn cờ là đương nhiên bị diệt. – Trở ngại từ phía giặc Bành trướng. Trung quốc muốn Việt Nam cứ là Cộng sản nhược tiểu thân Tàu để tiếp tục “tàm thực” cho đến tận cùng. Nếu Trung quốc thấy phía VN có thay đổi, không nghe lời nữa tất nhiên họ phải có đối sách. Nếu họ dùng bạo lực chiến tranh thì cuộc xâm lược sẽ mau chóng hoàn toàn thất bại. Nếu VN thực sự muốn đi với thế giới văn minh để chống Bắc thuộc thì mọi sức mạnh bên trong và bên ngoài lập tức sẽ hình thành và hiệp lực thành sức mạnh vô địch không gì cản nổi. Điều lo ngại nhất là Tàu sẽ chơi nước cờ thâm hiểm: Trước đây Tàu dùng chư hầu nhưng không tạo được cho chư hầu một bộ mặt đẹp đẽ, thế là hạ sách. Nay nếu bên trong họ đẩy nhanh sự lấn át cho thành sự đã rồi, nhưng đồng thời bên ngoài cho phép chư hầu ca bài ái quốc oai hùng bằng miệng để dân bị lừa mà mừng rỡ, mà hy vọng thì đó là điều nguy hiểm không thể coi thường. Với nỗi niềm của một con dân nước Việt, biết mình chỉ là một công dân “tiểu tốt vô danh”, nhưng lòng chẳng thể yên, nên tôi cứ nghĩ xa thôi lại nghĩ gần mà trút hết nỗi lòng như vậy, mong được lượng thứ nếu còn những điều gì tác giả nghĩ chưa được thỏa đáng.  *
......

Chính sách ngoại giao mù

Đỗ Ngà Ngày 05/08/2019, bà Federica Mogherini - phó chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) và các đại diện cấp cao của EU về chính sách đối ngoại đã đến Hà Nội để bàn về việc, hai bên sẽ ký Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (FPA) vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Sự kiện này làm cho một số người cho rằng, Việt Nam đang tìm kiếm mối quan hệ với các cường quốc nhằm cân bằng với sự đe dọa ngày một tăng từ phía Trung Quốc. Thật sự ý đồ của Hà Nội là vậy, nhưng đây là bước đi sai không phải bước đi đúng hướng để bảo vệ quyền lợi cho đất nước Việt Nam. Có thể nói rằng, EU là một hiệp hội của các quốc gia gần nhau tựa như tổ chức ASEAN nhưng mức độ hoàn chỉnh của nó hơn hẳng cái tổ chức của khu vực Đông Nam Á kia. EU đã có nghị viện chung và đồng tiền chung, nghĩa là định hướng của tổ chức này sẽ là tiến tới một quốc gia tựa như một cộng hòa liên bang khổng lồ trong tương lai giống Hoa Kỳ. Định hướng hay, nhưng việc tiến tới một quốc gia liên bang như Hoa Kỳ có thể nói là còn rất rất lâu nữa. Vì sao? Vì bên trong 28 quốc gia của khối này còn nhiều chia rẽ, mà cụ thể là vụ ly khai của Anh Quốc. Nói thế để chúng ta thấy, EU về kinh tế có GDP tương đương Hoa Kỳ, nhưng về sức mạnh quân sự nó là con số zero tròn trĩnh. Như vậy việc Việt Nam tiến tới ký Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (FPA) với EU nghe như là một bước đi sáng suốt, nhưng thực ra nó là một nỗ lực để tìm kiếm một hiệp ước hữu danh vô thực. Trung Quốc họ không ngán những bước đi như vậy của phía Việt Nam. Hãy nhìn sang Hàn Quốc và Nhật Bản mà xem họ đã có những bước đi vững chắc như thế nào? Việc 2 quốc gia này chơi với Mỹ là một hình mẫu về sự khôn ngoan có tầm chiến lược. Chơi một đại ca tử tế hơn vạn lần bắt tay với trăm thằng ất ơ. Họ đã chọn chữ “chất” chứ không thèm quen biết kiểu vớ vẩn. 2 quốc gia này đã làm gì? Họ đã ký kết những hiệp ước quân sự với Mỹ, và trong các hiệp ước đó họ đã mời quân Mỹ đồn trú ở quốc gia họ. Cả Hạm Đội 7 của Mỹ hiện giờ đang đóng ở Yokosuka Nhật Bản, nó như là một lá chắn vững chắc canh giữ con cọp dữ Trung Cộng, con gấu Nga hung tợn và canh chừng cả cái ông nhóc láu cá Bắc Hàn. Đây là quan hệ cộng sinh giữa Nhật – Hàn và Mỹ để cân bằng sức mạnh quân sự với trục lưu manh của thế giới trong đó có Trung Quốc. Trung Quốc là một quốc gia có tiềm lực quốc phòng mạnh và bên trong quốc gia này chứa rất nhiều mầm loạn đang chực chờ bùng phát. Mà thực tế cho thấy, khi mầm loạn bên trong Trung Quốc bùng phát thì chính quyền Bắc Kinh tìm cách trút những khó khăn đó ra bên ngoài lãnh thổ. Tựa như một quả bóng bị bơm căng hay một nồi áp suất quá đầy hơi, áp lực bên trong phá vỡ vị trí nào yếu nhất của vỏ bọc để giải phóng năng lượng từ phía đó. Với Trung Quốc, phía Bắc có Nga, phía đông có liên minh Hàn – Nhật – Mỹ, phía Đông-Nam có Ấn Độ vv.. Trong các hướng quanh Trung Quốc đại Lục thì hướng Nam yếu nhất. Vì sao? Vì ở hướng này có một ĐCS Việt Nam đang quý “16 chữ vàng 4 tốt” hơn là quyền lợi quốc gia nên Trung Quốc sẽ cho xả van theo hướng này để giảm áp tình hình trong nước. Hãy nhìn vào tình hình thực tế của mấy ngày nay chúng ta sẽ thấy, Mỹ cho leo thang thương chiến, dân Hồng Kông leo thang biểu tình thì kết quả là Tập Cận Bình cho leo thang tranh chấp Biển Đông với Việt Nam. Đây là một minh chứng rất rõ cho ý đồ của Bắc Kinh. Như vậy, để cân bằng với áp lực từ phía Bắc thì Việt Nam chỉ có thể chơi với kẻ mạnh hơn Trung Quốc. Mà không phải chơi theo kiểu đi thăm thú và bắt tay hữu hảo là xong, mà chơi phải cho ra trò. Nghĩa là sao? Nghĩa là khi chơi với Mỹ thì phải có hiệp ước quân sự với họ, phải mời được quân đội hùng mạnh của nước này đồn trú tại Việt Nam. Chỉ có thế thì mới có thể chặn được nút van của Trung Cộng đang chĩa vào Việt Nam. Ngoài cách đó ra thì mọi giải pháp ngoại giao kiểu đi khắp nơi bắt tay lung tung, làm bạn với tất cả nhưng chẳng có một hiệp ước quân sự mạnh mẽ nào với Mỹ, thì việc tìm kiếm giải pháp để vô hiệu hóa áp lực của Trung quốc chỉ là công cốc. Với cách làm của Việt Cộng hiện nay, đảm bảo Trung Cộng sẽ vẫn cứ lấn tới bất chấp Việt Cộng có cố “làm bạn” với ai. Với lối ngoại giao bế tắc kiểu Việt Cộng, thì chắc chắn rằng, tương lai của Việt Nam sẽ chịu một loạt nhưng bất ổn liên hoàn. Vì sao? Vì càng về sau nội tình Trung Quốc càng rối reng, mà khi rối ren thì Bắc Kinh sẽ gây hấn với Việt Nam. Đất nước Việt Nam từ lâu đã bị Bắc Kinh xem là cái bao bố để xả stress, và sau những cú xả stress như vậy thì hoặc lãnh thổ Việt Nam bị gặm mất một phần hoặc một phần quyền lợi nào đó của đất nước được ĐCS đem ra hy sinh. Đó là cái giá mà đất nước Việt Nam phải trả mà không biết trả đến bao giờ mới stop được. -Đỗ Ngà-  
......

Vì sao Hải Dương 8 rời Bãi Tư Chính để vào gần Phan Thiết?

Thường Sơn - (VNTB) Vụ tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 và nhóm tàu hải cảnh hộ vệ cho nó tạm rời khu vực Bãi Tư Chính để đi vào vùng lãnh hải Việt Nam chỉ cách thành phố Phan Thiết có 180 km - được thông tin bởi hãng tin Reuters theo dữ liệu của trang web Marine Traffic theo dõi các chuyển động của tàu vào ngày 24/8/2019 - cho thấy các mục đích gây hấn của Trung Quốc là ‘phong phú’. Mục đích đầu tiên đương nhiên là tranh ăn dầu khí với Việt Nam. Tiếp theo ‘đường lưỡi bò 9 đoạn’ được Bắc Kinh điều chỉnh vào năm 2018 mà đã quét qua đến 67 lô dầu khi - chiếm phần lớn các mỏ dầu khí của Việt Nam ở Biển Đông, Hải Dương 8 và hờm sẵn sau lưng nó có thể là những giàn khoan khổng lồ như Hải Dương 981 và Đông Phương nhằm gây sức ép buộc chính thể ‘đảng em’ Việt Nam phải chia phần dầu khí khai thác được tại các mỏ Cá Rồng Đỏ - là liên doanh giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) với hãng dầu khí Reppsol của Tây Ban Nha, và mỏ Lan Đỏ - liên doanh giữa PVN với Tập đoàn dầu khí Rosneft của Nga - cả hai đều nằm ở vùng biển đông nam Việt Nam. Và tốt nhất là Việt Nam chỉ được liên doanh với Trung Quốc mà không với bất kỳ quốc gia nào khác. Trong cả hai lần gây hấn tại Bãi Tư Chính vào tháng 7 năm 2017 và tháng 8 năm 2018, Trung Quốc đều đạt được mục đích tạm thời khi buộc Repsol phải ‘tháo chạy’ khỏi mỏ Cá Rồng Đỏ, còn đối tác Việt Nam thì phải cắm mặt bồi thường cho Repsol khoản chi phí mà tập đoàn Tây ban Nha đã ứng ra ban đầu để thăm dò dầu khí, có thể lên tới 300 - 400 triệu USD. Nhưng vụ tàu Hải Dương 8, vừa trở lại khu vực Bãi Tư Chính sau 5 ngày quay lại đảo Đá Chữ Thập để tiếp liệu đã lại rời khỏi Bãi Tư Chính để ‘tham quan’ vùng biển gần Phan Thiết, cho thấy Trung Quốc còn muốn vươn xa hơn mục đích đầu tiên. Vụ việc trên xảy ra trong bối cảnh một tin tức đang ngày càng cận kề: sau một thời gian khá dài được Ban Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trung ương tận tình cứu chữa, ‘Tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng đã gần như hồi phục khỏi cơn bạo bệnh và chuẩn bị cho chuyến thăm Washington - một chuyến đi đặc biệt quan trọng - không chỉ về danh thể của Nguyễn Phú Trọng mà còn do tính chất đối đầu đã tới lúc không thể khoan nhượng giữa Việt Nam với Trung Quốc, mà theo đó Việt Nam đang rất cần đến lực lượng hải quân và không quân của Hoa Kỳ - đối trọng duy nhất với Trung Quốc tại Biển Đông - để bảo vệ Việt Nam khai thác dầu khí nuôi đảng. Vậy Trung Quốc muốn gì? Chẳng khó để hình dung ra rằng Tập Cận Bình chẳng thích thú gì với chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng, và muốn gây sức ép buộc Trọng phải hủy bỏ chuyến đi đó. Hoặc nếu không hủy bỏ thì buộc Nguyễn Phú Trọng phải đi Trung Quốc trước khi đi Mỹ, như một biểu hiện ‘triều kiến’. Còn nhớ, việc thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng đã dược dự kiến trong nửa đầu năm 2019, nhưng do Trọng bị bạo bệnh tại Kiên Giang ‘nhà Ba Dũng’ nên đành phải tạm gác lại chuyến đi đó. Thay vào đó, Nguyễn Xuân Phúc đã được cử đi Bắc Kinh dự Hội nghị thượng đỉnh về sáng kiến ‘Một vành đai, Một con đường’ do Trung Quốc chủ trì, diễn ra vào tháng 4 năm 2019. Gần 3 tháng sau đó, vẫn không phải Nguyễn Phú Trọng mà là  Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đi Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình để ‘làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược’ và cả một từ ngữ cực kỳ mơ hồ và nghe có vẻ giễu cợt: ‘đại cục’. Đã hầu như chắc chắn là sau giai đoạn đầu cho tàu Hải Dương 8 vào quấy phá tại Bãi Tư Chính, Trung Quốc sẽ còn ra những đòn mới và lắm chiêu trò hơn nhằm hành hạ tinh thần ảo não của giới chóp bu Việt Nam. Sau vùng biển Phan Thiết, nhiều khả năng Hải Dương 8 sẽ còn ‘du hí’ tại những vùng biển khác của Việt Nam và chẳng biết đến khi nào mới chịu chấm dứt trò chơi đau khổ ấy, nhất là trong ngữ cảnh cả Bộ Chính trị Việt Nam tuyệt đối ‘cấm khẩu’, và trong bối cảnh toàn bộ lực lượng vũ trang Việt Nam bất động và bất lực./.
......

Khủng hoảng bãi Tư Chính: Bước ngoặt mới cho Việt Nam

Nguyễn Quang Dy - Viet-Studies    Biển Đông khủng hoảng “lần 2” tại bãi Tư Chính là tiền đề cho một cuộc “khủng hoảng kép” về đối ngoại và đối nội của Việt Nam. Nửa cuối năm 2019 sẽ chứng kiến một bước ngoặt mới cho Việt Nam khi đất nước phải “tái cân bằng” quan hệ chiến lược với Mỹ và Trung Quốc, đồng thời chuẩn bị đổi mới thể chế để cải cách kinh tế và chính trị cởi mở hơn. Bước ngoặt và “khủng hoảng kép” Về đối ngoại, đối đầu và triển vọng có thể mất bãi Tư Chính buộc Việt Nam phải nâng cấp quan hệ với Mỹ lên đối tác chiến lược và tái cân bằng quan hệ với Trung Quốc để bớt lệ thuộc hơn. Dự kiến chuyến thăm Mỹ của TBT-CTN Nguyễn Phú Trọng vào tháng 10/2019 (theo David Hutt) là thời điểm hệ trọng để điều chỉnh chiến lược, trước khi quá muộn. Về đối nội, diễn biến mới tại bãi Tư Chính và triển vọng điều chỉnh chiến lược buộc Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, để tháo gỡ ách tắc đang làm triệt tiêu những tiềm năng và động lực phát triển đất nước. Việt Nam cần tiếp tục chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực của các nhóm lợi ích thân hữu đang thao túng làm triệt tiêu động lực cải cách.   Nếu Việt Nam không tháo gỡ được hai vấn đề lớn nói trên đúng lúc (trước năm 2021) thì không chỉ mất bãi Tư chính mà còn có thể mất luôn chủ quyền quốc gia. Kinh nghiệm trong mấy thập kỷ qua cho thấy cơ hội mới đang đến, nhưng có thể tuột khỏi tay. Với tính cách thất thường của tổng thống Trump, cửa sổ cơ hội để điều chỉnh chiến lược đang khép lại. Trong một thế giới bất an với những hệ lụy bất ổn, quốc gia nào cũng phải dựa vào nội lực là chính, trên cơ sở chủ nghĩa dân tộc. Nhưng trong trật tự thế giới mới khó lường, không một quốc gia nào (kể cả Mỹ và Trung Quốc) có thể sống biệt lập mà không cần đồng minh và đối tác. Tuy đối ngoại là sự nối tiếp của đối nội, nhưng nó làm đòn bẩy cho đối nội. Đếm ngược bom nổ chậm Trung Quốc đủ mạnh để chiếm được bãi Tư Chính và kiểm soát được Biển Đông mà Mỹ và các nước đồng minh không làm gì được (ít nhất là cho tới lúc này). Nhưng Trung Quốc cũng có “gót chân A-sin” và giới hạn của quyền lực. Liệu Trung Quốc có thực muốn giành được bãi Tư Chính để đánh mất Việt Nam và các nước bạn bè còn lại hay không? Trung Quốc đủ mạnh để chiếm được Hong Kong và biến thành một tỉnh của Trung Quốc mà Mỹ và các nước đồng minh không làm gì được. Nhưng liệu Trung Quốc có thực sự muốn vậy không, vì kiểm soát Hong Kong (như Thượng Hải) có thể đánh mất Hong Kong như “con ngỗng đẻ trứng vàng”. Cái giá Trung Quốc phải trả cho việc này quá lớn. Nói cách khác, bãi Tư Chính và Hong Kong là hai quả bom nổ chậm, mà Trung Quốc đã châm ngòi dây cháy chậm. Cửa sổ cơ hội để tháo gỡ quả bom nổ chậm đang khép lại (trong gần 2 tháng tới). Trong khi đối đầu tại bãi Tư Chính đang kéo dài nguy hiểm, khủng hoảng chính trị tại Hong Kong đang xô đẩy cả hai bên vào “cái bẫy Thiên An Môn”. Trong khi Trung Quốc đau đầu đối phó với chiến tranh thương mại với Mỹ (hay “chiến tranh lạnh kiểu mới”) với hệ quả khó lường, thật là nguy hiểm nếu ông Tập Cận Bình chơi trò “bên miệng hố chiến tranh” (brinkmanship) tại bãi Tư Chính và Hong Kong cùng lúc. Không rõ lãnh đạo Trung Quốc vừa họp tại Bắc Đới Hà có ủng hộ điều đó hay không. Cập nhật về bãi Tư Chính Theo nguồn tin dầu khí, Việt Nam đã hợp tác với Sumitomo và Idemitsu (Nhật Bản) để khai thác dầu khí tại Mỏ Sao Vàng-Đại Nguyệt (lô 05-1b và 05-1c) tại bể Nam Côn Sơn của Việt Nam, làm Trung Quốc tức giận điều tàu thăm dò HD-8 và tàu hải cảnh tới bãi Tư Chính để ngăn cản. Khi tàu HD-8 rời bãi Tư Chính (6/8/2019) để tiếp liệu tại đá Chữ Thập, chân đế dàn khoan đã được chuyển tới mỏ Sao vàng tại bãi Tư Chính (12/8/2019) và hạ đặt thành công (18/8/2019). Tàu HD-8 và nhóm tàu hải cảnh đã trở lại bãi Tư Chính (13/8/2019). Cùng ngày (18/8/2019) Việt Nam điều tàu hộ vệ “Quang Trung” (HQ-016) là một trong 4 tàu hộ vệ mang tên lửa (thuộc lớp “Gepard” 3.9) đến bãi Tư Chính để bảo vệ dàn khoan. Tàu HQ-016 là chiến hạm hiện đại nhất của Hải quân Việt Nam, được trang bị hệ thống vũ khí chống hạm, chống ngầm, và phòng không mạnh. Nói cách khác, Việt Nam đã “quân sự hóa” vụ đối đầu với Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, sau hơn một tháng các tàu cảnh sát biển và kiểm ngư nhỏ hơn của Việt Nam phải đối phó với đội tàu hải cảnh hiện đại của Trung Quốc.  Tuy đây không phải lần đầu tiên Việt Nam dùng tàu hải quân để bảo vệ chủ quyền biển, nhưng động thái này đã làm thay đổi cuộc chơi (a game changer), đẩy Trung Quốc vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Nếu Trung Quốc điều tàu hải quân (hay dàn khoan) đến khu vực bãi Tư Chính để bắt nạt Việt Nam và khẳng định chủ quyền thì sẽ làm tăng khả năng đụng độ vũ trang trên biển. Dù muốn hay không, đối đầu tại bãi Tư Chính đang leo thang nguy hiểm. Cùng ngày (18/8/2019) đại tướng David Goldfein (tham mưu trưởng Không quân Mỹ) và đại tướng Charles Brown (tư lệnh không quân Mỹ tại Thái Bình Dương) đã đến thăm Việt Nam. Trong cuộc họp báo tại Hà Nội, Goldfein nói Mỹ tôn trọng các quyết định và hành động của Hà Nội liên quan đến việc tàu Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. “Chúng tôi kịch liệt phản đối các hoạt động thách thức chủ quyền của Việt Nam”. Ngày 20/8/2019, John Bolton (Chủ tịch NSC) nói “Leo thang gần đây của Trung Quốc đe dọa các nước đang khai thác tài nguyên tại Biển Đông là đáng lo ngại…Mỹ quyết ủng hộ các nước chống lại thái độ cưỡng ép và bắt nạt đe dọa hòa bình và an ninh khu vực”. Ngày 22/8/2019, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Mỹ lên tiếng ủng hộ Việt Nam chống lại cố gắng của Trung Quốc đang đe dọa các nước muốn khai thác tài nguyên tại Biển Đông”. Cùng ngày, Việt Nam tuyên bố (lần đầu tiên) tham gia tập trận hải quân với Mỹ và ASEAN.       Ngày 22-23/8/2019, Thủ tướng Úc Scott Morrison đến thăm Việt Nam. Thời điểm của chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng, tuy Canberra đến nay vẫn giữ im lặng về vấn đề này. Là thành viên của “Bộ Tứ” (trong tầm nhìn Indo-Pacific) Úc cần có vai trò tích cực hơn, và là đối tác chiến lược của Việt Nam từ 3/2018, Việt Nam mong muốn Úc ủng hộ (như Mỹ) tại Biển Đông. Trong cuộc họp báo chung tại Hà Nội (23/8) cả hai thủ tướng đều bày tỏ “lo ngại sâu sắc” nhưng tránh nói đến Trung Quốc. Ông Morrison nói, “Tôi không đến đây để lên án hay làm điều gì đó như vậy. Chúng tôi không chọn bên nào” (We do not take sides).     Trung Quốc tại bãi Tư Chính    Để độc quyền hay “cùng khai thác” dầu khí tại Biển Đông, Trung Quốc phải tìm cơ hội để kiểm soát và khẳng định chủ quyền (vô lý) của họ bằng “đường chín đoạn”, bất chấp luật biển quốc tế 1982 (UNCLOS) và phán quyết của PCA 2016. Để biến bãi Tư Chính (trong vùng EEZ của Việt Nam) thành “khu vực tranh chấp”, Trung Quốc đang dùng tàu thăm dò HD-8 và đội tàu hải cảnh quấy phá và ngăn cản hoạt động của Việt Nam và đối tác (Nga và Nhật). Trung Quốc có thể ngăn Việt Nam và ExxonMobil khai thác mỏ khí “Cá Voi Xanh” (lô 128). Để ép các nước ASEAN chấp thuận dự thảo “COC” của họ với 3 điều kiện vô lý, Trung Quốc đề nghị: (1) ASEAN không được đưa nội dung UNCLOS vào COC; (2) Không được tập trận chung với bất kỳ nước nào bên ngoài ASEAN, nếu không được sự đồng ý của tất cả ASEAN và Trung Quốc; (3) Không được tiến hành các hoạt động kinh tế với bất kỳ nước nào bên ngoài ASEAN mà không được sự đồng ý của tất cả ASEAN và Trung Quốc. Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”, chưa có hồi kết, với hệ lụy khó lường. Những dấu hiệu bất ổn về kinh tế (như tốc độ phát triển chậm lại, dự trữ ngoại tệ và thị trường chứng khoán suy giảm), và về chính trị (như bất đồng quan điểm trong nội bộ gần đây tại Bắc Đới Hà), ngày càng làm bộc lộ “gót chân A-sin” tiềm ẩn của Trung Quốc, mà các chuyên gia (như David Shambaugh, Paul Krugman) đã cảnh báo.   Trong cuộc đấu “bất đối xứng” tại bãi Tư Chính, Trung Quốc là “người khổng lồ chân đất sét” (theo Joseph Nye) trong khi Việt Nam nhỏ yếu hơn nhưng không khuất phục. Trong khi Trung Quốc dùng bãi Tư Chính làm nơi luyện tập cho các lực lượng tàu hải giám và dân quân biển (theo Derek Grossman), Việt Nam cũng dùng bãi Tư Chính để rút kinh nghiệm. Trong trò chơi này, Việt Nam không thể thiếu sự ủng hộ của dân chúng và quốc tế. Việt Nam tại bãi Tư Chính Bãi Tư Chính đối với Việt Nam còn quan trọng hơn cả Scaborough shoah đối với Philippines. Để mất Scarborough là một sai lầm lớn của Manila và Washington, nên họ phải cố giữ không để Trung Quốc quân sự hóa chỗ này (như “làn ranh đỏ”). Trong khi Trung Quốc bắt nạt Việt Nam tại bãi Tư Chính, họ cũng đang bắt nạt Philippines tại đảo Thị Tứ. Chắc Hà Nội đã nhận ra rằng, dù ông Deterte có xoay trục theo Bắc Kinh, thì Trung Quốc vẫn bắt nạt và lấn chiếm Philippines như vậy. Vì vậy, Hà Nội đã rút kinh nghiệm và quyết giữ bãi Tư Chính bằng được (như “làn ranh đỏ”). Bãi Tư Chính không chỉ hệ trọng về vị trí chiến lược, mà còn có ý nghĩa sống còn về chính trị, vì để mất Tư Chính là mất hết. Nếu Hà Nội càng nhân nhượng thì Bắc Kinh càng lấn tới, vì họ quyết lấn chiếm để từng bước thay đổi thực địa, biến Biển Đông thành cái ao của họ. Vì vậy, không ngạc nhiên nếu sắp tới Trung Quốc đưa dàn khoan vào bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền. Chính sách ngoại giao pháo hạm (gunboat diplomacy) của Trung Quốc là “mềm nắn, rắn buông”. Tuy khủng hoảng Biển Đông “lần hai” lặp lại khủng hoảng Biển Đông “lần đầu” (về quy luật), nhưng khác nhau (về tính chất). Trung Quốc gây ra khủng hoảng “lần hai” không chỉ để nắn gân Hà Nội và quốc tế xem phản ứng thế nào, mà còn là hành động “xâm lược mềm” hay “xung đột cường độ thấp” theo “chiến lược vùng xám” (grey area strategy). Thay lời kết     Theo một khảo sát của Pew Research (năm 2017), 64% người Việt được hỏi cho rằng kinh tế Trung Quốc phát triển xấu, trong khi 92% cho rằng ảnh hưởng của Trung Quốc đe dọa Việt Nam. Tâm trạng này ngày càng tăng bởi tình hình gần đây tại bãi Tư Chính. Nay Hà Nội đã nhận ra rằng nhân nhượng Trung Quốc không có tác dụng, mà chỉ càng làm cho họ rắn hơn để triển khai các hành động xâm lược mới, nên Hà Nội đang cứng rắn hơn. Trong bối cảnh Biển Đông khủng hoảng “lần 2” tại bãi Tư Chính, Việt Nam đứng trước bước ngoặt mới. Chuyến thăm Mỹ sắp tới của TBT&CTN Nguyễn Phú Trọng (dự kiến 10/2019) là thời điểm hệ trọng để Việt Nam xử lý cuộc “khủng hoảng kép”. Việt Nam cần điều chỉnh chính sách đối ngoại để “tái cân bằng” với Mỹ và Trung Quốc (cuối năm 2019), và chuẩn bị đổi mới thể chế toàn diện tại Đại Hội Đảng lần thứ 13 (đầu năm 2021). Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị (20/8/2019) là một chuyển động đúng hướng (tuy hơi chậm). NQD. 24/8/2019  
......

Nền giáo dục 3 chữ C

Phạm Nhật Bình - Viettan.org| Tại Diễn đàn giáo dục 2019 do 3 tổ chức giáo dục trong nước phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 17 tháng Tám vừa qua, Phó Viện Trưởng Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam Lê Anh Vinh đã trình bày chủ đề “Những viễn cảnh giáo dục mới“. Khi một năm học mới sắp bắt đầu, hãy thử xem những gì diễn giả mô tả với nhiều mỹ từ đầy lạc quan dẫn người ta đi tới đâu. Trước hết, bỏ qua hàng hà sa số bệnh tật giáo dục dưới thời Bộ Nhạ, ông phó viện trưởng nhìn lại những kết quả mà ông cho là đáng tự hào trong giai đoạn từ 2011 đến nay. Những kết quả ấy bao gồm trong 3 chữ C được giải thích là Cam Kết – Công Bằng và Chất Lượng. Ông Lê Anh Vinh đã diễn giải ra như sau: Đầu tiên là Cam Kết. Nhà nước cam kết chắc như đinh đóng cột rằng “Giáo dục và đào tạo luôn là quốc sách hàng đầu”… trong các văn bản. Bằng chứng là mức đầu tư trong giáo dục nằm trong mức cao so với các nước trong khu vực, khoảng 5,8% GDP. Không tính đến mức độ khả tín của con số do thống kê nhà nước đưa ra, với GDP khoảng 220 tỷ USD thì 5,8% dành ra chưa tới 1 tỷ 500 triệu cho dân số suýt soát 100 triệu. Có nghĩa mức đầu tư cho giáo dục của Việt Nam chưa phải là cao “so với các nước trong khu vực” như diễn giả lạc quan. Sự cam kết ấy trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay rõ ràng chưa đem lại những thay đổi căn bản nào về triết lý giáo dục, phương pháp đào tạo, hệ thống sách giáo khoa cũng như kiến thức của người đi học. Cho nên Cam Kết ở đây phải hiểu là Bộ Giáo Dục và Đào Tạo phải giữ cam kết với đảng, lái cổ xe giáo dục đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa cho đến ngày cả nước xuống hố. Đối với Bộ Nhạ, đây là một nhiệm vụ nặng nề nhưng đầy vinh quang. Mặc dù là một người luôn tỏ ra thiếu khả năng, nhưng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo dưới tài quản lý ông Nhạ đã hoàn tất vai trò đưa nền giáo dục hiện đại của Việt Nam oanh liệt tiến vào thị trường “bát nháo” như nhận định của một nhà giáo tại Hà Nội. Chữ C thứ hai, Công Bằng được ca ngợi là điểm mạnh được cả cộng đồng quốc tế công nhận, như phổ cập giáo dục tiểu học từ những năm 2000. Xét ra đây là chuyện không đáng khoe vì là chuyện mà thiên hạ đã làm từ lâu, ngay trong thời chiến tranh. Trên thực tế, trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2018 ít nhất có 4 tỉnh là Hà Giang, Lạng Sơn, Hoà Bình, Sơn La thực hiện sự công bằng bằng cách sửa điểm thi, nói một cách nặng nề hơn là gian lận thi cử. Chuyện này không nghe diễn giả đề cập. Do đó chữ C thứ hai Công Bằng trong giáo dục chỉ là sửa điểm, nâng điểm cho con em cán bộ, những công tử đảng ham chơi hơn ham học. Vì dù thành tích học tập rất tồi nhưng những thành phần COCC này phải được đào tạo để trở thành những nhà lãnh đạo kiệt xuất trong tương lai. Và như bà Nguyễn Thị Quyết Tâm Phó Bí Thư Thành uỷ HCM từng nói: “Con em lãnh đạo làm lãnh đạo là điều hạnh phúc của dân tộc, không có gì phải nghi ngại.” Do đó, đây cũng là chiều hướng chỉ đạo “sáng suốt” của đảng cầm quyền để đào tạo cán bộ kế thừa. Chữ C thứ ba được nhà giáo dục Lê Anh Vinh giải thích là “Chất Lượng” mà đáng lẽ ông phó viện trưởng phải dùng chữ “phẩm chất” mới đánh giá chính xác nền giáo dục hiện nay. Nếu chỉ kể ra kết quả những cuộc thi Olympic quốc tế hay đánh giá của tổ chức PISA qua các cuộc khảo sát 3 năm một lần e chưa được đầy đủ và chưa nói hết được mức độ “bát nháo” mà một nhà giáo ở Hà Nội đã kể ra trong bài viết của mình. Như “bát nháo thị trường tham nhũng thi cử”, “bát nháo liên kết đào tạo sư phạm”, “bát nháo chứng chỉ ngoại ngữ, tin học”, “bát nháo thị trường cấp chứng chỉ xếp hạng giáo viên”, “bát nháo đường vào đại học và hệ luỵ”, v.v. Chính vì vậy “Chất Lượng” giáo dục được thể hiện hàng năm là sinh viên tốt nghiệp đại học không kiếm được việc làm thích hợp, cuối cùng các cử nhân chỉ chọn được con đường đi làm cu-ly cho nước ngoài. Trong khi ấy với chính phủ 4.0 thì chưa làm nổi một cái ốc vít nhưng… sản xuất được xe đời mới cạnh tranh với Honda, Toyota. Kết luận lại, nếu 3 chữ C của nền giáo dục Việt Nam được diễn giải đúng với thực tế thì không thể nói gì khác hơn là: Chạy Điểm – Chạy Chức – Chạy Trường, nền tảng của sự tụt hậu mọi mặt. Phạm Nhật Bình  
......

“Chó già giữ xương, Trọng già giữ chức!”

Nguyễn Văn Đài  Hàng năm vào dịp kỷ niệm cái gọi là “Cách mạng tháng Tám năm 1945” thì những người cầm đầu của đảng CS bao giờ cũng tổ chức vào viếng lăng HCM và mít tinh khá hoành tráng. Năm nay, hoàn toàn không thấy các cơ quan truyền thông báo chí của cộng sản đưa tin hay đả động đến. Hỏi thăm một số nguồn tin trong nước thì được biết Nguyễn Phú Trọng tuy đã phục hồi được phần nào sức khỏe, nhưng ông ta không dám tham dự các sự kiện ngoài trời, các sự kiện đông người và kéo dài vì sợ tái đột quỵ. Như vậy chỉ vì sức khỏe của cá nhân Nguyễn Phú Trọng mà ông ta cũng sẵn sàng hủy bỏ mọi hoạt động tưởng niệm, kỷ niệm truyền thống của người cộng sản. Sáng nay 20 tháng 8, họp Ban bí thư trung ương sơ kết 3 năm thực hiện chỉ thị 05/BCT, Nguyễn Phú Trọng cũng vắng mặt. Tham dự Hội nghị có Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng, … Có thể nói Nguyễn Phú Trọng giờ đây sức tàn lực kiệt, nhưng vẫn cố ngồi ôm, giữ hai ghế mà không chịu buông cho những kẻ khác trong đảng. Các cụ ta đã tổng kết cấm có sai: “chó già giữ xương!” Ngày nay, chúng ta có nói: “chó già giữ xương, Trọng già giữ chức”
......

Pages